nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn của cây cao su ghép tại phú hộ phú thọ - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THU CÚC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ
KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ
XUẤT VƯỜN CỦA CÂY CAO SU GHÉP
TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ

MÃ SỐ: 60.62.01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH VINH HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông
tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Cúc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii


MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trên thế giới và trong nước 5
1.3. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây cao su trên thế giới 7
1.4. Tình hình nghiên cứu về nhân giống cây cao su trong nước 16
1.5. Tình hình phát triển cao su tại vùng miền núi phía Bắc 24
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu 27
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống
và tỷ lệ xuất vườn của giống VNg 77-2 và VNg 77-4 28
2.4.2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến tỷ
lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của giống VNg 77-2 và VNg 77-4 28
2.4.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến tỷ lệ
sống và tỷ lệ xuất vườn của giống VNg 77-2 và VNg 77-4 29
2.4.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân vô vơ đến
sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn của cây cao su 10 tháng tuổi 30
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 31
2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của giống
VNg 77-2 và VNg 77-4 33


3.3.3. Ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến thời gian bật chồi của giống
VNg 77-2 và VNg 77-4 66
3.3.4. Ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến chiều cao chồi ghép của giống
VNg 77-2 và VNg 77-4 67
3.3.5. Ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến đường kính chồi ghép của giống
VNg 77-2 và VNg 77-4 69
3.3.6. Ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến sinh trưởng tầng lá 71
3.3.7. Ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến tỷ lệ xuất vườn và chất lượng cây
giống xuất vườn của giống cao su VNg 77-2 và VNg 77-4 73
3.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến sinh trưởng của cây cao su 10
tháng tuổi 74
3.4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến chiều cao của cây cao su 10
tháng tuổi 75
3.4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến đường kính của cây cao su
10 tháng tuổi 78
3.4.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến sinh trưởng tầng lá của cây
cao su 10 tháng tuổi 80
3.4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ đến tỷ lệ xuất vườn và chất lượng
cây giống xuất vườn của cây cao su 10 tháng tuổi 82
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1. Kết luận 85
2. Đề nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG



DANH MỤC HÌNH

3.1: Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến chiều cao chồi trên 2 giống VNg 77-
2 và VNg 77-4 38
3.2: Ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến tỷ lệ sống của 2 giống VNg
77-2 và VNg 77-4 48
3.3: Ảnh hưởng của tuổi cành gỗ ghép đến tỷ lệ sống của 2 giống VNg 77-
2 và VNg 77-4 64
3.4 : Ảnh hưởng của lượng phân bón đến chiều cao chồi của 2 giống VNg
77-2 và VNg 77-4 76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT

TÊN ĐẦY ĐỦ

C1, C2, C3

Cành gỗ ghép 5 tháng tuổi; 7 tháng tuổi; 9 tháng tuổi

DVT


mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh
thái. Diện tích cây cao su đang được phát triển ra ngoài vùng truyền thống (Đông
Nam Bộ và Tây Nguyên) tới các tỉnh miền núi phía Bắc càng minh chứng cho
giá trị của nó.
Diện tích cao su vùng miền núi phía Bắc khoảng hơn 28 nghìn ha (tính
đến năm 2014). Theo quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 3 tháng 6 năm 2009 của
Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2020 toàn vùng có khoảng 50.000 ha cao su. Vì
vậy, nhu cầu về giống trồng cho vùng là rất lớn.
Vùng miền núi phía Bắc có điều kiện khí hậu, đất đai khác biệt so với vùng
cao su truyền thống ở nước ta (Đông Nam bộ): đất trồng chủ yếu là loại đất đỏ
vàng được phân vào hạng III trong phân cấp đất trồng cao su, thành phần cơ giới
nhẹ, hàm lượng mùn thấp, do đó hiệu quả bón phân chưa cao; mùa Đông lạnh
kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây
cao su, thời kỳ mẫn cảm nhất là giai đoạn vườn ươm, tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn
của cây cao su ghép chưa đạt hiệu quả cao. Do đó, việc xác định giống có khả
năng chịu lạnh và các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp là tiền đề cho phát
triển cao su bền vững tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Hai giống cao su VNg 77-2 và VNg 77-4 được xác định có ưu điểm vượt
trội so với các giống đang khuyến cáo trồng ở vùng miền núi phía Bắc, đặc biệt
là khả năng chịu lạnh. Hiện nay, tại Phú Hộ, Phú Thọ có 1 ha vườn nhân gỗ ghép
giống VNg 77-2 và VNg 77-4 được xây dựng nhằm phục vụ nghiên cứu và sản
xuất giống cao su chịu lạnh cho vùng miền núi phía Bắc.
Ở nước ta hiện nay, cây giống chủ yếu được sản xuất tại vùng Đông Nam
bộ. Kỹ thuật nhân giống được áp dụng theo quy trình của Tập đoàn công nghiệp
cao su Việt Nam. Việc vận dụng quy trình nhân giống cây cao su trong điều kiện
vùng miền núi phía Bắc gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của điều kiện sinh
thái khác xa với vùng Đông Nam bộ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2


cao su tại khu vực và các vùng lân cận thực hiện, nhằm nâng cao hệ số nhân giống.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cơ sở khoa học của kỹ thuật ghép mắt cao su
Ghép cây là phương pháp nhân giống vô tính bằng cách cho tiếp xúc 2 bộ
phận sống của cây với nhau sao cho chúng có thể liên hợp, sinh trưởng, phát triển
như cây bình thường. Hai bộ phận của cây ghép được gọi là cành ghép (mắt
ghép) và gốc ghép. Ghép cây cao su là thay thế phần thân của cây gốc ghép bằng
một mầm của dòng vô tính đã được tuyển lựa với các đặc tính sinh trưởng, năng
suất và chống chịu tốt hơn gốc ghép.
Cây ghép mang các đặc tính giống hệt dòng vô tính đã cung cấp mắt ghép.
Kỹ thuật ghép cao su nhằm khắc phục các nhược điểm của cây trồng bằng hạt, đó
là sự khác biệt rất lớn giữa các cá thể về đặc tính sinh trưởng, năng suất và chất
lượng mủ không ổn định. Việc nhân giống bằng ghép mắt đã giúp vườn cây sinh
trưởng đồng đều và năng suất mủ tăng lên rõ rệt.
Mặt cắt ngang của thân cây cao su bao gồm các bộ phận cơ bản sau: phần
gỗ, libe và tượng tầng. Phần gỗ: Các tế bào gỗ non tạo thành các ống mạch, các
ống mạch này làm nhiệm vụ dẫn nước và dinh dưỡng khoáng từ rễ lên nuôi các
bộ phận bên trên. Libe: Dẫn các sản phẩm đồng hóa trên tán cây (sản phẩm
quang hợp) xuống các bộ phận bên dưới. Tượng tầng: Là mô phân sinh bên có
thể sinh ra tế bào mới. Tượng tầng chủ yếu phân sinh ngang, sinh ra gỗ mới,
mạch gỗ mới vào phía trong, sinh ra libe mới, vỏ mới ra phía ngoài. Tượng tầng
sinh trưởng mạnh trong mùa sinh trưởng của cây.
Ghép cao su là việc đưa tượng tầng của một mảnh vỏ có chứa mắt ghép
tiếp xúc với tượng tầng của gốc ghép, nơi mà lớp vỏ gốc ghép đã được bóc ra.
Đối với ghép mắt, quan trọng nhất là sự tiếp xúc giữa tượng tầng của cành ghép
và tượng tầng của gốc ghép. Nhờ sự tiếp xúc này cùng với quá trình phân chia

B
6
…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp
mạnh. Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ
và hơi vàng. Nhưng nếu bón thừa đạm, cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đổ ngã,
nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều.
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng. Lân có
tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ.
Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của
rễ, ra hoa, sự phát triển của quả và hạt. Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả
năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm. Nếu
thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng, lá màu xanh
đậm, sau chuyển dần sang vàng, thân cây mềm, thấp, năng suất chất khô giảm.
Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình
đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình sử dụng
đạm ở dạng NH
4
+
, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu
bệnh, chịu hạn và rét. Do vậy, thiếu kali thì cây có biểu hiện về hình thái rát rõ
như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lụ tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiện
những chấm đỏ, lá bị khô rồi rủ xuống (dẫn theo Đào Thị Thắm, 2011).
Phân bón là một trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến,
thường xuyên đem lại hiệu quả lớn. Tuy nhiên, bón phân cần phải cân đối để
cung cấp cho cây các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp,
thời gian bón phân hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ

Campuchia và tổng diện tích gieo trồng tại hai nước bằng khoảng hơn 10% diện
tích tại Việt Nam (Đỗ Bảo Ngọc, 2014).
Năm 2013, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 3 trên
thế giới với sản lượng 949.000 tấn, chiếm 7,9% tổng sản lượng của thế giới
(Thanh Thủy, 2014). Năng suất cây cao su năm 2013 ước đạt 1.737 kg/ha, tăng
nhẹ 1% so với năm 2012. Đây là năm thứ tư liên tiếp kể từ năm 2010, cao su Việt
Nam giữ được năng suất trên 1,7 tấn/ha và là một trong 3 nước có năng suất cao
nhất trên thế giới cùng với Ấn Độ và Thái Lan. Tổng sản lượng cao su khai thác
và nhập khẩu đạt 1.228,4 nghìn tấn. Trong đó, mục đích xuất khẩu chiếm tỷ trọng
từ 69,6% - 87,8%, tiêu thụ trong nước chiếm tỷ trọng từ 12,2% - 30,4% tổng sản
lượng cao su khai thác và nhập khẩu. Sản lượng nhập khẩu cao su của Việt Nam
năm 2013 đạt 313 nghìn tấn. Hàn Quốc, Campuchia, Nhật Bản, Đài Loan, Thái
Lan là các thị trường nhập khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam.
Theo Tổng cục Hải Quan, lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong
năm 2013 đạt khoảng 1,1 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đứng thứ tư thế giới với
giá trị đạt 2,5 tỷ USD, tăng 5,2% về khối lượng nhưng giảm khoảng 12,9% về
giá trị. Xuất khẩu cao su vẫn đứng trong nhóm 3 mặt hàng đạt kim ngạch xuất
khẩu cao nhất trong nhóm hàng nông sản, sau gạo và cà phê (Trần Tuấn Anh,
2014).
Giá xuất khẩu cao su bình quân năm 2013 đạt khoảng 2.316 USD/tấn
giảm khoảng 17,2% so với năm 2012. Nguyên nhân chính khiến giá cao su giảm
sâu trong năm 2013 là do nguồn cung cao su thiên nhiên liên tục vượt cầu, bên
cạnh đó khủng hoảng nợ công ở Châu Âu kéo dài làm ảnh hưởng nặng nề đến
nền kinh tế khu vực này, dẫn đến thu hẹp mức tiêu thụ cao su của ngành sản xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

lốp xe, và một số ngành công nghiệp khác. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế chậm tại
những nước quốc gia tiêu thụ chính như Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cũng
khiến nhu cầu sụt giảm (Nguyễn Xuân Quý, 2014).

CNSAM 7701 (102,14 cm; 4,56cm/năm); RO/I/6386 (94,23cm; 3,85cm/năm) và
RO/I/2461 (91,56; 3,94cm/năm). Hầu hết các dòng vô tính này đều mẫn cảm với
bệnh rụng lá mùa mưa (Wang Zeyun et al., 2001).
Theo Adi Daslin and Sekar Woelan (2006), khi đánh giá những dòng cao
su mới tại Indonesia cho thấy: Một số dòng vô tính series IRR 100 và 200 như
IRR 104, IRR 112, IRR 118, IRR 211 và IRR 220 có tiềm năng sản lượng mủ và
gỗ thích hợp khuyến cáo cho sản xuất. Các dòng vô tính IRR 104, IRR 211 và
IRR 220 có sản lượng cao nhưng tiềm năng gỗ trung bình. Các dòng vô tính mủ
gỗ như: IRR 112 và IRR 118. Các dòng vô tính này có tiềm năng cao về sản
lượng mủ và gỗ, thời gian kiến thiết cơ bản ngắn (hơn 4 năm).
Yêu cầu đầu tiên của Viện Nghiên cứu cao su Campuchia là kiểm tra
những dòng vô tính chọn lọc từ nước ngoài để tìm vật liệu trồng phù hợp nhất.
Chương trình chọn tạo giống tại Campuchia mới chỉ bắt đầu những năm gần đây.
Các thí nghiệm qui mô lớn đã được thiết lập tại viện nghiên cứu cao su
campuchia. Kết quả so sánh về sinh trưởng và sản lượng của 29 dòng vô tính thu
được những kết quả khác biệt so với các nước khác: PB 235, PB 280, PB 330,
IRCA 111 và IRCA 230 ở giai đoạn kiến thiết cơ bản sinh trưởng khỏe. Ngược
lại PB 260, PB 314 và IRCA 109 sinh trưởng kém hơn GT1. Sinh trưởng của
dòng vô tính PB 217 tương đối tốt để cho phép phát triển dòng vô tính này ở
Campuchia. Ở giai đoạn đầu, dòng vô tính PB 217 chưa cho thấy có tiềm năng
sản lượng mủ cao. Hai dòng vô tính PB 330 và IRCA 230 là những dòng vô tính
có thể phát triển cao su tiểu điền (Chetha and Bunthuon, 2006).
Vùng Đông Bắc Ấn Độ phải chịu nhiều điều kiện bất lợi như nhiệt độ
thấp, nhiều gió, cao trình cao và sự hoành hành của nấm Oidium hevea. Các
chương trình nhân giống cho khu vực này bao gồm: đánh giá dòng vô tính, nhân
giống tái tổ hợp, đánh giá con lai đa giao và đánh giá đa dạng di truyền. PB 235,
RRIM 600, RRII 2003, RRII 208, RRIM 703, RRII 118 và Haiken 1 được xem là
những dòng vô tính cao sản ở Trpura. Kết quả so sánh với cùng dòng vô tính
trồng ở Assam (cao trình thấp) và Meghalava (cao trình cao) cho thấy có sự biểu
hiện rất khác biệt: các dòng vô tính RRIM 600, RRII 118 và RRII 105 có thành

B và tập trung ở các tỉnh: Vân Nam, Hải Nam,
Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc đã thành công trong việc phát triển cây
cao su có hiệu quả trong điều kiện môi trường không thuận lợi (tới hạn) đối với
cây cao su. Các yếu tố bất lợi cơ bản đối với cây cao su ở Trung Quốc là khí hậu
mùa đông lạnh, cao trình cao, đối với một số vùng như đảo Hải Nam thì thường
xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, để hạn chế tác hại của các yếu tố này
Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo
hình thích hợp đối với từng vùng trồng cao su cụ thể.
Chương trình cải tiến giống cao su ở Trung Quốc được thực hiện do South
China Academy of Tropical Crops nay là China Academy of Tropical Science ở
đảo Hải Nam và Yunan Reaserch Institute and Tropical Crops ở tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc đã tạo tuyển một số dòng vô tính chịu lạnh, đạt năng suất cao và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

được khuyến cáo diện rộng: Yunan 2777-5 (2.036 kg/ha/năm), SCATC 7-33-97
(1.977 kg/ha/năm), Dfeng 95 (1.619 kg/ha/năm), SCATC 88-13 (1.592
kg/ha/năm). Và đến năm 1999, Ủy ban kiểm tra đánh giá giống cây trồng Trung
Quốc đã công nhận và cho phép mở rộng sản xuất hai giống mới là Vân Nghiên
77-2 và Vân Nghiên 77-4.
Vân Nghiên 77-2 là giống do Viện cây trồng nhiệt đới Vân Nam lai từ
giống GT 1 x PR 107. Trong thí nghiệm, Vân Nghiên 77-2 biểu hiện sinh trưởng
nhanh, chịu rét, cao sản. Kết quả đánh giá sau 6 năm cạo mủ tại Viện cây trồng
nhiệt đới Vân Nam cho thấy: Năng suất mủ bình quân đạt 1.475 kg/ha
(3,6kg/cây/năm), hàm lượng cao su khô trung bình đạt 33,4%. So với đối chứng
tăng từ 164 - 179,7%.
Giống Vân Nghiên 77- 4 do Viện cây trồng nhiệt đới Vân Nam lai từ
giống GT 1 x PR 107. Vân Nghiên 77- 4 có khả năng sinh trưởng nhanh, sản
lượng cao, chịu rét. Kết quả đánh giá sau 6 năm cạo tại Viện cây trồng nhiệt đới
Vân Nam cho thấy: Năng suất mủ bình quân 1.119 kg/ha (2,65 kg/cây/năm), hàm

cao su vừa nhú không thích hợp ghép. Bình quân ôn độ dưới 20
0
C và thấp tuyệt
đối dưới 15
0
C không nên ghép. Tháng 4 tuy ghép được, gốc ghép và cành ghép lá
tương đối ít, dịch cây không nhiều, bóc vỏ khó, ghép không thuận lợi (dẫn theo
Nguyễn Văn Niệm, 2010).
Kỹ thuật nhân giống vô tính được hiệp hội cao su Ấn Độ và Đại học nông
nghiệp Kerala nghiên cứu cho thấy: tùy thuộc vào màu sắc và độ tuổi của mắt
ghép cũng như độ tuổi của cây gốc ghép được sử dụng, hai loại mắt được sử
dụng chủ yếu: mắt màu nâu, mắt màu xanh. Ghép mắt nâu thường được thực hiện
bằng cách ghép mắt màu nâu lấy từ cành gỗ ghép 1 năm tuổi trên vườn nhân vào
cây gốc ghép 10 tháng tuổi trong vườn ươm có chu vi là 7,5 cm ở vùng cổ rễ là lý
tưởng cho ghép mắt. Ghép mắt xanh: Mắt xanh được thu hoạch sau 6-8 tuần tuổi,
ghép vào gốc ghép từ 5-7 tháng tuổi, chu vi khoảng 2,5 cm ở gốc, với vỏ màu
nâu lên đến độ cao khoảng 15 cm, có thể được sử dụng đưa vào ghép. Ở Ấn Độ,
khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 thường thích hợp cho ghép mắt màu
nâu.
Ở Ấn Độ, phương pháp ghép mắt xanh trên gốc ghép thực sinh 4-6 tháng
tuổi để đạt được dạng stump bầu hoặc bầu 2 tầng lá ổn định trong vòng 10-12
tháng được ưa chuộng và phổ biến. Gần đây, Ấn Độ đã đưa vào sản xuất một loại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

cây giống có tầng lá chất lượng cao, gọi là cây luyện rễ. Cây luyện rễ là cây có
tầng lá được đặt trong chậu thể tích nhỏ, rất nhẹ, cây được phát triển trên nền cơ
chất là bột xơ dừa đã qua xử lý, bộ rễ của cây được tôi luyện để rễ phát triển
nhanh và sớm nhằm tăng sức chống chịu của cây trong những vùng khô hạn và
vườn cây nhanh ổn định. Sau nhiều năm đưa vào sản xuất, cây luyện rễ có thể rút

và sản lượng (Liu Songquan et al., 1990; Hao and Wu, 1996; Wang et al., 1989;
Xie-Hui et al., 1998).
Nghiên cứu của Wang Shoufeng cho thấy: kỹ thuật ghép non cao su được
thực hiện khi đường kính thân gốc ghép đạt đến kích thước 0,3 cm (gốc ghép
non) và đường kính thân gỗ ghép đạt đến kích thước từ 0,5 - 1,2 cm. Tuy nhiên,
việc này cũng rất khó thực hiện vì mắt ghép có kích thước lớn hơn gốc ghép nên
phải cắt tỉa mắt ghép cho thật nhỏ để vừa với gốc ghép và chỉ sử dụng các mắt
ngủ hoặc vừa rụng lá nhưng tỷ lệ cây ghép sống cũng rất thấp (Huang Shoufeng
et al., 1989; Lin Weifu et al., 1998).
Kết quả nghiên cứu nhân giống cây con bằng phương pháp nuôi cấy mô
(Chen Xiongting et al., 1998; Wang Zheyun et al., 2001) chỉ ra rằng cây con sản
xuất bằng phương pháp này cho sản lượng cao hơn 10 - 35%, tốc độ sinh trưởng
nhanh hơn 5% và thời gian mở miệng cạo cũng sớm hơn nửa năm so với cây con
sản xuất theo phương pháp truyền thống.
Chen et al. (2001) so sánh sinh trưởng và năng suất của cây tự ra rễ gồm
cây phát sinh trực tiếp từ phôi soma và cây vi giâm cành từ cây phát sinh soma
với đối chứng là cây ghép mắt truyền thống của 2 DVT là Haiken 1 và Haiken 2.
Về sinh trưởng cho thấy trung bình vanh thân của cây vi nhân giống là 109,1-
135,2% so với đối chứng. Năng suất trung bình trong 4 năm cạo đầu tiên của cây
vi nhân giống là 129,9-146,3% so với đối chứng. Mức chênh chênh lệch về sinh
trưởng và sản lượng của cây vi nhân giống và đối chứng biến biên tùy DVT.
Kế tiếp nghiên cứu trên, Chen et al. (2004) so sánh sinh trưởng và năng
suất của 4 dạng vật liệu trồng mới gồm: cây phát sinh trực tiếp từ phôi soma, cây
vi giâm cành từ chồi đỉnh và chồi chồi nách lá của cây phát sinh từ phôi soma,
cây ghép non với mắt ghép là cây phát sinh từ phôi soma và cây ghép mắt truyền
thống của các DVT tương ứng. Biểu hiện cả về sinh trưởng và sản lượng của các
dạng vật liệu có trải qua quá trình phát sinh phôi soma đều vượt hẳn đối chứng.
Nếu xếp theo thứ tự ưu tiên là cây phát sinh trực tiếp từ phôi soma, cây vi giâm
cành, cây ghép non với sinh trưởng vượt đối chứng là 24,7%, 20,2% và 9,1%;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Việc ghép non giải quyết được vấn đề không tương xứng giữa gốc ghép và
gỗ ghép (do vỏ của gốc ghép quá mỏng trong khi vỏ của gỗ ghép lại quá dày)
bằng cách kết hợp gỗ ghép non với gốc ghép non. Kết quả nghiên cứu cho thấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

phôi sôma phát triển từ việc nuôi cấy bao phấn hoặc nhị hoa in vitro, qua quá
trình phân chia và tổng hợp, sẽ phát triển đầy đủ thành chồi non tương tự như sự
phát triển của phôi hợp tử. Gỗ ghép được nhân giống in vitro theo cách này được
gọi là gỗ ghép non với kích thước đường kính thân từ 0,2 - 0,3 cm (dẫn theo Phan
Hoàng Sơn, 2009).
Nghiên cứu nhân giống cao su bằng chuyển nạp gen
Viện nghiên cứu Cao su Mã Lai đã sử dụng mô sẹo hình thành từ việc
nuôi cây túi phấn non làm vật liệu khởi đầu để xây dụng quy trình chuyển nạp
gen cho cây cao su (Arokiaraj and Wan, 1991).
Viện nghiên cứu cao su Ấn Độ cũng đã sử dụng kỹ thuật nuôi cấy túi phấn
non cây cao su để tạo ra mô sẹo nghiên cứu sự biểu hiện gen mã hóa enzyme
Superoxide dismutase (SOD) (Sobha et al., 2001). Tiếp theo đó, Ấn Độ đã thành
công trong việc tạo cây cao su chuyển gen mang gen SOD nhằm tăng tính kháng
khô miệng cạo. Gen homeobox trên cây cao su đã được phân lập và giả định có
tham gia vào sự biệt hóa tế bào tượng tầng để tạo nên ống mủ (Arokiaraj et al.,
2002). Đây là cơ hội để cải thiện chất lượng gỗ cao su bằng phương pháp chuyển
nạp gen.
Trung Quốc đã sử dụng kỹ thuật nuôi cấy túi phấn trong dự án tạo ra cây
cao su kháng lạnh bằng phương pháp chuyển nạp gen (Ming, 2008).
Theo Hadi, kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng mà cách thức đơn giản và
nhanh hơn là kỹ thuật ghép sớm. Thí nghiệm được thực hiện bằng cách ghép gốc
ghép trồng bằng hạt PB 260 với chồi nách có độ tuổi từ 3 và 6 tuần của DVT
RRIC 100. Ở nghiệm thức thứ nhất, cây con 3 tuần tuổi trong vườn ươm hạt
được nhổ lên và đem ra ngoài ghép rồi sau đó được trồng lại vào líp để tiếp tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status