BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = =
= = =
NGUYỄN ĐỨC VŨ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
PHẾ THẢI ĐỒNG RUỘNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI
HUYỆN VĂN LÃNG – TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu
trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Đức Vũ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng phế thải đồng
ruộng và đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường tại huyện Văn Lãng –
tỉnh Lạng Sơn”, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự chỉ
bảo và giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS. Nguyễn Xuân Thành. Em xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo PGS. TS.Nguyễn Xuân Thành.
Danh mục viết tắt 1
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan về phế thải 3
1.1.1 Khái niệm, thuật ngữ về phế thải đồng ruộng 3
1.1.2. Thực trạng phế thải đồng ruộng trên thế giới và Việt Nam 7
1.2. Ảnh hưởng của phế thải đồng ruộng đến môi trường 8
1.3. Cơ sở khoa học của việc quản lý và xử lý phế thải đồng ruộng 9
1.3.1. Cơ sở khoa học và các kết quả nghiên cứu về xử lý phế thải
hữu cơ bằng công nghệ vi sinh vật 10
1.4. Các hình thức xử lý phế thải đồng ruộng ở một số nước trong khu
vực và ở Việt Nam 13
1.4.1. Phương pháp chôn lấp 14
1.4.2. Phương pháp đốt 14
1.4.3. Phương pháp sinh học 14
1.5. Lợi ích của quản lý và xử lý phế thải đồng ruộng 22
1.5.1. Lợi ích về mặt kinh tế 22
Chương II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.1. Đối
tượng
và
nghiên
cứu
26
2.3.1. Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu 26
2.3.2. Phương pháp tính toán khối lượng phế thải đồng ruộng 27
2.3.3. Phương pháp so sánh 27
2.3.4. Phương pháp chuyên gia, tham vấn ý kiến cộng đồng 27
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng
Sơn 28
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2. Các nguồn tài nguyên 32
3.1.3. Thực trạng môi trường 34
3.1.4. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 35
3.1.5. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 40
3.1.6. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 41
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.1.7. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên,kinh tế, xã hội và môi
trường 43
3.2 Tình hình phát triển nông nghiệp huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 45
3.2.1 Hiện trang sử dụng đất 45
3.3. Thực trạng phế thải đồng ruộng huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 50
3.3.1. Khối lượng, thành phần phế thải đồng ruộng khu vực nghiên
cứu 50
3.3.2. Khối lượng, thành phần phế thải đồng ruộng huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn 51
3.4 Thành phần các dân tộc trên địa bàn huyện năm 2014 40
3.5 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Văn Lãng 45
3.6 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Lãng, năm 2014 47
3.7 Diện tích, năng suất sản lượng một số loại cây trồng chính huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 48
3.8 Thành phần, khối lượng phế thải đồng ruộng 50
3.9 Thành phần, khối lượng, tỉ lệ phế thải nông nghiệp hữu cơ huyện
Văn Lãng 51
3.10 Thành phần khối lượng phế thải nông nghiệp phi hữu cơ huyện
Văn Lãng 52
3.11 Khối lượng phế thải nông nghiệp huyện Văn Lãng 2014 53
3.12 Tình hình thu gom và phân loại phế thải đồng ruộng 54
3.13 Đánh giá của nông hộ về biện pháp xử lý phế thải nông nghiệp 57
3.14 Mức độ tuyên truyền, giáo dục cộng đồng ở địa phương về bảo
vệ môi trường 58
3.15 Dự kiến biến động trong sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn
Lãng đến năm 2020 60
3.16 Dự báo khối lượng phế thải nông nghiệp tại huyện Văn Lãng
năm 2020 61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT Tên sơ đồ Trang
1.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn nông nghiệp 3
1.2 Các phương pháp xử lý chất thải hữu cơ có nguồn gốc thực vật,
động vật 13
1.3 Quy trình sản xuất phân hữu cơ sinh học từ rác thải hữu cơ của
Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nổi bật trên lĩnh vực nông nghiệp
.
Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2013 (tốc độ tăng trưởng GDP toàn
ngành đạt 2,67%, tương đương mức tăng của năm 2012 (2,68%), trong đó:
trồng trọt tăng 2,6%, Sản lượng lúa đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338 nghìn tấn
(0,8%) so với năm trước. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
(theo giá so sánh 2010) ước đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với
2012, trong đó: Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%. Mặc
dù, tốc độ tăng trưởng GDP và giá trị sản xuất toàn ngành thấp hơn mức
tăng của năm 2012 (3,4%), nhưng được đánh giá là mức tăng trưởng khá
trong bối cảnh có nhiều khó khăn cả trong và ngoài nước. Tổng kim
ngạch xuất khẩu toàn ngành cả năm ước đạt 27,5 tỷ USD, tăng 0,7% so
với năm 2012, thặng dư thương mại đạt hơn 8,5 tỷ USD.
Nhưng
đi đôi với
những thành tựu đó là quá trình phát sinh những phế phẩm nông nghiệp ra
môi trường, do còn nhiều hạn chế trong việc xử lý những phế phẩm này
nên ở nhiều địa phương chất lượng môi trường bị ảnh hưởng. (Báo cáo
tổng kết ngành nông nghiệp và PTNT 2013. (2013) Tổng cục thủy lợi truy
cập ngày 11/2/2014 từ />ket-nganh-Nong-nghiep-va-PTNT-nam-2013/31146.news)
Mặt khác, qua hoạt động sản xuất nông nghiệp, con người đã lấy đi khỏi
đất hàng tỷ tấn vật chất mỗi năm thông qua sinh khối cây trồng. Điều này làm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
phá vỡ chu trình vận chuyển vật chất trong tự nhiên, do lượng vật chất bị lấy
đi thì rất lớn nhưng lượng bổ sung thì không đáng kể. Đất dần dần mất đi khả
năng sản xuất dẫn đến thoái hoá, bạc màu.
Văn Lãng là một huyện biên giới của Tỉnh Lạng sơn, với đặc thù là
1.1. Tổng quan về phế thải
1.1.1 Khái niệm, thuật ngữ về phế thải đồng ruộng
1.1.1.1. Khái niệm
Phế thải đồng ruộng là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sản
xuất nông nghiệp ngoài đồng ruộng như trồng trọt, thu hoạch : Rơm rạ, thân
lá thực vật, bao bì đựng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật…
1.1.1.2. Nguồn gốc
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn đồng ruộng từ nhiều nguồn khác
nhau và được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1. Các nguồn phát sinh chất thải rắn nông nghiệp
Phế thải đồng ruộng phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như trong quá
trình trồng trọt, thu hoạch nông sản, quá trình sử dụng thuốc BVTV, quá trình
bón phân, kích thích sinh trưởng. Trong quá trình trồng trọt, phế thải đồng
Trồng trọt
(thực vật
chết, tỉa
cành, làm
cỏ…)
Thu hoạch
nông sản
(rơm rạ, trấu,
cám, thân lõi
ngô…)
Bảo vệ TV,
ĐV (chai lọ
đựng hóa
chất BVTV)
Quá trình
sâu, túi đựng hóa chất nông nghiệp, phân bón).
• Theo thành phần cấu tạo
Đặc điểm lớn nhất của phế thải đồng ruộng (phần lớn) là thành
phần cấu tạo của chúng chủ yếu là các hợp chất hữu cơ cao phân tử mà
trước hết là Xenluloza, Hemixenluloza và Lignin. Các chất này chiếm tỷ
lệ cao nhất, thông thường khoảng 40 – 50%, đôi khi đến 70 – 80%. (Lê
Văn Nhương và cs., 1998).
Xenluloza trong phế thải đồng ruộng: Xenluloza là thành phần chủ
yếu trong tế bào thực vật, chiếm tới 50% tổng số hydratcacbon trên trái đất.
Trong vách tế bào thực vật, xenluloza tồn tại trong mối liên kết chặt chẽ với
các polisaccarit khác, hemixenluloza, pectin và lignin tạo thành liên kết bền
vững. Hàm lượng xenluloza trong các chất khác nhau rất khác nhau, trong
giấy là 61%, trấu là 31%. (Lê Văn Nhương và cs.,1998).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Hemixenluloza trong phế thải đồng ruộng: Hemixenluloza có khối
lượng không nhỏ, chỉ đứng sau xenluloza trong tế bào thực vật, chúng được
phân bố ở vách tế bào. Hemixenluloza có bản chất là polisaccarit bao gồm
khoảng 150 gốc đường liên kết với nhau bằng cầu nối β-1,4 glucozit; β-1,6
glucozit và thường tạo thành mạch nhánh ngắn có phân nhánh. (Lê Văn
Nhương và cs., 1998).
Lignin trong phế thải đồng ruộng: Lignin là những hợp chất có thành
phần cấu trúc rất phức tạp, là chất cao phân tử được tạo thành do phản ứng
ngưng tụ từ 3 loại rượu chủ yếu là trans-P-cumarynic; trans-connyferynic;
Trans-cynapylic. Lignin khác với xenluloza và hemixenluloza ở chỗ hàm
lượng cacbon tương đối nhiều, cấu trúc của lignin còn có nhóm methoxyl (-
OCH
3
) liên kết với nhau bằng liên kết (C-C) hay (C-O) trong đó phổ biến là
đạm, phân lân và kể cả các HCBVTV đã quá hạn sử dụng… Đây là các vật
phẩm có tính nguy hại cao, cần phải có biện pháp thu gom và xử lý thích hợp.
Theo tính chất nguy hại: Phế thải đồng ruộng gồm hai loại: phế thải
nguy hại và phế thải thông thường.
Phế thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc các hợp chất gây
nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại gián tiếp tới
môi trường và sức khỏe con người. Chúng có một trong các thành phần như: đồ
dùng thủy tinh (chai lọ đựng HCBVTV hoặc thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng,
bả chuột; …); đồ nhựa (bình xịt hóa chất bảo vệ thực vật, găng tay bảo hộ…);
dược phẩm (thuốc còn sót lại trong vỏ đựng…). Nếu những chất thải này không
được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người.
Phế thải thông thường gồm các chất thải không chứa các chất và hợp
chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi
trường và sức khỏe con người, bao gồm rơm rạ, thân lá thực vật,…Trong thực
tế, sự phân biệt giữa phế thải đồng ruộng nguy hại và thông thường là tương
đối phức tạp và khó khăn, đặc biệt đối với tình hình sản xuất nông nghiệp
manh mún nhỏ lẻ như ở nước ta hiện nay.
Theo thành phần hóa học: phế thải đồng ruộng còn được phân thành
phế thải hữu cơ và phế thải vô cơ.
Phế thải hữu cơ chiếm thành phần chủ yếu trong phế thải đồng ruộng,
bao gồm các phế phụ phẩm trồng trọt như: rơm rạ, thân ngô, lõi ngô, trấu, bã
mía… Theo thống kê, 95% lượng chất thải rắn hữu cơ trong nông nghiệp có
khả năng tận dụng làm phân bón hoặc thu hồi nhiệt lượng.
Phế thải vô cơ bao gồm các túi đựng phân hóa học, túi đựng thuốc trừ
sâu, bảo vệ thực vật, chai lọ đựng thuốc trừ sâu, bình phun hóa chất bảo vệ
mùa màng đã hỏng…
Theo khả năng phân hủy sinh học: Phế thải đồng ruộng còn được
phân thành chất có khả năng và không có khả năng phân hủy sinh học.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Bảng 1.1. Thành phần chất thải trong trồng trọt
(Phế phụ phẩm phát sinh để thu được 1 tấn nông sản sau thu hoạch)
Tên nông sản Phế phụ phẩm Khối lượng (kg)
Lúa
Rơm, rạ 4000 – 6000
Cám 150
Trấu 200
Ngô
Thân, lá cây 2100 – 2350
Vỏ, lõi, râu ngô 500
( Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thùy Dương, 2012)
Theo kết quả tính toán này thì lượng phế thải của ngành nông nghiệp là
rất lớn, đặc biệt là cây lúa chỉ tính riêng cho lượng rơm rạ đã lên đến 4000 –
6000 kg/ 1 tấn nông sản, chiếm 80 – 85 % về khối lượng.
Trên đây mới chỉ là kết quả tính toán cho một số loài cây lương thực
chủ yếu như lúa, ngô… Ngoài ra, trên thế giới và Việt Nam, hàng năm còn có
một diện tích rất lớn trồng các loại cây trồng khác như cà phê, chè, cao su,
mía đường, lạc, đậu, rau… cũng để lại một lượng phế thải đáng kể.
1.2. Ảnh hưởng của phế thải đồng ruộng đến môi trường
Theo các số liệu thống kê ở trên cho thấy lượng phế thải do hoạt động
nông nghiệp để lại hàng năm là rất lớn. Nếu lượng phế thải này không được
xử lý, quản lý chặt chẽ thì nó sẽ làm nảy sinh một số vấn đề như ảnh hưởng
đến môi trường đất, môi trường nước, không khí và sức khỏe cộng đồng.
Tác động của phế thải đồng ruộng tới môi trường đất là không đáng kể
vì thành phần của chúng chủ yếu là chất hữu cơ có tác dụng tốt đối với đất và
cây trồng.
Tác động của phế thải đồng ruộng tới môi trường nước là việc các loại
chất thải nguy hại không được thu gom hợp lý bị rửa trôi gây ô nhiễm môi
Thông qua những tác động trực tiếp đến môi trường, gây ảnh hưởng
xấu đến môi trường và gây ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe của người dân
như gây ra các bệnh về hô hấp, tiêu hóa…Vì vậy, cũng cần có các biện pháp
xử lý, quản lý thích hợp vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa giảm thiểu được
các tác động xấu tới môi trường.
1.3. Cơ sở khoa học của việc quản lý và xử lý phế thải đồng ruộng
Cũng như các quy trình về quản lý và xử lý các loại phế thải trong các
lĩnh vực khác, việc quản lý và xử lý phế thải nông nghiệp cũng dựa trên nền
tảng những hiểu biết của con người về vật chất, các quá trình phân hủy, lên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
men của những vật chất có trong thành phần của phế thải để đưa ra các
phương pháp quản lý và xử lý có hiệu quả. Trong những thập kỷ gần đây với
sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và những hiểu biết của con người về các
quá trình phân hủy trong tự nhiên việc xử lý các dạng phế thải nói chung và
phế thải nông nghiệp nói riêng đang được ưu tiên xử lý bằng phương pháp
sinh học và thân thiện với môi trường, vì vậy trong khuôn khổ luận văn xin
chỉ trình bày về cơ sở khoa học của việc xử lý phế thải nông nghiệp bằng
phương pháp sinh học
1.3.1. Cơ sở khoa học và các kết quả nghiên cứu về xử lý phế thải hữu cơ
bằng công nghệ vi sinh vật
Từ lâu, con người đã nhận thức được tầm quan trọng của VSV đối với
con người và trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhờ khả năng kỳ diệu
của VSV trong quá trình tổng hợp, phân giải các hợp chất đã góp phần tích
cực vào việc khép kín vòng tuần hoàn các vật chất trong tự nhiên, trong đó có
vòng tuần hoàn C và N.
Việc tích lũy trong môi trường ngày càng nhiều chất ô nhiễm, đòi hỏi phải
tăng cường quá trình phân giải, chuyển hóa các chất ô nhiễm này nhờ VSV, đặc
biệt là các hợp chất khó phân hủy như xenluloza, hemixenluloza, lignin, …
(Coughlan, M.P. and M.A.Folan. 1979)
Các vi khuẩn hiếu khí cũng có khả năng phân giải xenluloza khá mạnh
như Cellulomonas, Vibrio, Aschomobacter. Niêm vi khuẩn cũng có khả năng
này, đáng chú ý là Cytophaga, Sporocytophaga và Soragium.
Trong điều kiện yếm khí các vi khuẩn ưa ấm mạnh và ưa nhiệt thuộc
giống Bacillus và Clostridium cũng có khả năng phân giải xenluloza.
Trong tự nhiên ngoài nấm sợi và vi khuẩn, xạ khuẩn cũng có hoạt tính
phân giải Xenluloza cao, đáng chú ý là Streptomyces, Actinomyces, Nocardia,
Mycromonospora.( Lutzen, N.V., M.H Nielson., 1983)
Năm 1946, Hugater đã phân lập được loài xạ khuẩn Mycromonospora
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
có khả năng thủy phân xenluloza cao, nuôi cấy Thermonospora curyata trên
môi trường chứa xenluloza và cao nấm men có bổ sung 0,1% bong nghiền
nhỏ, thì thấy chúng có khả năng tích lũy enzim phân hủy xenluloza.
Veiga và các cộng sự đã phân lập được 36 chủng xạ khuẩn từ bùn ở
vịnh Lacoruva (Tây Ban Nha), trong đó có 19 chủng có khả năng tổng hợp
Xenluloza và sinh trưởng tốt trong môi trường có chứa 3,5% NaCl.
Từ thế kỷ 19 các nhà khoa học đã nghiên cứu và nhận thấy một số VSV
kỵ khí có khả năng phân giải xenluloza. Những năm đầu của thế kỷ XX người
ta phân lập được các loài vi khuẩn hiếu khí cũng có khả năng này. Trong các
vi khuẩn hiếu khí phân giải xenluloza thì niêm vi khuẩn là quan trọng nhất.
Jei và cộng sự thấy trong đống ủ có các loài vi khuẩn phân giải xenluloza sau:
Acteromobacter, Clostridium, Cellulomonas, Cytophaga, Cellvibrio, Bacillus,
Pseudomonas, Sorangium, Sporocytophaga,…
Ở Cuba người ta nghiên cứu thành công trong phạm vi thí nghiệm sử
dụng một số loài vi khuẩn có khả năng phân giải xenluloza thuộc giống
Cellulomonas để chế biến thành công những chế phẩm có sinh khối vi khuẩn
giàu protein và giàu vitamin.
Sau đây là 3 phương pháp điển hình thường được áp dụng hiện nay
nhiều trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Phương pháp chôn lấp
Chôn lấp là phương pháp xử lý khá lâu đời, cổ điển và đơn giản nhất.
Phương pháp này tốn ít kinh phí nhưng thời gian phân hủy lâu dài, tốn diện
tích bề mặt và khó kiểm soát chất thải theo nước rỉ ra từ các hố phế thải, các
chất này rất độc hại. Đối với phế thải đồng ruộng, phương pháp này chỉ được
sử dụng để xử lý cho lượng phế thải đồng ruộng nguy hại như bao bì, chai, lọ
đựng thuốc diệt cỏ, HCBVTV… Hiện nay, đã có nhiều công ty nước ngoài
giới thiệu các vật liệu phủ dưới đáy và xung quanh các hố có chôn phế thải rất
có hiệu quả trong việc kiểm soát các vấn đề này.
1.4.2. Phương pháp đốt
Đây là biện pháp được xử lý khá phổ biến trong xử lý phế thải đồng
ruộng hiện nay, do lượng phế thải quá nhiều và rất dễ cháy. Phương pháp này
vốn được người dân Nam bộ sử dụng từ lâu để tiêu hủy lượng rơm rạ trên
đồng ruộng và tro sau quá trình đốt được xem là phân bón. Hiện tượng đốt
phế thải nông nghiệp ngay trên đồng ruộng hiện nay đã lan ra cả những vùng
đồng bằng sông Hồng.
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ làm, giảm giá thành và
giảm thiểu sâu bệnh hại trên đồng ruộng.
Ngoài ra, phương pháp này có nhược điểm là gây mất mát một lượng
lớn chất dinh dưỡng, gây ô nhiễm môi trường không khí rất nghiêm trọng,
gây hiệu ứng nhà kính và các bệnh hô hấp, gây hiện tượng khói mù cản trở
tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông, vừa mất chất hữu cơ.
Vì vậy, trong tương lai gần phương pháp này cần phải được loại bỏ.
1.4.3. Phương pháp sinh học
Hiện nay, phương pháp sinh học để xử lý phế thải là phương pháp tối
ưu nhất, đang được tất cả các nước sử dụng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Phương pháp này dựa trên cơ sở phân hủy yếm khí các chất hữu cơ tự
nhiên như: Xenluloza, Hemixenluloza, Lignin, Protein, tinh bột và các chất
cao phân tử khác. Quá trình này còn được gọi là quá trình lên men metan nhờ
hoạt động của các VSV yếm khí. Các loại VSV này sống hội sinh và phân
hủy các hợp chất hữu cơ trên thành khí CH
4
và CO
2
cùng một số khí khác với
một lượng nhỏ. Trong đó khí CH
4
chiếm tới 65%, đây là phương pháp được
nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước ở châu