BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG ĐÁNH GIÁ TÍNH CHỐNG CHỊU BỆNH SƯƠNG MAI,
BỆNH XOĂN VÀNG LÁ VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ DÒNG CÀ CHUA
MỚI CHỌN TẠO TẠI GIA VIỄN – NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hoài Phương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về tính kháng bệnh trên thực vật 4
1.1.1 Khái niệm về tính kháng bệnh trên thực vật 4
1.1.2 Cơ sở di truyền tính kháng bệnh ở thực vật 4
1.2 Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua 5
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua trên thế giới 5
1.2.2 Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam 10
1.3 Nghiên cứu về bệnh virus xoăn vàng lá (TYLCV) 15
1.3.1 Bệnh virus xoăn vàng lá (TYLCV) 15
1.3.2 Chọn tạo giống cà chua chống chịu bệnh xoăn vàng lá 19
1.4 Nghiên cứu về bệnh sương mai trên cà chua 21
1.4.1 Bệnh sương mai trên cà chua 21
1.4.2 Tình hình nghiên cứu về tính kháng bệnh sương mai trên cà chua 26
1.5 Chỉ thị phân tử và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống cây trồng 29
1.5.1 Vai trò của chỉ thị phân tử 29
3.6 Tính kháng bệnh virus xoăn vàng lá 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
4.1 Kết luận 63
4.2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DNA : Deoxyribonucleic acid
AVRDC :
Trung tâm rau màu Châu Á
UTL : Ưu thế lai
THL : Tổ hợp lai
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
CABI : Center Agriculture British International
QTL :
Quần thể lai
BC1 : Back-cross1
RFLP : Đa hình độ dài các đoạn cắt hạn chế
(Restriction Fragment Length Polymorphism)
RAPD : Random Amplyfied Polymorphic DNA
SSR : Các trình tự lặp lại đơn giản (Simple Sequence Repeats)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
3.4
B
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà
chua tham gia thí nghiệm trong Vụ Đông Xuân 2014 -2015 59
3.5 Tính kháng bệnh sương mai 60
3.6 Tính kháng bệnh virus xoăn vàng lá 61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang1.1 Bệnh xoăn vàng lá cà chua 15
1.2 Triệu chứng bệnh sương mai trên lá (a), (b), (c); thân (d), (e), (f);
quả (g), (h), (i) 22
1.3 Chu kỳ vòng đời của nấm Phytophthora infestans 24
1.4 Biểu hiện của (A) chỉ thị đồng trội, (B) chỉ thị trội 31
2.1 Chỉ số hình dạng quả 39
2.2 Quá trình phân lập nấm sương mai (A-mẫu bệnh, B- Phân lập trên
môi trường V8, C- Hình dạng bọc bào tử động dưới kính hiển vi) 43
2.3 Lây bệnh sương mai nhân tạo trên lá tách rời 44
2.4 Lây nhiễm nhân tạo bệnh virus xoăn vàng lá 44
3.1 Điện di sản phẩm PCR xác định tổ hợp lai mang gene Ph3 61
3.2 Điện di sản phẩm PCR xác định tổ hợp lai mang gene Ty3 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
Page 2
với các gene Ty1, Ty2, Ty3 và lây bệnh nhân tạo thông qua phương pháp ghép đối
với 200 mẫu giống cà chua đã xác định được một số mẫu giống mang gene Ty1 và
Ty3 có khả năng kháng cao với bệnh xoăn vàng lá (Ton và cs, 2013). Khảo sát tính
kháng bệnh sương mai (Phytophthora infestans) cho thấy gene Ph3 trội không hoàn
toàn, kháng cao với các mẫu nấm phân lập tại các vùng sản xuất cà chua chính của
Việt nam. Thông qua chỉ thị phân tử đồng trội liên kết chặt (1-2 cM) với gene này
đã tạo được một số dòng cà chua kháng cao với bệnh sương mai (Trịnh Khắc
Quang, Trần Ngọc Hùng, 2012; Trần Ngọc Hùng, 2013a). Một số giống cà chua lai
(F1) trên cơ sở phối hợp cả 2 tính kháng bệnh sương mai và xoăn vàng lá đã được
tạo ra (Trần Ngọc Hùng, 2013b).
Trong những năm gần đây điều kiện thời tiết biến đổi nên tình hình sâu bệnh
hại phát triển mạnh. Trên địa bàn huyện Gia Viễn năng suất cà chua thường không
cao, theo số liệu của chi cục thống kê của huyện Gia viễn năng suất bình quân hàng
năm thường thấp hơn so với các khu vực trong tỉnh Ninh Bình. Trong năm 2014
trên địa bàn huyện có khoảng 40 ha diện tích trồng vụ Thu Đông không cho thu
hoạch do sử dụng giống không đạt chuẩn, kém chất lượng. Do vậy nhằm thay thế bộ
giống cũ kém chất lượng bằng bộ giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và
chống chịu sâu bệnh đặc biệt kháng được hai bệnh sương mai và xoăn vàng lá
chúng tôi xin thực hiện đề tài “Đánh giá tính chống chịu bệnh sương mai, bệnh
xoăn vàng lá và khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số dòng cà
chua mới chọn tạo tại Gia Viễn – Ninh Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được dòng cà chua mang gene kháng bệnh xoăn vàng lá và sương mai
năng suất cao, thích ứng với điều kiện tự nhiên tại Gia Viễn – Ninh Bình.
3. Yêu cầu của đề tài
- Bằng chỉ thị phân tử, xác định các dòng mang gene Ph3, Ty3.
- Đánh giá tính chống chịu bệnh của các dòng cà chua mang gene kháng bệnh.
- Đánh giá năng suất, đặc điểm nông sinh học và tình hình sâu bệnh của các
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tính kháng bệnh trên thực vật
1.1.1 Khái niệm về tính kháng bệnh trên thực vật
Khi cây trồng bị mầm bệnh tấn công, cây luôn có khuynh hướng chống lại
với mầm bệnh. Nếu cây không đủ sức chống lại thì sẽ bị nhiễm bệnh, nếu cây chống
lại được với bệnh, không bị hại hoặc thiệt hại không đáng kể thì gọi là kháng bệnh.
Tính kháng hoặc nhiễm bệnh của cây trồng tuỳ thuộc vào đặc tính di truyền của cây.
Các đặc tính di truyền này giúp cho cây có những cơ chế kháng bệnh khác nhau
(Bùi Chí Bửu, 2002 ).
1.1.2 Cơ sở di truyền tính kháng bệnh ở thực vật
- Kháng bệnh đơn gen (monogenic resistance): Tính kháng bệnh đơn gen
thường do một hoặc một vài gen quy định nhưng các gen này định vị rất gần nhau
và liên kết với nhau rất chặt chẽ nên còn được gọi là tính kháng dọc. Tính kháng
dọc mang tính đặc hiệu cao, nhằm vào một hoặc một số chủng tác nhân gây bệnh
chỉ có thể chống được một số chủng tương thích của tác nhân gây bệnh (nên còn
được gọi là tính kháng đặc hiệu). Mặc dù rất có hiệu quả, chống lại các chủng tương
ứng của tác nhân gây bệnh nhưng nhìn chung không bền vững. Tính kháng có thể bị
mất nếu xuất hiện trong quần thể tác nhân gây bệnh các chủng mới không tương
thích (từ nơi khác tới hoặc chủng bị kháng đột biến) có khả năng gây bệnh (Hà Viết
Cường và Trần Nguyên Hà, 2011).
- Kháng bệnh đa gen (polygenic resistance): Tính kháng đa gen thường do
nhiều gen quy định, mỗi gen đóng góp một mức độ nhỏ vào tính kháng (nên còn được
gọi là tính kháng ngang). Tính kháng ngang quy định tính kháng không hoàn toàn
nhưng bền vững. Tính kháng ngang không bị bẻ gãy nhanh hay bất thình lình như tính
kháng dọc. Tính kháng ngang có mặt ở khắp nơi, trên cả cây trồng lẫn cây dại, chống
tất cả các chủng của tác nhân gây bệnh kể cả các chủng độc nhất (nên còn được gọi là
tính kháng không đặc hiệu) (Hà Viết Cường và Trần Nguyên Hà, 2011).
- Tính nhiễm bệnh do tế bào chất: Hầu hết các trường hợp kháng hoặc nhiễm bệnh
trí của 31 gen trên bộ nhiễm sắc thể của cà chua (Chalukova, et al 1991).
Kiểu gen được khai thác nhiều nhất ở thời kỳ này là gen lùn sử dụng để tạo
ra giống thấp cây, cây gọn, chín sớm chín tập trung thích hợp cho thu hoạch bằng
máy. Các giống chống chịu nóng ra đời là cho diện tích, sản lượng trồng cà chua thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
giới tăng nhanh. Đặc biệt những giống này giúp cho quá trình rải vụ, cà chua có thể
trồng sang các tháng mùa hè tránh được tình trạng sản phẩm cà chính vụ bị mất giá, tạo
ra nguồn sản phẩm quanh năm cho ăn tươi và chế biến. Ngoài vấn đề chọn giống chịu
nóng thì chọn giống chịu vi khuẩn là một loại bệnh hại cà chua quan trọng nhất ở vùng
nhiệt đới. Các giống cà chua ăn tươi của AVRDC chọn theo hướng kháng vi khuẩn
(Hayward, 1991).
Hầu hết các giống được phát triển trong sản xuất hiện nay là giống lai F1.
Phần lớn các nhà nghiên cứu nhận định rằng sự chống chịu tốt hơn của giống lai F1
với các điều kiện bất lợi của môi trường so với dòng ban đầu nhờ phản ứng bảo vệ
rộng. Tính chống chịu chung của giống lai F1 với sâu bệnh hại được biểu hiện
không phụ thuộc vào sự tồn tại của các gen kháng đặc thù (Eigenbrode and
Trumble, 1994).
Nghiên cứu UTL và mối tương quan một số tính trạng ở cà chua đã cho thấy
phần lớn các con lai cho UTL dương cao hơn bố mẹ tốt nhất về khối lượng quả, số
quả trên cây, chiều cao cây và năng suất cá thể. UTL âm về thời gian từ trồng đến ra
hoa (Ahmed, Sharuddin, 1988) (Dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998).
Ước lượng hệ số di truyền và khả năng tổ hợp của tính trạng độ cứng quả
bằng phân tích Diallen ở cà chua các tác giả đã cho thấy phần lớn con lai F1 có di
truyền trung gian và trội không toàn phần, ưu thế lai dương về độ cứng quả tìm thấy
ở 2 tổ hợp F1 (Markovic, Zdravkovis, Damjanovic, 1994).
Nghiên cứu về các giống lai F1 đã cho thấy số quả trên cây ảnh hưởng nhiều
hơn đến năng suất so với khối lượng quả (Kampeerai Kasemsestha 1988) (Dẫn theo
Kiều Thị Thư 1998).
* Chọn tạo giống cà chua thích ứng với điều kiện bất thuận / trái vụ
Tại AVRDC nghiên cứu, phát triển bộ giống cà chua có khả năng đậu quả
cao ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao. Tạo giống chịu nóng cho vụ hè ở khu vực
châu Á được thực hiện những năm qua đã cung cấp cho các nước trong khu vực rất
nhiều dòng, giống cà chua chịu nóng để các nước tiếp tục tuyển chọn các dòng thích
ứng được với điều kiện thời tiết của từng quốc gia (AVRDC reports 2003) .
Nhằm phát triển sản xuất cà chua trong mùa mưa ở Thái Lan, các thí nghiệm
đánh giá bộ giống được thu thập trên nhiều loại đất khác nhau ở vùng Sakol Nakhon
đã được tiến hành bởi Trung tâm đào tạo nghiên cứu nông nghiệp Lampang trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
giai đoạn 1995-1996. Kết quả đã xác định được giống cà chua ăn tươi Seeda Hauy-
sai và giống Seeda thích nghi với điều kiện khí hậu vùng Sakol Nakhon trong vụ
mưa, đạt yêu cầu chất lượng của thị trường, năng suất quả đạt 34 tấn/ha và 32,97
tấn/ha (Pichet and Anon, 1996).
Các nhà khoa học Bulgari đã tạo ra được các tổ hợp lai Jar và Dar thuộc dạng
bán hữu hạn, thích hợp cho trồng sớm trong điều kiện nhà nhân tạo và giống Viki,
Asja và Lorin thuộc dạng hữu hạn thích hợp cho sản xuất trên đồng ruộng trong
điều kiện chính vụ. Nhóm tác giả này cũng đã phát hiện ra gen ps-2 quy định tính
bất dục đực ở cà chua và họ đã ứng dụng thành công trong sản xuất các giống cà
chua nói trên (Zhivko Petrov, 2000).
Canh tác cà chua trong điều kiện nhiễm mặn ở nhiều vùng trên thế giới cũng
là một mục tiêu mà sản xuất đang hướng đến. Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn
tạo giống cà chua chịu mặn là hướng đang được các nhà khoa học quan tâm.
Foolad et al., (1993) khi nghiên cứu trên quần thể F2 của cặp lai L. esculentum
(UCT5) x L. pennellii (LA716) đã xác định được 3 gene Est-3 trên NST số 1, Prx-7
trên NST số 3 và 6 Pgdh-2 và Pgi-1 trên NST số 12 có liên kết chặt với tính chịu
mặn của cây cà chua, và cũng xác định được 02 gene Got-2 trên NST số 7 và Asp-2
trên NST số 8 không qui định tính chịu mặn. Với kết quả này, các nhà khoa học sẽ
thế lai cao về năng suất là chủ yếu ở các nước như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu.
Ở Ấn Độ, để tạo giống ưu thế lai về năng suất và các tính trạng quả, các nhà
khoa học đã tạo ra hàng loạt các tổ hợp lai giữa một dòng thử kháng héo xanh vi khuẩn
và các giống cà chua thương mại dùng trong chế biến. Ưu thế lai đã được xác định ở
tính trạng khối lượng quả trong 2 tổ hợp lai (Sakthi x Fresh market 9 và Sakthi x
HM208F), năng suất cá thể trong 2 tổ hợp (Sakthi x TH3318 và Sakthi x Fresh market
9) và độ dày thịt quả ở các tổ hợp (Sakthi x St64, LE206 x 64, LE214 x St64), mức độ
biểu hiện ưu thế lai đạt được từ 5,95 – 21,37% (Alica et al, 2001).
Trung Quốc là nước có nhiều thành công trong lĩnh vực nghiên cứu, tạo
giống cà chua lai cho năng suất cao, chất lượng tốt. Hiện nay, các giống cà chua lai
F1 chiếm khoảng 85% giống trồng trong sản xuất.
* Chọn tạo giống chất lượng cao
Tại Mỹ, công tác chọn tạo giống cà chua chất lượng cao đã đạt được những
kết quả quan trọng. Trường Đại học Florida đã tạo ra một số giống cà chua ăn tươi
có chất lượng cao. Các yếu tố đảm bảo khả năng kết hợp của các dòng thuần, qui tụ
năng suất, tính chống chịu và chất lượng vào giống ưu thế lai. Chọn giống cà chua
có hàm lượng β-Caroten, hàm lượng lycopen cao thực hiện trên cơ sở đánh giá cảm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
quan và phân tích hàm lượng các chất trong quả cà chua của nhiều dòng giống từ
nhiều nguồn thu thập. Kết quả một số dòng cà chua có hàm lượng lycopen cao đã
được xác định để làm nguồn vật liệu ban đầu cho chọn tạo giống cà chua chất lượng
cao (Abusita A.A et al, 2000); (John Stormel et al, 2005).
Ở Ba Lan, thông qua nghiên cứu đánh giá chất lượng một số dòng và giống
cà chua, Michalik và CS (1986) đã xác định được giống Pulawski Pizemyslowy và
dòng PH1703 có hàm lượng chất khô trong quả đạt 5,1%, tiếp đến là Pizemyslowy
IN, đạt 5,0%, trong khi giống đối chứng Grand có hàm lượng chất khô chỉ đạt
(2,71%), tỷ lệ đường/axit (7/8) tốt nhất là ở các giống 01355 và VF92-12 (dẫn theo
tập trung. Quả thon dài, ít hạt, năng suất 40-50 tấn/ha ở chính vụ, chất lượng tốt,
giống thích hợp trồng trong vụ sớm, vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè. Giống cà chua
VT3 có khả năng sinh trưởng, phát triển khỏe, chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng
rộng, năng suất cao 44,35 tấn/ha trong vụ đông sớm và đạt 59,14 tấn/ha trong vụ
đông chính và đạt 30,62 tấn/ha trong vụ xuân hè. VT3 có dạng quả to trung bình,
hình tròn dẹt, cùi dày, vai xanh khi chín màu đỏ thẫm, nhiều bột, độ Brix đạt
4,6%, thích hợp cho ăn tươi, giống VT4 có năng suất cao từ 50,04-60,21 tấn/ha,
chống chịu được một số bệnh vi khuẩn, vi rus và sương mai khá (Đào Xuân Thảng
và cs 2005); (Đào Xuân Thảng và cs, 2008); (Đoàn Xuân Cảnh 2013).
Viện Nghiên cứu rau quả đã chọn tạo thành công các giống cà chua chế biến
PT18, các giống cà chua lai FM20, FM 29, lai số 9. Giống PT18 có quả thuôn dài,
năng suất khá, thích hợp cho cả ăn tươi và chế biến trồng được trong 3 vụ Thu
Đông, Xuân Hè và vụ Đông. Giống cà chua lai số 9 có biểu hiện ưu thế lai cao, khả
năng sinh trưởng, phát triển ổn định ở các thời vụ trồng, chống chịu sâu bệnh tốt
(Trần Khắc Thi và Tô Thị Thu Hà, 2010), Giống FM29 có năng suất trung bình 45-
50 tấn/ha trong vụ Xuân Hè và đạt 55-60 tấn/ha vụ Đông Xuân, thích hợp trồng trên
nhiều chân đất khác nhau (Lê Thị Thủy và cộng sự, 2010). Nhóm tác giả này cũng đã
nghiên cứu và tạo thành công một số tổ hợp lai F1 (kết hợp giữa dòng mẹ có vòi nhụy
vươn dài mẫn cảm với GA3 với các dòng bố có vòi nhụy ngắn) cho năng suất 49-50
tấn/ ha ở một số vùng trồng thử nghiệm. Kỹ thuật sản xuất hạt giống lai bằng phương
pháp mới không khử đực dòng mẹ cho năng suất tương đương với phương pháp sản
xuất hạt lai bình thường trong khi chi phí sản xuất giảm 35% (Lê Thị Thủy, 2012).
Nghiên cứu nguồn vật liệu khởi đầu cho tạo giống cà chua ưu thế lai phục vụ
chế biến. Tác giả Dương Kim Thoa và cộng sự (2012) đã thu thập, đánh giá tập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
đoàn 129 mẫu giống cà chua thích hợp cho chế biến. Tác giả đã chọn lọc được một
số mẫu giống mang các tính trạng giá trị, phù hợp cho tạo giống chế biến công
nghiệp gồm chín sớm 14 mẫu, ra hoa tập trung 55 mẫu, tiềm năng năng suất cao 72
chua quả nhỏ HT144 đáp ứng được yêu cầu cho cà chua xuất khẩu, có tiềm năng
năng suất 40-45 tấn/ha, chống chịu bệnh virus vàng xoăn lá, bệnh héo cây, khả năng
chịu nóng cao có khả năng trồng được trái vụ, được giới thiệu cho sản xuất năm
2007. Từ năm 2008, giống đã được mở rộng trong sản xuất ở phía bắc (Nguyễn
Hồng Minh và cộng sự, 2011).
Khối các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hạt giống rau trong nước
cũng đã góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu và phát triển bộ giống cà chua ưu
thế lai ở Việt Nam. Đây là khối mạnh nhất, chiếm thị phần lớn nhất trong việc cung
cấp hạt giống cho sản xuất, trong đó có các công ty như Công ty Đông tây, công ty
cổ phần Giống cây trồng Miền Nam, công ty cổ phần giống cây trồng trung ương,
các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài phải kể đến như công ty
Sygenta, công ty Seminis, công ty Trang Nông, công ty Nông Hữu…đã đưa được
nhiều giống ra sản xuất góp phần làm phong phú bộ giống cà chua ở nước ta như:
Giống cà chua Savior chống chịu tốt với bệnh virus xoăn vàng lá, sinh
trưởng bán hữu hạn, khả năng chịu mưa, chịu nhiệt tốt, quả cứng, dạng oval đẹp,
thuận lợi cho vận chuyển và chế biến, khả năng sinh trưởng, phát triển khoẻ, khối
lượng trung bình quả 80 -100 g, năng suất trung bình 2,5 -3 kg/cây, năng suất lý
thuyết đạt 75 tấn/ha. Giống có khả năng trồng nhiều vụ trong năm, là giống cà chua
lai F1 đang được trồng với diện tích lớn nhất ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng như Bắc
Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương….
Giống lai F1 T 42 do công ty cổ phần giống cây trồng Miền nam nghiên cứu chọn
tạo. Giống sinh trưởng bán hữu hạn, thích hợp với khí hậu mát mẻ ở vùng cao, trồng được
mùa nắng và mùa mưa, chống chịu sâu bệnh tốt. Dạng trái tròn đẹp, độ cứng tốt, không
nứt khi mưa, được thị trường ưa chuộng. Mỗi cây 30-40 trái, nặng trung bình 97 -125g.
Năng suất 60 -65 tấn/ha, giống được sử dụng nhiều ở các tỉnh phía Nam.
Giống cà chua lai F1 VL101 do công ty Sakata Nhật Bản sản xuất được công
ty TNHH thương mại Hoa Sen độc quyền phân phối. Giống có đặc điểm cây cao,
quả cứng, màu sắc đẹp, chịu bệnh héo xanh vi khuẩn, năng suất cao 3 kg/cây. Giống
được phát triển và được bà con nông dân trồng cà chua ở Lâm Đồng ưa chuộng.
Cùng với VL101, giống cà chua Anna do công ty Seminis nhập khẩu và phân phối
Trần Ngọc Hùng và cs (2013) đã tạo được một số tổ hợp lai cà chua (F
1
)
mang đồng thời cả gene kháng bệnh sương mai (Ph3) và kháng TYLCV (Ty1, Ty3),
có năng suất cao và chất lượng tốt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Phan Hữu Tôn và cs (2013) qua khảo sát 200 mẫu giống cà chua đã xác định
được 7 mẫu giống mang gene Ty1, 7 mẫu giống mang gene Ty3, trong đó có 2 mẫu
giống mang cả gene Ty1 và Ty3 kháng TYLCV.
Tóm lại để thúc đẩy việc mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả sản xuất
của cà chua trong thời gian sắp tới Việt Nam cần có những bước đột phá trong
nghiên cứu và chọn tạo giống mới, đặc biệt chú ý đến việc: Nghiên cứu và phát
triển bộ giống cà chua mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu một số sâu
bệnh hại chính như: bệnh virus, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh sương mai Đồng
thời có khả năng chịu vận chuyển, phù hợp với từng vùng sinh thái cụ thể.
1.3 Nghiên cứu về bệnh virus xoăn vàng lá (TYLCV)
1.3.1 Bệnh virus xoăn vàng lá (TYLCV)
Triệu chứng bệnh: Cây bị bệnh virus sinh trưởng kém, đốt thân hoặc các
lóng ngắn lại và hơi uốn cong. Lá có màu xanh sáng, nhiều lá bị nhỏ lại, phiến lá
gợn sóng, bề mặt lá trở thành láng bóng. Rìa lá uốn cong lên, xoăn lại thành hình
lòng mo. Các lá non ở ngọn xoăn lại nhiều hơn. Bệnh thường xuất hiện rõ nhất vào
giai đoạn ra nụ. Cuối giai đoạn sinh trưởng, cây bị bệnh nặng sẽ lùn hẳn xuống,
cành cong queo, quả rất ít hoặc hầu như không có.
Hình 1.1: Bệnh xoăn vàng lá cà chua
Bệnh xoăn lá có thể xuất hiện ngay từ khi cây còn nhỏ cho tới khi trồng ra
ruộng và tới khi thu hoạch, phổ biến nhất là khi cây bắt đầu ra hoa. Bệnh xuất hiện
+ Phân bố địa lý: TYLCV phân bố rộng khắp trên thế giới, nó xuất hiện ở
hầu hết các khu vực như: Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kì, Bán đảo Ả Rập, Châu Phi, Châu
Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc
+ Phổ ký chủ: Theo nghiên cứu của Cohen S, Antignus Y (1994) [55], phổ
ký chủ của virus TYLCV gồm 15 loài cây trồng thuộc 5 họ thực vật. Hầu hết các
cây họ cà đều là ký chủ của virus gây bệnh. Giống cà chua trồng (Lycopersicon