giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai huyện hoàng su phì, tỉnh hà gang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



LÊ DUY MẠNH
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ
ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG CHO CÁC HỘ DI DÂN VÙNG
THIÊN TAI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI, NĂM 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các nội dung
được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được dùng
bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Duy Mạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi nhận được sư quan tâm giúp đỡ của
mọi người, tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ đó.
Trước tiên, Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo
PGS. TS Mai Thanh Cúc người trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo, giúp đỡ tôi để
hoàn thành được Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Học viện nông nghiệp Việt
Nam, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn và các thầy cô
giáo của Học viện nông nghiệp Việt Nam đã dìu dắt, dạy bảo tôi trong suốt thời
gian tôi học tập tại Học viện và quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở nông nghiệp & PTNT tỉnh Hà Giang, các

Danh mục biểu đồ ix
Danh mục hộp x
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm 4
2.1.2 Đặc điểm phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống của các hộ
di dân vùng thiên tai 7
2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ
di dân vùng thiên tai 8
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời
sống cho các hộ di dân vùng thiên tai 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất nông
nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai 12
2.2.2 Chủ trương chính sách của địa phương về phát triển sản xuất nông nghiệp
và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai 13 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

2.2.3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các
hộ di dân vùng thiên tai của cả nước và một số địa phương 14
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

Page vi

4.4 Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời
sống cho các hộ di dân vùng thiên tai 68
4.4.1 Định hướng 68
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời
sống cho các hộ di dân vùng thiên tai 71
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
5.1. Kết luận 88
5.2. Kiến nghị 89
5.2.1. Đối với Chính phủ 89
4.2.2. Đối với tỉnh Hà Giang 90
5.2.3. Đối với Chính quyền huyện Hoàng Su Phì 90
5.2.4. Đối với các hộ di dân ra khỏi vùng thiên tai 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BQ Bình quân
CN – XD Công nghiệp - xây dựng
GDP Tổng sản phẩm nội địa
PTNT Phát triển nông thôn
QĐ – TTG Quyết định Thủ tướng Chính phủ
QĐ – UBND Quyết định Ủy ban nhân dân
THCS Trung học cơ sở

4.11 Tình hình phát triển sản xuất của các hộ trước và sau di dân 47
4.12 Kết quả sản xuất nông nghiệp của hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 48
4.13 Thu nhập và bình quân lương thực/hộ/khẩu của hộ di dân 2013 49
4.14 Tình trạng thiếu ăn của các hộ di dân năm 2013 49
4.15 Hiện trạng đất ở của hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 50
4.16 Hiện trạng nhà ở của hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 50
4.17 Sử dụng điện của các hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 51
4.18 Đồ dùng sinh hoạt của hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 52
4.19 Hiện trạng sử dụng công cụ sản xuất của hộ di dân vùng thiên tai năm 2013 52
4.20 Tỷ lệ huy động con em các hộ di dân năm học 2013 - 2014 53
4.21 Khoảng cách đến trường Tiểu học, trung học cơ sở, Trung học phổ thông 54
4.22 Tình trạng ốm đau, bệnh tật của các hộ di dân vùng thiên tai 55
4.23 Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã gần nhất 56 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix

4.24 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của hộ di dân vùng thiên tai 56
4.25 Hiện trạng công trình vệ sinh của hộ di dân vùng thiên tai 57
4.26 Tham gia sinh hoạt cộng đồng tại thôn bản của hộ di dân vùng thiên tai 58
4.27 Loại đường giao thông từ nhà đến trung tâm xã 58
4.28 Mức độ ổn định đời sống của các hộ di dân vùng thiên tai 2013 59
4.29 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của hộ di dân 61
4.30 Yếu tố ảnh hưởng đến ổn định đời sống của hộ di dân vùng thiên tai 64
4.31 Chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho các hộ di dân vùng thiên tai 66
4.32 Hỗ trợ của chính quyền xã về sản xuất nông nghiệp cho các hộ di
dân vùng thiên tai 67
4.33 Hỗ trợ đời sống của chính quyền xã đối với hộ di dân vùng thiên tai 67
4.34 Quy hoạch di chuyển dân ra khỏi vùng thiên tai giai đoạn 2011 – 2020. 71

DANH MỤC HỘP

Số hộp Tên hộp Trang4.1 Nhận xét của cơ quan quản lý nhà nước về kết quả di dân vùng thiên tai 38
4.2 Nhận xét, đánh giá của chính quyền địa phương 60
4.3 Đề xuất nguyện vọng của hộ gia đình 68
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây do biến đổi khí hậu, thiên tai diễn biến bất thường
và khắc nghiệt, tình hình thiên tai xảy ra ngày càng phức tạp và nghiêm trọng, gây
nhiều tổn thất về đất đai, tài sản thậm chí cả tính mạng của nhân dân. Chỉ tính 10
năm qua (1998 – 2007) ở Việt Nam các loại thiên tai như: Bão, lũ, tố lốc, sạt lở…và
các loại thiên tai khác đã gây thiệt hại đáng kể, làm chết và mất tích 5.155 người, bị
thương 5.530 người; làm đổ, trôi, ngập, hư hỏng khoảng 5.494.000 ngôi nhà. Thiệt
hại về vật chất lên tới 55.542 tỷ đồng. Tổng thiệt hại hàng năm về tài sản ước tính
khoảng 1,5 GDP (UNDP, 2011). Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả
về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại theo những đột biến khó lường. Vì vậy, bố trí
dân cư ra khỏi vùng thiên tai vẫn là nhiệm vụ chiến lược vừa cấp bách trước mắt,
vừa lâu dài của Đảng, Chính phủ cũng như của các cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp
và ổn định đời sống của các hộ di dân vùng thiên tai từ đó đề xuất những giải
pháp chủ yếu phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di
dân vùng thiên tai huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất nông
nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai.
+ Đánh giá thực trạng về phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời
sống của các hộ di dân vùng thiên tai trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì.
+ Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn
định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
+ Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất nông
nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ sau di dân vùng thiên tai.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các vấn đề về phát triển sản xuất nông nghiệp và đời sống. Chủ thể
nghiên cứu là các hộ đã di dân ra khỏi vùng thiên tai. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông
nghiệp, tập trung vào các cây, con chính và đời sống của các hộ sau di dân vùng
thiên tai.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện Hoàng Su Phì.
- Về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 5/2014 – 5/2015. Số liệu thứ cấp là số
liệu được thu thập từ năm 2009 đến nay. Số liệu sơ cấp là số liệu điều tra năm 2013.

Nông nghiệp của các nước trên thế giới từ trước tới nay đều trải qua giai
đoạn phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hoá của loài người và sự gia
tăng về dân số. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, nền nông nghiệp chủ yếu là
săn bắn hái lượm. Khi loài người tích luỹ được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra
đời, nền nông nghiệp được phát triển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du
canh hay du mục. Canh tác du canh, du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy. Sau Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

đó, do sức ép về dân số và đất đai, nông nghiệp du canh chuyển sang nông
nghiệp định canh ở thời kỳ phong kiến. Tuy vậy, nền nông nghiệp du canh và du
cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồng, đồng bào dân
tộc ít người thực hiện (dân tộc H'Mông các tỉnh miền núi phía bắc). Từ nền nông
nghiệp định canh theo hướng quảng canh chuyển sang nông nghiệp thâm canh, từ
nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp tự cung và tự
cấp sang nông nghiệp hàng hoá là những xu hướng cơ bản của sự phát triển nông
nghiệp trong một thế kỷ qua ở các nước đang phát triển.
* Đời sống của hộ di dân được hiểu như sau:
Đời sống của người dân được chia ra 3 đời sống cụ thể là đời sống vật
chất, đời sống tinh thần và đời sống xã hội:
- Đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện đời sống của con
người với tư cách là một sinh vật xã hội. Nói cách khác, đời sống vật chất là
phương tiện đo lường trình độ phát triển của con người trong xã hội loài người,
trong đó thể hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần (Đặng Nguyên Anh,
2006). Chẳng hạn, những giá trị tinh thần bao giờ cũng phải tồn tại, phát triển
thông qua một số cơ sở, phương tiện vật chất như nhà in, đài phát thanh truyền
hình, thư viện, viện bảo tàng…. và được vật chất hóa dưới nhiều hình thức như
sách, báo, tranh ảnh, băng hình, đĩa nhạc, tượng đài, đình chùa… Đời sống vật

* Ổn định đời sống của hộ di dân được hiểu: Là đảm bảo cho người dân
có được các điều kiện tối thiểu nhằm ổn định đời sống vật chất, tinh thần và xã
hội. Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, ổn định đời sống của hộ di dân được
hiểu là: Một hộ di dân chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới ổn định được cuộc sống khi
hộ đó được bố trí đủ đất ở, đất sản xuất và được hưởng đầy đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu;
được tiếp cận với các dịch vụ xã hội tốt. Đồng thời có phương án phát triển sản xuất
cho hộ. Tính toán cụ thể diện tích, năng suất, sản lượng của các ngành sản xuất đáp
ứng yêu cầu về việc làm, để ổn định đời sống cho các hộ di dân.
* Hộ di dân vùng thiên tai được hiểu như sau:
- Hộ di dân: Trong đời sống xã hội do nhiều yếu tố như việc làm, gia đình,
phong tục tập quán, đời sống,… con người đã rời nơi ở cũ của mình đến nơi ở
mới sinh sống. Quá trình này thường diễn ra liên tục gắn chặt với quá trình phát
triển của mọi quốc gia. Việc con người rời nơi ở cũ đến nơi ở mới lâu nay gọi là
di dân. Ở nước ta, di dân đã diễn ra cách đây hàng nghìn năm gắn liền với công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Như vậy, di dân được hiểu là con người Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau khi di dời khỏi nơi cư trú cũ của họ.
Thực tế, có nhiều lý do mà con người phải di dân và có thể phân chia thành 2 loại
di dân:
(i)
Di dân tự nguyện và (ii) Di dân bắt buộc. Di dân tự nguyện là người dân
tự quyết định do mưu cầu của cuộc sống và những tác động của thiên nhiên gây bất
lợi cho đời sống, sản xuất. Di dân bắt buộc là do người dân bị trưng dụng đất để
xây dựng các dự án, sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh hay vì lợi ích
chung của cộng đồng.
- Vùng thiên tai: Theo Luật Phòng, chống thiên tai (2013), vùng thiên tai

ngô, đậu tương, chè; có thế mạnh về phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ (trâu, bò,
dê) và trồng rừng.
- Sản xuất nông nghiệp của hộ tự cung, tự cấp là chủ yếu, sản xuất ra để
tiêu thụ hộ gia đình là chính, sản phẩm xuất bán ra thị trường rất ít.
- Phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ di dân phần lớn phụ thuộc vào sự
hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước cho hộ di dân cũng như các chính sách của
Chính phủ đối với hộ nghèo như: Chương trình 135/CP, 30a, 1776/TTg và các
chương trình hỗ trợ khác.
- Các hộ di dân vùng thiên tai chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trình độ
dân trí thấp, sản xuất theo kinh nghiệm là chính. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất còn nhiều hạn chế.
- Các hộ di dân vùng thiên tai phần lớn là hộ nghèo, đời sống gặp nhiều
khó khăn, trông chờ vào các chính sách hỗ trợ của nhà nước.
2.1.3. Nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các
hộ di dân vùng thiên tai
2.1.3.1. Nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp của các hộ di dân vùng thiên tai
- Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại các dự án, phương
án bố trí dân cư; chú trọng phát triển cây hàng hóa có thế mạnh, chăn nuôi đại gia
súc, trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, tạo nguồn thu nhập từ rừng. Trong
phạm vi của đề tài nghiên cứu, sau khi các hộ di dân ra khỏi vùng thiên tai đến
định cư tại nơi ở mới, chính quyền nơi dân đến định cư phải giúp đỡ người dân
xác định các giống cây trồng mới, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng;
xác định cây nào là cây thế mạnh chủ lực của xã như lúa hàng hóa, đậu tương
hoặc cây chè để định hướng cho hộ sản xuất. Đối với phát triển chăn nuôi đại gia
súc thì trâu, bò là con đại gia súc thế mạnh hay phát triển chăn nuôi lợn để hộ mở
rộng quy mô chăn nuôi. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

tầng xã hội phải được quan tâm đầu tư, giao thông đi lại thuận lợi, có điện sinh
hoạt, nước sinh hoạt, nhà văn hóa… để nâng cao chất lượng cuộc sống.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định
đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai
- Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
+ Đất đai: Là tư liệu sản xuất đặc biệt, đối với đồng bào di dân ra khỏi
vùng thiên tai thì đất sản xuất có yếu tố quyết định đến việc hộ đến định cư ở nơi
ở mới hay không. Bởi lẽ, đất đai ở đây không tuân theo định mức, do các thế hệ
trước khai phá từ nhiều đời nay tạo nên những thửa ruộng bậc thang và nương
rẫy để canh tác và lại cho con, cháu. Chính quyền xã, thôn không có quỹ đất dự
phòng 5% như ở các tỉnh miền xuôi, do đó để bố trí đất sản xuất sẽ gặp nhiều khó
khăn. Quy mô đất sản xuất, địa hình và đặc điểm nông hóa thổ nhưỡng có liên
quan mật thiết đến sản xuất nông nghiệp, nó quyết định đến loại cây trồng và sản
phẩm sản xuất ra.
+ Khí hậu, thời tiết: Do điều kiện địa hình bị chia cắt mạnh, khí hậu thời tiết ở
đây mang khí hậu tiểu vùng rõ rét ; một năm chia làm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Trong mùa mưa thường xẩy ra lũ
ống, lũ quét, sạt lở đất, đá với tần xuất lớn; mùa khô xẩy ra hạn hán cục bộ và có mùa
đông rất lạnh. Đây là một trong các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông
nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống của hộ di dân.
- Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế:
+ Vốn: Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn
là điều kiện cho các hộ di dân đảm bảo cuộc sống ban đầu và việc tiếp cận được
các nguồn vốn cho phép họ có khả năng tiến hành phát triển, mở rộng sản xuất,
kinh doanh. Tuy nhiên, đối với các hộ di dân vùng thiên tai, việc tiếp cận được

tâm hỗ trợ cụ thể của Chính quyền thông qua các chính sách của Đảng, Nhà nước
hiện nay như: Giao quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất lâu dài và hỗ trợ sản xuất
sẽ giúp các hộ này sớm ổn định cuộc sống và hòa nhập với các hộ dân sở tại.
Tóm lại: Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông
nghiệp và ổn định đời sống của các hộ di dân vùng thiên tai. Việc xem xét các
yếu tố ảnh hưởng này cho phép nhà quản lý đề ra được các giải pháp phù hợp để
giảm thiểu các ảnh hưởng xấu, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn
định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất
nông nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai
Chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho các
hộ di dân vùng thiên tai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định
số 193/2006/QĐ–TTg, ngày 24/8/2006, Về việc phê duyệt Chương trình bố trí
dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do,
xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai
đoạn 2006–2010. Trong quá trình tổ chức thực hiện, được Chính phủ điều chỉnh
bởi quyết định 1776/QĐ–TTg, ngày 21/11/2012. Như vậy, trong giai đoạn 2013–
2020, cả nước sẽ phải bố trí ổn định cho 160.000 hộ, trong đó, giai đoạn 2013–
2015, bố trí ổn định 55.900 hộ, bao gồm, di dời 32.100 hộ đang sinh sống ở vùng
thiên tai di chuyển đến nơi an toàn. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo ở vùng dự án
bố trí dân cư từ 1,5% - 2%/năm; tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt từ
70 – 80%, sử dụng điện đạt từ 90 – 95%; tỷ lệ hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố
đạt từ 70% - 80% (Thủ tướng Chính phủ, 2012). Để đạt được mục tiêu đó, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể đi kèm để hỗ trợ cho

+ Hỗ trợ xây dựng đầy đủ cơ sở hạ tầng đối với các dự án tập trung (tối
thiểu 6/10 công trình) và hỗ trợ từ 50 – 80 triệu đồng/hộ đối với các phương án
bố trí dân cư xen ghép để thực hiện việc trao đổi đất ở, đất sản xuất và tu sửa,
nâng cấp, xây mới 5 hạng mục công trình thiết yếu (nhà lớp học, trạm xá, giao
thông nội vùng, thủy lợi, cấp nước sinh hoạt).
2.2.2. Chủ trương chính sách của địa phương về phát triển sản xuất nông
nghiệp và ổn định đời sống cho các hộ di dân vùng thiên tai
Nghị quyết tỉnh Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ 15, nhiệm kỳ 2010 – 2015,
đã đề ra 4 đổi mới, 8 đột phá và 15 chương trình trọng tâm, trong đó có chương
trình Quy tụ các hộ dân cư sống rải rác ở các triền núi cao và các vùng thiên tai
về sống tập trung tại các thôn bản, giai đoạn 2010 - 2015 bố trí di chuyển cho
4.116 hộ. Để triển khai thực hiện Nghị quyết này, UBND tỉnh Hà Giang đã
ban hành quyết định số 4592/QĐ–UBND ngày 05/11/2009, về việc phê duyệt
quy hoạch bố trí ổn định dân cư theo quyết định 193/TTg và được điều chỉnh
bởi quyết định số 1486/QĐ–UBND tỉnh, ngày 19/7/2011, toàn tỉnh đến năm
2020 sẽ bố trí di dân vùng sạt lở bờ sông, suối, sạt lở núi đất và vùng có nguy
cơ lũ quét, lũ ống là 7.860 hộ; trong đó huyện Hoàng Su Phì là huyện núi đất Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

phía tây của tỉnh Hà Giang có số hộ phải di chuyển nhiều nhất 2.122 hộ, chiếm
27% số hộ của tỉnh.
Để phát triển sản xuất và ổn định đời sống cho các hộ dân sau khi di
chuyển ra khỏi vùng thiên tai, có đời sống ở nơi ở mới tốt hơn hoặc tối thiểu phải
bằng nơi ở cũ. UBND tỉnh đã có công văn 1274/UBND–NN&TNMT, ngày
27/5/2011, V/v thành lập Ban quản lý chương trình bố trí sắp xếp, ổn định dân
cư. Giao Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách khối nông lâm nghiệp làm trưởng
ban; Trưởng phòng nông nghiệp & PTNT (Kinh tế) làm phó ban thường trực và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status