BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN MINH PHÚC
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ BẮC GIANG,
TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2011 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc. Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Phúc Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất 4
1.1.1 Quyền sở hữu về đất đai 4
1.1.2 Quyền sử dụng đất 4
1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền sở hữu về đất đai và quyền sử dụng đất 5
1.2 Hệ thống đăng ký đất đai 6
1.2.1 Khái quát chung về hệ thống đăng ký đất đai 6
1.2.2 Hệ thống đăng ký đất đai của một số nước trên thế giới 12
1.2.3 Hệ thống đăng ký đất đai tại Việt Nam 17
1.3 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất 21
1.3.1 Cở sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐKQSDĐ 21
1.3.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký QSD đất 22
1.3.3 Hiện trạng Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở nước ta 25
1.3.4 Đánh giá chung 30
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.4.5 Đánh giá về chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc 73
3.4.6 Các khoản phí, lệ phí 74
3.4.7 Đánh giá chung mức độ hài lòng của người dân 76
3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bắc Giang 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.5.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất thành phố Bắc Giang 78
3.5.2 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bắc Giang 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 BĐS Bất động sản
2 BTC Bộ Tài chính
3 BNV Bộ Nội vụ
4 BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
5 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
6 CNTT Công nghệ thông tin
7 ĐKĐĐ Đăng ký đất đai
tại địa bàn các phường, xã được chọn điều tra 34
3.1 Hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2011-2013 44
3.2 Tình hình nhân lực của VPĐK thành phố Bắc Giang 47
3.3 Kết quả cấp GCNQSD đất lần đầu giai đoạn 2011 - 2013 51
3.4 Kết quả cấp giấy chứng nhận lần đầu chia theo loại hồ sơ 52
3.5 Tình hình hồ sơ yêu cầu bổ sung 53
3.6 Tình hình hồ sơ trả lại không đủ điều kiện cấp GCN 54
3.7 Kết quả giải quyết hồ sơ đăng ký biến động đất đai 55
3.8 Kết quả giải quyết hồ sơ chia theo hình thức biến động 56
3.9 Tình hình lập, chỉnh lý các loại Sổ 58
3.10 Tình hình lập bản đồ địa chính 59
3.11 Tình hình quản lý, sử dụng Bản đồ địa chính 60
3.12 Tình hình cập nhật chỉnh lý biến động trên địa bàn thành phố Bắc
Giang giai đoạn 2011 – 2013 61
3.13 Tình hình kinh phí hoạt động của VPĐKQSDĐ 62
3.14 Tình hình thu phí, lệ phí của VPĐKQSDĐ từ giải quyết thủ tục hành
chính theo cơ chế một cửa 63
3.15 Kết quả thu phí, lệ phí từ hoạt động dịch vụ công 64
3.16 Tình hình ứng dụng phần mềm tại VPĐK 65
3.17 Kết quả đánh giá của người sử dụng đất về điều kiện cơ sở vật chất,
ứng dụng CNTT của VPĐK 69
3.18 Đánh giá về mức độ công khai thủ tục hành chính 70
3.19 Đánh giá về thái độ khi phục vụ của cán bộ VPĐK 71
3.20 Đánh giá về thời gian giải quyết công việc của VPĐK 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
3.21 Đánh giá về chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc của VPĐK 73
3.22 Đánh giá các chi phí ngoài phí, lệ phí phải nộp theo quy định 75
3.23 Đánh giá về mức phí, lệ phí phải nộp theo quy định 76
đai có một vị trí đặc biệt đối với con người, xã hội, dù ở bất kì quốc gia nào và
chế độ nào. Không một quốc gia nào không có lãnh thổ, không có đất đai của
mình, nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia. Dù ở đâu hay làm
gì, thì các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người đều là trên đất đai. Bởi
thế, đất đai luôn được coi là vốn quý của xã hội, và luôn được chú tâm gìn giữ và
phát huy tiềm năng từ đất. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, người sử dụng đất chỉ được thực hiện
các quyền năng sau khi đã được Nhà nước công nhận thông qua hoạt động cấp
Giấy chứng nhận, đồng thời các giao dịch về quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực
pháp lý sau khi có sự đồng ý (chấp thuận) của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thông qua việc chỉnh lý hồ sơ địa chính. Do vậy, đăng ký quyền sử dụng đất
được hiểu là một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước trong
lĩnh vực đất đai, đồng thời cũng là một quyền đầu tiên mà bất cứ người sử dụng
đất hợp pháp nào cũng được hưởng. Từ sau khi ra đời, Luật Đất đai (2003) đã trở
thành là một trong những đạo luật quan trọng, thu hút được sự quan tâm của toàn
xã hội. Luật đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo bước tiến lớn trong việc hoàn
thiện chính sách pháp luật về đăng ký đất đai, sự ra đời và phát triển của hệ thống
cơ quan dịch vụ công về đăng ký đất đai (Văn phòng Đăng ký QSD đất) là điểm
đột phá. Sau hơn 10 năm thực hiện Luật Đất đai, cùng với thành tựu công nghệ
thông tin được ứng dụng trong công tác đăng ký đất đai, cải cách hành chính theo
cơ chế một cửa, một cửa liên thông, hoạt động của Văn phòng Đăng ký QSD đất
đã dần đi vào nề nếp và đạt những kết quả đáng ghi nhận.
Ngày 29/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII đã chính thức
thông qua Luật Đất đai (2013), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014 với
nhiều điểm mới (quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
thông tin đất đai cho người dân, hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai, thủ tục
hành chính và các dịch vụ công về đất đai…) phù hợp với các quan điểm, định
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Đánh giá thực trạng hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2.2. Yêu cầu
- Các số liệu điều tra, thu nhập phải đảm bảo độ chính xác, tin cậy.
- Đề tài phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất
1.1.1. Quyền sở hữu về đất đai
Điều 17, Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 khẳng định: đất
đai thuộc sở hữu toàn dân; Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch
và pháp luật. Luật Đất đai (2003) quy định các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất
đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch, pháp luật. Luật Đất đai (2003) đã quy định về chế độ sở hữu đất đai, quản
lý Nhà nước về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai và thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền
đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý Nhà nước về đất
đai, Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu, đó là: quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Luật đất đai (2013) tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Luật Đất đai (2013) đã quy
và vừa là nghĩa vụ. (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)
1.1.3. Mối quan hệ giữa quyền sở hữu về đất đai và quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng đất
đai là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho
thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng
đất; Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng
đất đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ. Tính không trọn vẹn,
không đầy đủ của quyền sử dụng đất thể hiện ở các khía cạnh sau: Người sử
dụng đất không có đầy đủ các quyền như Nhà nước với tính cách là đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai; Không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất
hợp pháp cũng có quyền chuyển quyền.
Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên
quyền sử dụng đất được hình trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Điều
này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài. Tuy nhiên, do pháp luật cho phép
người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm các quyền chung)
nên quyền sử dụng đất tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
quyền tương đối độc lập so với quyền sở hữu. Quyền sử dụng đất được tham gia
vào các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn
dân về đất đai và quyền sử dụng đất vẫn có sự khác nhau và chúng ta không thể
đồng nhất giữa hai loại quyền này. (Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Xuân
Trọng, 2010)
1.2. Hệ thống đăng ký đất đai
1.2.1. Khái quát chung về hệ thống đăng ký đất đai
1.2.1.1. Sự cần thiết của hệ thống đăng ký đất đai
Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hoá tinh
thần, vai trò của đất đai là không thể phủ nhận và không thể thiếu. Theo đó, việc
toạ độ bản đồ.
- Yếu tố pháp lý thể hiện sự xác lập và thừa nhận quyền sử dụng đối với
một hoặc một số diện tích nhất định của cá nhân hay tổ chức nào đó. Để được
thừa nhận và pháp luật bảo vệ người sử dụng đất phải có trách nhiệm đăng ký với
nhà nước nhằm xác lập quyền sử dụng của mình đối với những diện tích đất đai
xác định. Việc đăng ký có thể tiến hành từ thời điểm ban đầu thửa đất được tạo
lập hoặc diễn ra khi có sự biến động trong quá trình sử dụng đất. Việc đăng ký
giúp Nhà nước nắm chắc tình hình sử dụng và biến động của đất đai, phục vụ
hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước.
- Định giá đất đai là yếu tố thứ ba cần thiết phải có trong hệ thống thông
tin đất đai được đăng ký. Nó thể hiện phương diện giá trị của diện tích đăng ký,
góp phần củng cố và làm phong phú thông tin đất đai. Đây là hoạt động phổ biến
do Nhà nước tiến hành nhằm hỗ trợ cho việc thu thuế của Nhà nước. Kết quả của
hoạt động định giá được ghi nhận trong hệ thống đăng ký đất đai thể hiện qua
những thông tin về giá trị bằng tiền của thửa đất.
- Mục đích sử dụng đất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc định
giá đất đai bởi nó quyết định giá trị kinh tế của đất đai. Sự thay đổi trong mục
đích sử dụng đất sẽ dẫn đến sự thay đổi giá trị thị trường của nó, đồng thời cũng
làm thay đổi nguồn thu phát sinh từ thuế đất. (Đặng Anh Quân, 2011)
1.2.1.3. Lợi ích của hệ thống đăng ký đất đai
- Đối với chủ thể sử dụng đất và các chủ thể liên quan: Lợi ích đầu tiên
được thể hiện rõ ràng là sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
đất đối với một diện tích xác định. Bởi vì dữ liệu đăng ký thể hiện chủ quyền chỉ
của duy nhất một người thì chỉ người đó mới có thể định đoạt đối với quyền sử
dụng và những lợi ích trên đất, và quyền lợi của họ sẽ được Nhà nước đảm bảo
trước sự xâm phạm của chủ thể khác. Đăng ký đất đai còn cung cấp một sự bảo
vệ phù hợp cho tất cả những người liên quan đối với thửa đất không phải chủ sử
là: thủ tục đăng ký không phức tạp, rườm rà, thời gian nhanh chóng, thành phần
hồ sơ đơn giản, thông tin đăng ký dễ tiếp cận; hệ thống lưu trữ thông tin được sắp
xếp, lưu trữ và thể hiện kết cấu đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng.
- Sự triệt để, kịp thời: Mọi trường hợp sử dụng đất cũng như những biến
động trong việc sử dụng đất phải được ghi nhận một cách chính xác, kịp thời
ngay khi việc sử dụng đất được bắt đầu hoặc ngay sau khi biến động sử dụng đất
diễn ra. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải chủ động trong các hoạt động quản lý về
quy hoạch, đo đạc bản đồ, thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng
nhận QSD đất, xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai.
- Sự công bằng và dễ tiếp cận: Đây là yêu cầu đặt ra đối với việc sử dụng
dữ liệu thông tin thu được từ hoạt động của hệ thống đăng ký, bởi lẽ những thôn
tin này có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người sử dụng đất. Thông tin về
đất đai phải được công bố, công khai và công bằng trong việc tiếp cận thông tin
của tất cả người có nhu cầu. Điều này rất có vai trò lớn trong việc phát triển hoạt
động dịch vụ công về đất đai.
- Chi phí thấp: Chi phí thấp được đề cập ở đây bao gồm chi phí mà Nhà
nước đầu tư cho hệ thống đăng ký và khoản thu phí mà khách hàng phải trả khi
sử dụng các dịch vụ từ hệ thống đăng ký đất đai. Tuy nhiên trên thực tế yêu cầu
này là rất khó đạt được bởi vì chi phí đầu tư để xây dựng ban đầu, chi phí thường
xuyên để duy trì hoạt động của hệ thống đăng ký đất đai là rất lớn, trong khi đó,
kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước là có hạn, các khoản thu phí từ
hoạt động dịch vụ còn hạn chế. Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của hệ thống đăng ký đất đai của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
(Đặng Anh Quân, 2011)
1.2.1.5. Hệ thống đăng ký đất đai phát triển
a. Mục đích của việc xây dựng đăng ký đất đai phát triển:
Hệ thống đăng ký đất đai phát triển là thành phần quan trọng của hệ thống
quản lý đất đai phát triển (bao gồm thành phần: hệ thống lập bản đồ địa chính đa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
lợi cho người đăng ký với số lượng thủ tục ít nhất, thời gian ít nhất và chi phí ít
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
nhất. Nhiều thủ tục đăng ký có thể thực hiện ngay trên mạng mà người đăng ký
không phải đến cơ quan đăng ký. Nâng lên mức cao hơn, cơ quan đăng ký cần
phải trả lời người đăng ký bất kỳ lúc nào là hồ sơ đăng ký đang được giải quyết ở
thủ tục nào và do bộ phận nào giải quyết. Đây chính là những yêu cầu nhằm thu
hút người dân sử dụng hệ thống đăng ký đã xây dựng nên.
c. Yêu cầu của việc xây dựng đăng ký đất đai phát triển:
Hệ thống đăng ký đất đai và tài sản gắn liền chính là cầu nối giữa hệ thống
quản lý đất đai và người sử dụng đất. Do vậy, việc xây dựng hệ thống đăng ký
đất đai phát triển phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Các cơ quan đăng ký đất đai cũng đã trở thành các tổ chức dịch vụ công
độc lập, không thuộc các cơ quan quản lý nhà nước.
+ Các tổ chức đăng ký đất đai có hai chức năng chủ yếu: một là thực hiện
chức năng ghi nhận thông tin đăng ký để bảo đảm các quyền về bất động sản; hai
là cung cấp thông tin cho công chúng về đất đai, tài sản trên đất, chủ sở hữu bất
động sản và các giao dịch bất động sản; cả hai chức năng này đều có thu phí để
các tổ chức này bảo đảm tự trang trải về tài chính.
+ Các tổ chức này được độc quyền thực hiện dịch vụ đăng ký và cung cấp
thông tin theo mức phí do chính phủ quy định; tất nhiên, chính phủ thường buộc
các cơ quan này phải giảm dần mức phí đăng ký bất động sản (do được độc
quyền thực hiện); để đáp ứng yêu cầu này, các tổ chức đăng ký đất đai cũng phải
áp dụng công nghệ mới để tăng hiệu suất hoạt động.
+ Do các hoạt động của thị trường bất động sản ngày càng phát triển, nhu
cầu giao dịch tăng cao và nhu cầu thông tin cũng tăng cao nên nguồn thu tăng lên
mặc dù mức thu ngày càng giảm; hiện nay, ở nhiều nước nguồn thu của các tổ
chức đăng ký đất đai đã cho phép tái đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả
hoạt động và cuối cùng là tăng thu lên mức khá cao.
phần đầu tư của chính quyền bang và chuyển dần sang cơ chế tự trang trải chi
phí. Robert Richard Torrens là người lần đầu tiên đưa ra khái niệm về Hệ thống
đăng ký bằng khoán vào năm 1857 tại Bang Nam Úc, sau này được biết đến là
Hệ thống Torren. Robert Richard Torrens, sau đó đã góp phần đưa hệ thống này
vào áp dụng tại các Bang khác của Úc và New Zealand, và các nước khác trên
thế giới như Ai Len, Anh. Ban đầu Giấy chứng nhận được cấp thành 2 bản, 1 bản
giữ lại Văn phòng đăng ký và 1 bản giao chủ sở hữu giữ. Từ năm 1990, việc cấp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
GCN dần chuyển sang dạng số. Bản gốc của GCN được lưu giữ trong hệ thống
máy tính và bản giấy được cấp cho chủ sở hữu. Ngày nay, tại Văn phòng GCN,
người mua có thể kiểm tra GCN của BĐS mà mình đang có nhu cầu mua.
Những đặc điểm chủ yếu của Hệ thống Đăng ký đất đai và bất động sản
của Úc gồm: GCN được đảm bảo bởi Nhà nước; Hệ thống đăng ký đơn giản, an
toàn và tiện lợi; Mỗi trang của sổ đăng ký là một tài liệu duy nhất đặc trưng cho
hồ sơ hiện hữu về quyền và lợi ích được đăng ký và dự phòng cho đăng ký biến
động lâu dài; GCN đất là một văn bản được trình bày dễ hiểu cho công chúng; Sơ
đồ trích lục thửa đất trong bằng khoán có thể dễ dàng kiểm tra, tham khảo; Giá
thành của hệ thống hợp lý, tiết kiệm được chi phí và thời gian xây dựng; Hệ
thống được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, dễ dàng cập
nhật, tra cứu, đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng. (BTNMT, 2012)
1.2.2.2. Anh:
Hệ thống đăng ký đất đai của Anh là hệ thống đăng ký bất động sản (đất
đai và tài sản khác gắn liền với đất) tổ chức đăng ký theo một hệ thống thống
nhất có Văn phòng chính tại Luân Đôn và 14 văn phòng khác phân theo khu vực
(địa hạt) phân bổ đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Anh Quốc và Xứ Wales. Mọi
hoạt động của hệ thống đăng ký hoàn toàn trên hệ thống máy tình nối mạng theo
một hệ thống thống nhất (chỉ nối mạng nội bộ để bảo mật dữ liệu). Toàn bộ hệ
thống đăng ký từ hệ thống đăng ký thủ công trên giấy sang hệ thống đăng ký tự
được bất kì các yếu tố nào có liên quan như khế ước, thế chấp hợp đồng chuyển
nhượng hoặc yếu tố có ảnh huởng đến quyền lợi đất đai; Phía bán đất phải thừa
nhận hợp đồng mua bán qua công chứng, cung cấp điều kiện để ngăn chặn giả
mạo; về mặt thao tác thì người mua đất hoặc đại diện của mình theo hợp đồng,
khế ước nộp cho nhân viên đăng ký huyện để vào sổ đăng ký, tiến hành chụp khế
ước và xếp theo thứ tự thời gian. Đăng ký chứng thư của Mỹ có mục tiêu "tránh
những vụ chuyển nhượng có tính gian lận, để đảm bảo cho bất kỳ người nào
muốn thực hiện giao dịch cũng có thể biết có những quyền tài sản và lợi ích nào
thuộc về hoặc liên quan tới mảnh đất hoặc ngôi nhà cụ thể". Việc đăng ký văn tự
giao dịch được triển khai lần đầu tiên theo Luật Đăng ký của Mỹ năm 1640 và đã
được phát triển ra toàn Liên bang.