đánh giá thực trạng nhiễm vi sinh vật, hóa học và đề xuất biện pháp nhằm kiếm soát các mối nguy này đối với nguyên liệu tôm thẻ và một số loại cá biển sau thu hoạch tại một số tỉnh nam trung bộ - Pdf 25

i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
===  ===
LÊ TUẤN GIANG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHIỄM VI SINH VẬT,
HOÁ HỌC VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT
CÁC MỐI NGUY NÀY ĐỐI VỚI NGUYÊN LIỆU TÔM
THẺ VÀ MỘT SỐ LOẠI CÁ BIỂN SAU THU HOẠCH
TẠI MỘT SỐ TỈNH NAM TRUNG BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Khánh Hòa – 2014

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ NGỌC BỘI

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC
Khánh Hòa – 2014i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả được
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào. Tác giả luận văn Lê Tuấn Giang


LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 4
1.1. TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN THẾ GIỚI 4
1.1.1. Tình hình nuôi tôm thẻ trên thế giới 4
1.1.2. Tình hình khai thác và thương mại thủy sản trên thế giới 4
1.1.3. Xu thế trên thế giới trong tiêu thụ thủy sản 6
1.2. TỔNG QUAN NGÀNH THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM. 7
1.2.1. Nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam 7
1.2.2. Hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản biển 9
1.2.3. Xuất khẩu thủy sản Việt Nam 11
1.3. THỰC TRẠNG NGUỒN LỢI THỦY SẢN VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT,
XUẤT KHẨU THỦY SẢN CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ 15
1.3.1. Thực trạng sản xuất, xuất khẩu thủy sản tỉnh Bình Định 15
1.3.2. Thực trạng sản xuất, xuất khẩu thủy sản tỉnh Khánh Hòa 17
1.3.3. Thực trạng sản xuất, xuất khẩu thủy sản tỉnh Phú Yên: 18
1.3.4. Thực trạng sản xuất, xuất khẩu thủy sản tỉnh Ninh thuận. 20
1.4. VAI TRÒ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM THỜI HỘI
NHẬP TOÀN CẦU, XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ RÀO CẢN KỸ THUẬT 21
1.4.1. Cơ hội, thách thức sau khi hội nhập kinh tế 21
1.4.2. Quản lý sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam thời hội nhập 25
1.4.3.Các quy định của các thị trường và yêu cầu trong kiểm tra chất lượng, an toàn
thực phẩm thủy sản xuất khẩu 27
1.4.4. Một số hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến 28
1.5. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN THỰC
PHẨM TẠI VIỆT NAM 31

trắng nuôi 56
3.1.2. Đánh giá thực trạng lây nhiễm vi sinh vật, dư lượng hóa chất trong một số loại
cá biển sau thu hoạch tại khu vực Nam Trung Bộ. 74
v
3.2.
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN
THỰC PHẨM ĐỐI VỚI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI VÀ CÁ BIỂN KHAI
THÁC TỰ NHIÊN SAU THU HOẠCH TẠI KHU VỰC NAM TRUNG BỘ
93
3.2.1. Đề xuất một số giải pháp kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm đối với tôm
thẻ chân trắng 93
3.2.2. Đề xuất một số giải pháp kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm đối với cá
biển khai thác tự nhiên 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

vi
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

EU : Cộng đồng Châu Âu
ATTP : An toàn thực phẩm
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
NT2MV : Nhuyễn thể 2 mãnh vỏ
XK : Xuất khẩu
TS : Thủy sản
NAFIQAD : Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản
NAFIQAVED : Cục Quản lý Chất lượng An toàn vệ sinh và thú y thủy sản

Qui : Nhóm kháng sinh quinolones
Tri : Trimethoprim
Flo : Flofenicol
Dip : Dipterex
MG
MBV
ĐBSCL
Neg
Pos
ND
KS
HC
VSV
NĐTP : Malachite green/leucomalachite green
: Monodon baculovirus -
Bệnh còi (bệnh gan tụy)
: Đồng bắng sông cửu long
: Âm tính
: Dương tính
: Không phát hiện
: Kháng sinh
: Hóa chất
: Vi sinh vật
: Ngộ độc thực phẩm. viii

Bảng 3.3. Kết quả phân tích hóa chất ở tôm thẻ chân trắng nuôi tại các tỉnh Nam Trung
Bộ từ 2011÷2013 66
Bảng 3.4. Kết quả phân tích vi sinh vật và phóng xạ ở tôm thẻ chân trắng nuôi tại các
tỉnh Nam Trung Bộ năm 2011 và 2012 67
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả phân tích vi sinh vật, hóa học trên tôm thẻ chân trắng nuôi
tại các tỉnh Nam Trung Bộ từ 2011÷2013 68
ix
Bảng 3.6. Sản lượng thủy sản và cá ngừ khai thác tại các tỉnh Nam Trung Bộ từ năm
2010 ÷ 2013 74
Bảng 3.7. Kết quả phân tích vi sinh vật và hóa học ở cá ngừ khai thác tại các tỉnh Nam
Trung Bộ năm 2011 76
Bảng 3.8. Kết quả phân tích vi sinh vật và hóa học ở cá ngừ khai thác tại các tỉnh Nam
Trung Bộ năm 2012 77
Bảng 3.9. Kết quả phân tích vi sinh vật và hóa học ở cá ngừ khái thác tại các tỉnh Nam
Trung Bộ năm 2013 78
Bảng 3.10. Tổng hợp số lượng mẫu và kết quả phân tích vi sinh vật, hóa học trên cá
ngừ tại các tỉnh Nam Trung Bộ từ 2011÷2013 81
Bảng 3.11. Kết quả kiểm định vi sinh vật ở cá cơm tại các tỉnh Nam Trung Bộ từ 85
năm 2011 ÷ 2013 85
Bảng 3.12. Tổng hợp kết quả phân tích và tình trạng nhiễm vi sinh vật ở cá cơm tại các
tỉnh Nam Trung Bộ từ năm 2011 ÷ 2013 86
Bảng 3.13. Thực trạng bảo đảm ATTP các cảng cá lớn tại các tỉnh Nam Trung Bộ 88
Bảng 3.14. Thực trạng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại một số cơ sở thu mua cá
ngừ tại các tỉnh Nam Trung Bộ 89

x
DANH MỤC HÌNH

Hình 3.7. Sự biến động tỷ lệ mẫu cá cơm nhiễm vi sinh vật từ 2011÷2013 tại các tỉnh
Nam Trung Bộ 87
Hình 3.8. Một số hình ảnh về bốc dỡ, bảo quản thủy sản trên cảng cá, bến cá các tỉnh
Nam Trung Bộ 91
Hình 3.9. Hình ảnh về mua bán, bảo quản thủy sản trên bến cá, chợ cá trong cảng cá
tại các tỉnh Nam Trung Bộ 92
1
MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng quan tâm tới chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm không những có ảnh
hưởng trực tiếp đối với sức khỏe của con người, mà còn ảnh hưởng đến sự trường tồn
của giống nòi, của một dân tộc, của một quốc gia.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát
triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Các vụ ngộ độc thực
phẩm (NĐTP) có xu hướng ngày càng tăng [68]. Nước Mỹ mỗi năm vẫn có 76 triệu ca
NĐTP với 325.000 người phải vào viện và 5.000 người chết [51]. Ở các nước phát
triển khác như EU, Hà Lan, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc có hàng ngàn trường hợp
người bị NĐTP mỗi năm và phải chi phí hàng tỉ USD cho việc ngăn chặn nhiễm độc
thực phẩm [52], [67]. Tại các nước đang phát triển, tình trạng ngộ độc thực phẩm lại
càng trầm trọng hơn nhiều, như khu vực châu Phi mỗi năm có khoảng 800.000 trẻ em
tử vong do tiêu chảy [53]. Còn tại các nước Đông Nam Á, như tại Thái Lan, Malaysia
trung bình mỗi năm có 1 triệu trường hợp bị tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm [54].
Ở Việt Nam, hàng năm việc ô nhiễm thực phẩm đã làm hàng ngàn lượt người bị
ngộ độc cấp tính, trung bình hàng năm có khoảng 150 - 250 vụ NĐTP được báo cáo
với từ 3.500 đến 6.500 người mắc và 37-71 người tử vong. NĐTP do lây nhiễm vi sinh
vật gây bệnh và đặc biệt là hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như hóa chất bảo vệ
thực vật (BVTV) và một số hóa chất, thuốc thú y sử dụng trong chăn nuôi, nuôi trồng,
bảo quản thực phẩm [
1
0]. Việc lạm dụng hóa chất cấm, thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ

sản sau thu hoạch tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, nơi có ngành nuôi trồng, khai
thác thủy sản phát triển mạnh mẽ và trọng điểm của Miền Trung và có mối gắn kết,
liên kết chặt chẽ với nhau. Do vậy, để có bức tranh tổng quát về quản lý chất lượng, an
toàn thực phẩm và thực trạng nhiễm vi sinh vật, hóa học trong thủy sản sau thu hoạch
tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Ninh Thuận, nhằm giúp các
nhà quản lý Chất lượng đưa ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng, an
toàn thực phẩm tại các tỉnh Nam Trung Bộ. Được sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy
TS Vũ Ngọc Bội, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài “Đánh giá thực
trạng nhiễm vi sinh vật, hóa học và đề xuất giải pháp kiểm soát các mối nguy này đối
với nguyên liệu tôm thẻ nuôi và một số loại cá biển sau thu hoạch tại một số tỉnh Nam
Trung Bộ”.
Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu thực trạng nhiễm vi sinh vật, hóa chất ở nguyên liệu tôm thẻ chân
trắng nuôi và một số loại cá biển sau thu hoạch tại khu vực Nam Trung Bộ từ đó đề
3
xuất giải pháp tăng cường quản lý chất lượng vệ sinh an toàn nguyên liệu thủy sản sau
thu hoạch đáp ứng các quy định của Việt Nam và quy định của một số các thị trường
nhập khẩu.
Nội dung của đề tài:
1) Đánh giá thực trạng về điều kiện nuôi trồng, khai thác, bảo quản, vận chuyển
và thực trạng lây nhiễm vi sinh vật, dư lượng hoá chất trong tôm thẻ chân trắng nuôi
và một số loài cá biển sau thu hoạch tại khu vực Nam Trung Bộ (từ tỉnh Bình Định đến
Ninh Thuận) từ năm 2011 đến năm 2013.
2) Đề xuất các giải pháp kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm đối với tôm
thẻ chân trắng nuôi và một số loài cá biển sau thu hoạch tại khu vực Nam Trung Bộ
(từ tỉnh Bình Định đến Ninh Thuận).
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Ý nghĩa khoa học:
o Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo giúp cho nhà quản lý
thực phẩm thủy sản đánh giá được thực trạng vệ sinh, an toàn của một số loại thủy sản

Venezuela, Honduras, Guatemala, Nicaragua, Belize, Việt Nam, Malaysia, Peru,
Colombia, Costa Rica, Panama, El Salvador, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Philippines, Campuchia,
Suriname, Saint Kitts, Jamaica, Cuba, Cộng hòa Dominica, Bahamas [61], [65]. Trong
đó, Trung Quốc có sản lượng cao nhất thế giới đạt khoảng 1,3 triệu tấn vào năm 2012.
Hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu thâm canh. Dự kiến sản lượng tôm thẻ chân
trắng đạt sản lượng khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015 [62].
1.1.2. Tình hình khai thác và thương mại thủy sản trên thế giới
Tổng sản lượng thủy sản khai thác trên thế giới giữ ổn định ở quanh mức 90 triệu
tấn/năm, mặc dù đã có những biến động quan trọng về xu hướng khai thác của từng
nước, về ngư trường và loài đánh bắt [64]. Trong một vài năm gần đây, sản lượng khai
thác toàn cầu giảm sút cùng với tình trạng khai thác quá mức đã gióng lên một hồi
chuông cảnh báo - tình trạng khai thác biển toàn cầu đang ngày càng xấu đi. Khai thác
quá mức không chỉ gây hậu quả về mặt sinh thái mà còn góp phần làm giảm sản lượng
khai thác và ảnh hưởng xấu đến kinh tế xã hội trên toàn cầu [39].
Năm 2011, sản lượng khai thác thủy sản toàn cầu đạt 93,7 triệu tấn (mức cao nhất
trong giai đoạn 1996 ÷ 2011 là 93,8 triệu tấn) và năm 2012, đạt 91,3 triệu tấn, trong
đó, khai thác biển đạt 82,6 triệu tấn năm 2011 và 79,7 triệu tấn năm 2012 (nếu không
tính cá cơm thì con số tương ứng là 74,3 triệu tấn và 75 triệu tấn) [61].
Trong hai năm 2011÷2012, trên thế giới có 18 nước đạt sản lượng trung bình từ 1
triệu tấn trở lên, trong đó có 11 nước đến từ châu Á. Các nước như Myanmar, Việt
5
Nam, Indonesia và Trung Quốc có sản lượng tăng trưởng liên tục với mức tăng kỷ lục
từ 2 đến 3 con số (Myanmar tăng 121%, Việt Nam tăng 47%) [39]. Khai thác cá ngừ
toàn cầu đã phục hồi đà tăng trưởng và đạt kỷ lục mới hơn 7 tấn năm 2012. Trong đó,
các loài cá ngừ vây dài, mắt to, vây xanh, vây vàng và cá ngừ vằn chiếm 4,5 triệu tấn.
Có 68% sản lượng cá ngừ đến từ vùng biển Thái Bình Dương. Sản lượng cá ngừ vây
vàng tăng trưởng vượt bậc trong khi sản lượng cá ngừ mắt to giảm 5% [61].
Dự báo, sản lượng khai thác toàn cầu tiếp tục ổn định (mặc dù có một số thay đổi
đáng kể về sản lượng ở từng nước, từng vùng và từng loài) với tốc độ tăng trưởng
khoảng 5% năm 2022. Năm 2011, sản lượng khai thác chiếm 60% tổng sản lượng thủy

trong năm 2006 [66].
Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), sản lượng thủy sản của Trung
Quốc chiếm 12% sản lượng thủy sản toàn thế giới năm 1994 và tăng lên 35% trong
năm 2005. Nguồn cung thủy sản trên đầu người của Trung Quốc khoảng 26,1 kg [60].
Tại các nước đang phát triển, tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, đã kích
thích tiêu thụ thủy sản tăng lên. Một số quốc gia lâu nay là các nhà xuất khẩu thủy sản
đang chuyển dần một khối lượng thủy sản về thị trường nội địa. Còn tại các nước công
nghiệp, người tiêu dùng tập trung tiêu thụ các loại thực phẩm bổ dưỡng nên đã đẩy tiêu
thụ thủy sản lên cao, trong khi nguồn cung cấp lại không chắc chắn chút nào [38] [66].
Cả FAO và Viện Nghiên cứu Chính sách Thực phẩm Quốc tế (IFPRI) dự đoán
nhu cầu đối với thủy sản trên thế giới sẽ tăng đến năm 2025. Sự gia tăng tiêu dùng thủy
sản là do dân số tăng và tiêu dùng thủy sản bình quân đầu người tăng xấp xỉ 8% [66].
FAO cho rằng sản lượng thủy sản khai thác biển khó vượt qua mức hiện tại
khoảng 90 triệu tấn. Một ước tính lạc quan là dưới những điều kiện quản lý đã được
cải thiện, sản lượng thủy sản khai thác có thể tăng thêm 15 triệu tấn trên cơ sở bền
vững. Như vậy giữa cung và cầu vẫn còn khoảng cách từ 35 tới 50 triệu tấn trong vòng
20 năm tới [66].
Nuôi trồng thủy sản là ngành tăng trưởng mạnh nhất trong thủy sản toàn cầu, các
nhà phân tích cho rằng NTTS sẽ giúp lấp đầy khoảng cách giữa cung và cầu trong
những năm tới. FAO ước tính sản lượng NTTS có thể tăng thêm từ 15 tới 20 triệu tấn
vào năm 2025, nhưng thế vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người. [61].

Từ các phân tích trên cho thấy tăng trưởng tiêu dùng thủy sản phản ánh xu thế
tiêu dùng thực phẩm nói chung trên thế giới. Tiêu dùng thực phẩm thủy sản trên đầu
người đã tăng lên trong vài thập kỷ qua và thay đổi theo quốc gia và khu vực trên thế
giới. Khối lượng thủy sản tiêu thụ ngày càng tăng trong khi khai thai thác thủy sản đã
7
đạt đến hoặc rất gần đến mức sản lượng khai thác bền vững tối đa, việc khai thác quá
mức không chỉ gây hậu quả sinh thái tiêu cực, mà còn làm giảm sản lượng cá, dẫn đến
hậu quả tiêu cực kinh tế xã hội. Từ đó, cho thấy phát triển nuôi trồng thủy sản đang là

1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013
Năm điều tra

Diện tích nuôi thủy sản(1triệu ha)
`

Hình 1.1. Biến động diện tích nuôi thủy sản ở Việt Nam từ năm 1991 – 2013
8
Sự phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam: Tôm thẻ chân trắng được
đưa vào Việt Nam năm 2001 và được nuôi thử nghiệm tại 3 công ty: Công ty Duyên
Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và công ty Asia Hawaii (Phú Yên)
[16] [77]. Vào thời điểm này nước ta hạn chế phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng vì có
thể lây bệnh cho tôm sú. Đến năm 2006, ngành thủy sản đã cho phép nuôi bổ sung tôm
chân trắng tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, nhưng vẫn cấm nuôi tại khu
vực Đồng Bằng Sông Cửu Long [32]. Đầu năm 2008, nhận thấy thị trường thế giới
đang có xu hướng tiêu thụ mạnh mặt hàng tôm thẻ chân trắng của Thái Lan, Trung
Quốc… và sản phẩm tôm sú nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh, hiệu quả sản xuất
thấp do dịch bệnh, Ngày 25/01/2008, Bộ NN&PTNT ban hành chỉ thị số 228/CT-
BNN-NTTS về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh phía Nam. Từ đó
diện tích và sản lượng tôm thẻ chân trắng không ngừng được tăng lên. Dự kiến đến
năm 2015 sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 449.500 tấn. Hiện nay tôm thẻ
chân trắng được nuôi với hình thức thâm canh năng suất bình quân đạt từ 2.980 kg/ha
vào năm 2005 và tăng lên 5.380 kg/ha vào năm 2010. Tuy nhiên, các năm gần đây
năng suất bình quân có xu hướng giảm chỉ đạt khoảng 4.242 kg/ha trong năm 2013
(Bảng 1.1). Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tập trung chủ yếu ở vùng duyên hải Trung
Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long, chiếm khoảng 94 % diện tích của cả nước [42].
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng và năng suất tôm thẻ chân trắng qua các năm

Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất bình
quân (kg/ha)

từ tháng 4 đến tháng 7, chiếm 75% tổng diện tích bị bệnh trong cả năm. Các vùng nuôi
có độ mặn thấp, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn so với vùng nuôi có độ mặn cao. Các tháng nhiệt
độ thấp, mùa mưa, tỷ lệ xuất hiện bệnh thấp hơn các tháng mùa khô, nhiệt độ cao [43].
Đến năm 2013 tình hình dịch bệnh đốm trắng và hội chứng hoại tử cấp tính đã giảm đi
đáng kể so với năm 2011 và 2012 [42], nhưng vẫn còn gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi.
Vì vậy, trong những năm qua việc sử dụng thuốc kháng sinh, đặc biệt là kháng sinh
hạn chế sử dụng để trị bệnh cho tôm thẻ xảy ra phổ biến nhưng việc giám sát thời gian
cách ly sau khi sử dụng thuốc chưa được chặt chẽ, dẫn đến còn phát hiện kháng sinh
trên tôm thẻ và số lượng lô hàng xuất khẩu bị cảnh báo nhiễm hóa chất, kháng sinh của
các thị trường nhập khẩu tăng cao.
1.2.2. Hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản biển.
Trong giai đoạn 2001 ÷ 2010, tổng sản lượng khai thác thủy sản tăng liên tục qua
các năm, với tốc độ tăng trưởng 3,8%/năm. Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản nội
địa giảm từ 243.600 tấn năm 2001 xuống 194.200 tấn năm 2010, tốc độ giảm
2,5%/năm [40].
Sản lượng khai thác hải sản có tốc độ tăng khá nhanh, đạt 4,6%/năm. Trong cơ
cấu sản lượng khai thác hải sản, sản lượng cá luôn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 75% sản
lượng khai thác hải sản. Tốc độ gia tăng sản lượng cá biển giai đoạn 2001 ÷ 2010 là
10
4,4%/năm. Trong đó, sản lượng khai thác cá ngừ khoảng 15.000 ÷ 30.000 tấn/năm và
sản lượng cá ngừ đại dương đạt khoảng 12.231 tấn/năm [41].
Sản lượng khai thác hải sản ở các vùng biển xa bờ cũng đang ngày càng có chiều
hướng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản lượng khai thác hải sản. Sản
lượng khai thác hải sản xa bờ năm 2001 khoảng 456.000 tấn, chiếm 30,8% tổng sản
lượng khai thác hải sản, đến năm 2010 đã tăng lên khoảng 1.100.000 tấn và chiếm gần
50% tổng sản lượng khai thác hải sản. Giai đoạn 2001 ÷ 2010, năng suất khai thác theo
lao động có chiều hướng tăng nhẹ, khoảng 0,7%/năm. Ngược lại, năng suất theo tàu
thuyền và công suất lại có xu hướng giảm dần, đặc biệt giảm từ 0,49 tấn/CV xuống
0,37 tấn/CV, giảm 3,1%/năm [41].
Trong những năm gần đây nhờ thời tiết, ngư trường khá thuận lợi kết hợp với các

9
5
1
9
9
7
1
9
9
9
2
0
0
1
2
0
0
3
2
0
0
5
2
0
0
7
2
0
0
9

hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đến năm 2000, tổng sản
lượng thuỷ sản đã vượt qua mức 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu 1,475 tỷ
USD. Năm 2001, quan hệ thương mại thủy sản của Việt Nam đã mở rộng ra 60 nước
và vùng lãnh thổ. Năm 2002 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vượt qua mốc 2 tỷ USD
(đạt 2,014 tỷ USD)[48], Suốt mười năm, ngành thuỷ sản bằng sự nỗ lực phấn đấu liên
tục, không mệt mỏi, vượt qua những khó khăn khách quan và chủ quan, đã hoàn thành
các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản mà ngành đã xây dựng. Các mặt hàng thủy sản và thị
trường xuất khẩu thủy sản không ngừng tăng trong những năm gần đây (Hình 1.2).
Năm 2013 xuất khẩu thủy sản đạt 6,79 tỷ USD (Hình 1.6), trong đó, các mặt hàng thủy
sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là Tôm (3,015 tỷ USD) (Hình 1.5), cá tra (1,8 tỷ
USD), cá ngừ, nhuyễn thể, giáp xác…trị giá cá ngừ xuất khẩu tuy chỉ chiếm gần 9,3%
trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhưng đây là sản phẩm duy nhất có
tăng trưởng cao trong số các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Một
số mặt hàng thủy sản khác như tôm, cá tra vẫn tiếp tục duy trì ổn định trong xuất khẩu
(Hình 1.3) [42],[48].
12
Cá tra, 28.40%
Tôm nuôi, 36.50%
Nhuyễn thể, 9.50%
Giáp xác, 1.90%
Cá khác, 14.50%

Hình 1.3. Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2012
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ sản đã tạo
dựng được uy tín lớn thể hiện qua việc được các thị trường lớn như Mỹ, Nhật và các
nước trong khối EU chấp nhận là bạn hàng thường xuyên của họ. Năm 2003, xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung
Quốc chiếm trên 75% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành, phần còn lại trải
rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ. Hiện nay, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở
trên 162 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Top 10 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn


Nhật Bản 617,747 22,76 +1,7
Mỹ 454,570 20,3 - 18,6
EU 311,737 13,9 - 24,5
Trung Quốc, Hồng kông 255,432 11,4 + 14,2
Hàn Quốc 171,400 7.7 + 8,8
Australia 101,032 4,5 +25,7
Đài Loan 75,830 3,4 + 3,0
Canada 69,780 3,1 - 15,9
Thụy sỹ 37,832 1,7 - 11,4
Asean 36,188 1,6 - 24,9
Các TT Khác 105,888 4,7 -2,3
TỔNG 2.237,435 100 - 6,6
1
5
.
7
1
6
.
6
7
2
0
2
4
2
2
.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status