Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của một số giống dưa chuột có triển vọng trong vụ Xuân Hè 2009 tại Trung tâm Giống cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 19

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Mở đầu
Rau là loại cây trồng có nhiều chất dinh dưỡng và là thực phẩm cần thiết không thể
thiếu trong đời sống nhân dân. Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được
đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng
dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Ngành sản xuất rau cung cấp cho chúng ta sản phẩm của các
loại cây rau hằng năm, hai năm là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Dưa chuột Cucumis sativus L thuộc họ bầu bí, trong họ bầu bí thì dưa chuột là loại
được trồng nhiều hơn cả. Ở nước ta dưa chuột đã được trồng từ rất lâu, không chỉ để giải
quyết vấn đề thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày mà còn mang tính thương mại quan trọng.
Những năm gần đây, thị trường tiêu thụ rau xanh trong nước và thế giới ổn định,
kinh tế đối ngoại có nhiều cơ hội phát triển đó là điều kiện thuận lợi tiềm năng cho ngành
rau phát triển. Tuy ngành trồng rau trong đó có dưa chuột có nhiều khởi sắc nhưng trên thực
tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khác trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là ở các tỉnh
miền Trung, diện tích trồng rau nói chung và dưa chuột nói riêng có nhiều biến động qua các
năm. Năng suất chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình của cả nước. Có nhiều nguyên
nhân làm cho năng suất dưa chuột ở các tỉnh miền Trung còn thấp đó là do điều kiện thời tiết
quá khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra mưa lũ, hạn hán, đất đai nghèo dinh dưỡng, chưa có
bộ giống dưa chuột chuẩn và tốt. Đặc biệt là giống dùng cho chế biến công nghiệp và xuất
khẩu còn quá ít không đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất do vậy phải nhập ngoại, giá thành
cao và không chủ động trong sản xuất. Bên cạnh đó giống dùng cho ăn tươi, tiêu thụ nội địa
năng suất còn thấp, kém hiệu quả. Phần lớn hạt giống rau do dân tự để giống hoặc nhập nội
không qua khảo nghiệm kỹ. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng
của dưa chuột. Vấn đề đặt ra là phải tìm được những giống dưa chuột có khả năng sinh
trưởng và phát triển tốt, thích ứng với điều kiện thời tiết ở miền Trung cho năng suất cao, ổn
định đặc biệt là chất lượng dinh dưỡng mà giá thành sản xuất thấp phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá
khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của một số giống dưa chuột có triển
vọng trong vụ Xuân Hè 2009 tại Trung tâm Giống cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà,

thực phẩm [Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, Cây rau, Trường ĐHNN
HN, NXBNN, tr 206].
2.2 Vai trò của dưa chuột
2.2.1 Về dinh dưỡng
Các loại rau nói chung và dưa chuột nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời
sống hằng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe
và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh dưỡng
học trong và ngoài nước thì khẩu phần ăn của người Việt Nam cần khoảng 2300 - 2500 Calo
năng lượng hằng ngày để sống và hoạt động. Ngoài nguồn năng lượng cung cấp từ lương
thực, rau góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người. Rau không chỉ đảm
bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn mà còn cung cấp cho cơ thể con người các loại
vitamin và các loại đa, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi cơ thể. Hàm
lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm.
Dưa chuột là một thức ăn rất thông dụng và còn là một vị thuốc có giá trị. Thành
phần dinh dưỡng gồm Protein (đạm) 0,8g; glucid (đường) 3,0g; xenlulo (xơ) 0,7g; năng
lượng 15 kcalo; Canxi 23mg; Phospho 27mg; Sắt 1mg; Natri 13mg; Kali 169mg; Caroten
90mcg; Vitamin B1 0,03mg; Vitamin C 5,0mg.
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng trong 100g rau ăn được
[ Mai Thị Phương Anh, Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, HNN 1996; 9]
Chỉ tiêu
Thành phần hóa học (g%)
Calo/
100g
Vitamin ( mg%)
Nước Protit Glu Tro B1 B2 PP C
Bầu 95,1 0,6 2,9 0,4 14 0,02 0,03 0,40 12
Dưa chuột 95,0 0,8 3,0 0,5 16 0,03 0,04 0,10 5
Bí xanh 95,5 0,6 2,4 0,5 12 0,01 0,02 0,03 16
3
Bí đỏ 92,0 0,3 6,2 0,8 27 0,06 0,03 0,40 8

556
5.157,1
695
2.417
222
5.050
194,4
Tổng thu nhập (1.000đ/ha) 23.552,2 11.749,3 14.302,9 3.333 3.830
Thu nhập / công ( đ/công) 28,2 21,1 20,6 15,0 19,7
4
Trong quả dưa chuột có các loại chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein,
các loại vitamin A, C, B1, B2...Trước đây dưa chuột được sử dụng như loại quả tươi để giải
khát. Đến khi thị trường trong nước cũng như thế giới mở rộng, nhu cầu của người tiêu dùng
phong phú thì việc đa dạng hóa cách sử dụng là tất yếu. Ngày nay dưa chuột được sử dụng
dưới nhiều dạng khác nhau như quả tươi, trộn salat, cắt lát, đóng hộp xuất khẩu...
Bên cạnh đó dưa chuột còn là cây rau quả quan trọng cho nhiều vùng chuyên canh
mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, chi phí đầu tư thấp có
thể mở rộng trên nhiều vùng kinh tế khác nhau.
2.3 Tình hình phát triển dưa chuột trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
* Tình hình sản xuất
Theo số liệu thống kê từ FAO, năm 2007 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới
khoảng 2.583,3 ha, năng suất đạt 17,27 tấn/ha, sản lượng đạt 44160,94 nghìn tấn. Số liệu từ
bảng thống kê cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất với
1.653,8 ha chiếm 64,02% so với thế giới. Về sản lượng Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu
với 28062 nghìn tấn, chiếm 62,09% tổng sản lượng dưa chuột của thế giới. Sau Trung Quốc
là Nhật Bản với sản lượng 634 nghìn tấn chiếm 1,42% của thế giới. Như vậy chỉ riêng 2
nước Trung Quốc và Nhật Bản đã chiếm 64,32% tổng sản lượng của toàn thế giới.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất dưa chuột của một số nước trên thế giới qua các năm
2006, 2007

tiêu dùng ngày càng cao khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm được đảm bảo. Đặc
biệt là ở các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Canada, Đức...
* Tình hình tiêu thụ
Theo tính toán thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90 - 110
kg/người/năm tức khoảng 250 -300 g/người/ngày. Đối với các nước phát triển có đời sống
cao đã vượt quá xa mức quy định này: Nam Triều Tiên 141,1 kg/người/năm; Newzealand
136,7 kg/người/năm, Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm, ở Canada mức tiêu thụ rau bình
quân hiện nay là 227 kg/người/năm.
Trước nhu cầu về rau ngày càng tăng, một số nước trên thế giới đã có những chính
sách nhập khẩu rau khác nhau. Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều nhất thế giới là Pháp
đạt 145,224 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn); Anh (140,839
nghìn tấn); Đức (116,866 nghìn tấn). Trong khi đó, 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu rau lớn
trên thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìn USD); Canada (84.496
nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản (75.236 nghìn USD). Riêng đối
với dưa chuột đã trở thành mặt hàng xuất nhập khẩu quan trọng ở một số nước trên thế giới.
Bảng 2.4 Tình hình xuất nhập khẩu dưa chuột một số nước trên thế giới 2005
Nhập khẩu Xuất khẩu
Quốc gia Khối lượng (tấn) Quốc gia Khối lượng (tấn)
Hoa Kỳ 423.431 Tây Ban Nha 399.256
6
Đức 410.084 Mexico 398.971
Anh 104.054 Newtherland 360.054
Newtherland 66.901 Jordan 64.308
Pháp 59.019 Canada 54.967
Liên Bang Nga 44.112 Hoa Kỳ 48.460
Canada 42.470 Iran 36.948
Thế giới 1.545.819 Thế giới 1.331.695
( Nguồn: Records Copyright FAO 2006 )
Số liệu từ bảng 2.4 cho thấy hiện nay 5 nước có khối lượng dưa chuột xuất khẩu lớn
nhất là Tây Ban Nha (399.256 tấn), Mexico (398.971 tấn), Newtherland (360.054 tấn),

(bình quân mỗi năm đạt 224,4 triệu USD), trong đó khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu rau
Riêng đối với dưa chuột được xem là một trong những loại rau chủ lực, có diện tích
19.874 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng 33.537 tấn chỉ đứng sau cà chua.
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại rau chủ lực năm 2004 [ ]
Loại rau Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
Cà chua 20.648 17,34 357.210
Dưa chuột 19.874 16,88 33.537
Dưa hấu 18.140 17,82 322.890
Đậu rau 7.681 6,87 52.760
Cải các loại 26.184 22,64 592.805
Hành tỏi 14.678 15,84 232.500
Các vùng trồng dưa chuột lớn của cả nước bao gồm các tỉnh phía Bắc thuộc vùng
đồng bằng sông Hồng. Phía Nam, các huyện ngoại thành TP. Hồ Chí Minh, đồng bằng sông
Cữu Long như Tân Hiệp - Tiền Giang, Châu Thành - Cần Thơ, Vĩnh Châu - Sóc Trăng.
Miền Trung và Tây Nguyên gồm vùng rau truyền thống như Đà Lạt, Đơn Dương, Đức
Trọng (Lâm Đồng), các tỉnh duyên hải miền Trung ( Thừa Thiên Huế...).
* Tình hình tiêu thụ
Sản phẩm làm ra từ dưa chuột không chỉ để tiêu thụ tại chỗ mà một lượng khá lớn
được chế biến và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Mặc dù công nghệ sau thu hoạch
của nước ta còn thấp, song thị trường xuất khẩu vẫn chiếm một vị trí quan trọng.
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan kim ngạch xuất khẩu các loại dưa chuột
vào cuối tháng 04 năm 2007 đạt trên 571 nghìn USD, tăng 38% so với cùng kỳ tháng
03/2007. Trong đó có 03 doanh nghiệp có mức kim ngạch xuất khẩu dưa chuột các loại đạt
trên 50 nghìn USD là Công ty giao nhận và xuất nhập khẩu Hải Phòng, Tổng công ty rau quả
Nông sản, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Rau quả I.

đạt 18 triệu USD, tăng 46% so với tháng 7/08 và nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau trong 8
tháng đầu năm 2008 lên trên 112 triệu USD.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của nước ta trong 8 tháng đầu năm
2008 đều tăng ổn định so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, kim ngạch xuất sang hầu hết các
thị trường chủ lực đều tăng khá mạnh, 3 thị trường đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu hàng
9
rau quả của nước ta trong 8 tháng đầu năm là Nhật Bản, Đài Loan và Indonesia. Dưa chuột
vẫn là chủng loại đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu trong tất cả các loại rau.
Bảng 2.7 Tham khảo một số loại rau xuất khẩu tháng 8 và 8 tháng đầu năm
2008 [ ]
Chủng loại Thị trường
Kim ngạch xuất
khẩu tháng 8/08
( USD)
Kim ngạch xuât
khẩu 8 tháng đầu
năm 2008 (USD)
Dưa chuột Đài Loan, Nhật Bản
961.386,49 16.666.185,69
Hành
Nhật Bản, Đài
Loan, Singapore,
Đức
172.351,04 11.182.157,05
Ớt
Nhật Bản, Đài
Loan, Singapore,
Malaysia
1.246.460,52 27.848.342,74
Đậu các loại

- Giống PC1, Sao xanh 1 do GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự lai tạo.
Thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, cho năng suất cao, ổn định, được người
tiêu dùng ưa thích [ Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà, Giáo
trình Cây rau, Trường ĐHNN Hà Nội, Nxb Nông nghiệp, 2002].
- Dưa chuột bao tử: giống được đưa vào thử nghiệm là giống lai F1:
MirinbeII và Marinda, mật độ 14.000 cây/ha tại 3 xã Phú Mậu (Phú Vang),
Thuỷ Thanh (Hương Thuỷ) và Hương Long (Thành phố Huế). Mỗi điểm thử
nghiệm trên 1 vùng diện tích 500 m
2
. Dưa chuột bao tử giống MirabeII đạt 12
- 17 tấn/ha, Marinda đạt 10,0 - 17,2 tấn/ha. Nhìn chung tỷ lệ đậu bông, quả
đạt cao, kháng bệnh tốt, cho lãi cao khoảng 57 triệu đồng/ha/vụ.
Ngoài ra còn có các loại giống nhập nội cũng đã được đưa vào trồng thí
nghiệm như:
- Mummy 331: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt
đầu cho thu hoạch 35 - 37 NSKG, trái suông đẹp, to trung bình (dài 16 - 20
cm, nặng 160 - 200 g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm
chất ngon, dòn, không bị đắng, năng suất trung bình 30 - 50 tấn/ha.
- Giống 759: Nhập nội từ Thái lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35 - 37
NSKG, trái thẳng, to trung bình, gai trắng, màu trái hơi nhạt hơn nhưng năng
suất và tính chống chịu tương đương Mummy 331.
- Mỹ Trắng: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển và phân nhánh tốt, cho thu
hoạch 35 - 37 NSKG, tỉ lệ đậu trái cao, trái to trung bình, màu trắng xanh, gai
trắng, ít bị trái đèo ngay cả ở giai đoạn cuối thu hoạch.
11
- Mỹ Xanh: Nhập nội từ Thái Lan, cây sinh trưởng tốt, chống chịu tốt hơn
giống Mỹ Trắng, trái to tương đương Mỹ Trắng nhưng cho nhiều trái và năng
suất cao hơn.
- Happy 2 và Happy 14: Nhập nội từ Hà Lan, cây phát triển rất mạnh nên cần giàn cao, cây
cho 100 % hoa cái, có 10 % cây đực cho phấn. Do đó trong kỹ thuật trồng chú ý đảm bảo tỉ

nghiên cứu và phát triển Rau Châu Á (CS 085, CS 084, Chili 303...- Ks.
Trương Thị Hồng Hải,Đại học Nông Lâm Huế, 2001); giống dưa chuột bao tử
MirinbeII và Marinda (Thạc sĩ Đồng Sĩ Toàn và cộng sự Phòng Kinh tế thành
phố Huế)...
Ở một số nước có trình độ thâm canh cao (như Nhật Bản), người ta
thường ghép dưa chuột lên bí đỏ (vì bí đỏ không bao giờ bị bệnh Fusarium
phá hoại) để tăng cường sức chống bệnh cho dưa, lợi dụng bộ rễ ăn sâu và
khỏe của bí đỏ để làm cho dưa có khả năng tăng năng suất [ ]
2.5 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
2.5.1 Cơ sở lý luận
- Giống cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định rất lớn trong việc tăng năng suất và cải
thiện chất lượng sản phẩm. Sản phẩm của các chương trình giống cây trồng không chỉ tạo ra
các giống mới có ưu thế hơn các giống hiện có, mà điều quan trọng là phải duy trì và nhân ra
nhiều lô giống có chất lượng tốt cung cấp cho nông dân. Chọn giống có hiệu quả là giải
quyết tốt mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng và mối quan hệ
cũng phức tạp giữa cây trồng và môi trường để đảm bảo cho giống có năng suất cao và ổn
định, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với yêu cầu thâm canh và điều kiện sản xuất của địa
phương.
Các đặc tính của giống cây trồng được quyết định không những bởi môi trường và sự
chọn lọc ( tự nhiên và nhân tạo) đã tác động lên thành phần di truyền, mà còn được quyết
định bởi tính chất phong phú hay nghèo nàn của thành phần di truyền giống đó. Muốn khẳng
định giống mới có ưu thế hơn các giống khác thì phải qua khảo nghiệm và đánh giá một
cách cụ thể và chi tiết các loại giống. Mặt khác, mỗi loại giống cây trồng nói chung và dưa
chuột nói riêng phù hợp với một điều kiện đất đai, thời tiết và điều kiện ngoại cảnh nhất
định.
- Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có biện pháp kỹ
thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Tuy vậy trong thực tế sản xuất nhiều năm qua ở nước ta nông dân chưa thực sự chọn
tạo được giống phù hợp với điều kiện sản xuất mình và thích ứng với địa phương. Vì vậy
việc chọn tạo, khảo nghiệm giống mới là cần thiết và cần được duy trì liên tục.

Vd Id IIId IId IVd
Bảo vệ
Chú thích: I, II, III, IV, V là các công thức thí nghiệm tương ứng
a, b, c, d là các lần nhắc lại.
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB), 4 lần
nhắc lại.
- Số ô thí nghiệm 20 ô
- Diện tích mỗi ô 3,6m
2
- Diện tích thực hiện thí nghiệm 78 m
2
- Diện tích bảo vệ 30 m
2

- Diện tích toàn khu thí nghiệm 108 m
2
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm giống cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên Huế, vụ xuân 2009.
* Các biện pháp kỹ thuật áp dụng
15
- Làm đất: Do bộ rễ của dưa chuột phát triển yếu nên phải làm đất kỹ: Đất đảm bảo yêu cầu
tơi, xốp, đủ ẩm và sạch cỏ dại.
- Lên luống: Luống lên rộng 1,5 m, mặt luống 1,2 cm, rãnh 0,3 cm, cao 20 -30 cm.
- Lượng phân bón/ha và cách bón
Phân chuồng 20 tấn + 70kgN + 40kg P
2
O
5
+ 90kg K

Tổng thời gian sinh trưởng: tính từ khi gieo đến khi thu quả cuối cùng
16
* Các chỉ tiêu về sinh trưởng
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm):
- Tổng số cành cấp 1,cấp 2 trên cây.
- Động thái ra lá của các giống tham gia thí nghiệm.
* Quan sát đặc điểm hình thái của các giống
- Quan sát màu sắc lá,thân, hoa, vỏ quả, gai quả
- Chiều cao thân chính tối đa, số lá trên thân chính tối đa, số cành đếm được.
* Các chỉ tiêu về giới tính
- Tổng số hoa/ cây ( hoa)
- Tổng hoa cái/ cây ( hoa)
- Tổng hoa đực/ cây ( hoa)
Tổng số hoa cái
- Tỷ lệ hoa cái (%) = x 100
Tổng số hoa
Tổng số quả thu được
- Tỷ lệ đậu quả (%) = x 100
Tổng số hoa cái

Tổng số quả thương phẩm
- Tỷ lệ quả thương phẩm (%) = x 100
Tổng số quả thu được
* Các yếu tố cấu thành năng suất
- Mật độ (số cây/ m
2)
- Số quả đậu/ cây
- Số quả hữu hiệu/cây (quả)
-Khối lượng TB của mỗi quả
tổng kg quả

Cấp 9: > 50% diện tích lá
[(N1 x 1) + (N3 x 3) +...+(Nn x n)]
- Chỉ số bệnh = x 100
N x n
Trong đó: N1 là số lá bị bệnh ở cấp 1
N3 là số lá bị bệnh ở cấp 3
Nn là số lá bị bệnh ở cấp n
N là số lá điều tra
N là số cấp bệnh cao nhất
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu
Mỗi ô theo dõi 10 cây bất kỳ ở giữa luống cố định, các chỉ tiêu về quả theo dõi 10
quả ngẫu nhiên trên luống.
18

Trích đoạn Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống Các chỉ tiêu về hình thái, chất lượng quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status