BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Häc viÖn n«ng nghiÖp viÖt nam
NGUYỄN THỊ LOAN
NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN TỰ CHỦ THEO NGHỊ ĐỊNH
SỐ 43/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGÔ GIA TỰ TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Tuấn Sơn, người đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Kế hoạch và Đầu tư;
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, (Học viện Nông nghiệp Việt Nam); Ban
Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng tổ chức cán bộ,
Phòng Công tác học sinh sinh viên trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Giang
cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong
thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 31
2.2.1 Kinh nghiệm thực hiện tự chủ trong giáo dục đào tạo của một số
nước trên thế giới 31
2.2.2. Kinh nghiệm thực hiện tự chủ của một số trường đại học trong nước 34
2.2.3 Các bài học kinh nghiệm và những vấn đề cần giải quyết để thực
hiện tự chủ ở các trường đại học, cao đẳng trong nước 36
2.2.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan 38
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
2.2.5 Bài học cho trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Giang 39
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường Cao đẳng Ngô Gia Tự 42
3.1.2 Điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Giang 44
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ 45
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 46
3.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 47
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 47
3.2.4 Phương pháp chuyên gia 47
3.2.5 Phương pháp SOWT
48
3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu. 48
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Đánh giá triển khai thực hiện tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP
của Chính phủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Giang 49
4.3.4 Những tồn tại vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế trong
việc thực hiện tự chủ theo Nghị định 43/2006/ NĐ-CP của Chính
phủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự 102
4.4 Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện cơ chế tự chủ của
trường Cao đẳng Ngô Gia Tự đến năm 2020 105
4.4.1 Phương hướng phát triển của Trường đến năm 2020 105
4.4.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 106
4.4.3 Các giải pháp chủ yếu 106
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
5.1 Kết luận 117
5.2 Kiến nghị 118
5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước 118
5.2.2 Kiến nghị với tỉnh Bắc Giang 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 123
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CBCC : Cán bộ công chức
CBVC : Cán bộ viên chức
CĐNGTBG : Cao đẳng Ngô Gia Tự Bắc Giang
ĐHQGHN : Đại học quốc gia Hà Nội
KHCN : Khoa học công nghệ
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
NSNN : Ngân sách nhà nước
4.9 Nguồn ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp đáp ứng nhu cầu
chi thường xuyên của trường CĐNGTBG giai đoạn 2012-2014 68
4.10 Nguồn thu học phí, lệ phí của trường CĐNGTBG giai đoạn 2012-
2014 68
4.11 Nguồn thu sự nghiệp khác của trường CĐNGTBG giai đoạn 2012-
2014 69
4.12 Bảng tổng hợp các khoản chi hoạt động của trường CĐNGTBG giai
đoạn 2012-2014 71
4.13 Tổng hợp một số định mức chi của trường CĐNGTBG giai đoạn
2012 - 2014 73
4.14 Tổng hợp các chi phí chi thường xuyên của trường CĐNGTBG giai đoạn
2012-2014 74
4.15 Mức đảm bảo chi hoạt động thường xuyên của Trường CĐNGTBG
giai đoạn 2012-2014 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
4.16 Tổng hợp mức trích lập các quỹ của trường CĐNGTBG giai đoạn
2012-2014 79
4.17 Định mức thu nhập tăng thêm trường CĐNGTBG năm 2012 80
4.18 Thu nhập bình quân cán bộ viên chức tại trường CĐNGTBG giai
đoạn 2012-2014 81
4.19 Một số định mức chi thưởng của trường CĐNGTBG năm 2014 82
4.20 Định mức quỹ phúc lợi của trường CĐNGTBG năm 2012 83
4.21 Đội ngũ kế toán tại trường CĐNGTBG giai đoạn 2012-2014 88
4.22 Tổng hợp ý kiến đánh giá của Cán bộ, viên chức tại trường
CĐNGTBG về vấn đề tự chủ 93
quốc tế và thực hiện đổi mới cơ chế tài chính giáo dục”, do đó Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục và đào tạo. Phát triển giáo dục và
đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định cần đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục và đào tạo, đồng thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là
một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn
2011-2020. Như vậy, chủ trương đổi mới nền giáo dục Việt Nam trong đó có đổi
mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo từ trung cấp đến đại học là
một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xác lập triết lý giáo dục với tư
cách là nền tảng tư tưởng chỉ đạo và tầm nhìn để định hướng quá trình đổi mới
giáo dục nước nhà trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện kinh tế và ngân sách quốc gia
còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân
sách đáng kể đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Song song với đó, còn ban hành
nhiều chính sách với mục đích xây dựng một cơ chế tài chính phù hợp, nhằm
thực hiện mục tiêu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, chất lượng, hiệu quả và
công bằng, hội nhập với xu thế phát triển trên thế giới. Ngay từ đầu những năm
2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về chế độ tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp có thu, Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định về quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Trên cơ sở Nghị quyết số 35/2009/QH12
ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số
Page 3
Việc thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính
phủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tốt
như quy mô và hình thức đào tạo từ một trường đào tạo chuyên về sư phạm đã
chuyển sang đào tạo đa hệ, đa ngành, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao
phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thực
hiện cơ chế tự chủ của trường cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm yếu kém như:
Công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính, công tác tổ chức bộ máy biên
chế, công tác tuyển sinh đào tạo hiệu quả còn chưa cao.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính
phủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Giang” với mong muốn tìm hiểu
thực trạng tự chủ và quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự Bắc
Giang, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác
quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính, sử dụng bộ máy biên chế, sử dụng cán
bộ công chức, viên chức, quá trình thực hiện nhiệm vụ từ đó, đề xuất giải pháp
tăng cường thực hiện cơ chế tự chủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc
Giang thời gian tới.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực hiện tự chủ theo Nghị định 43/2006/
NĐ-CP của chính phủ tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Giang thời gian
qua đề xuất giải pháp đẩy mạnh thực hiện và nâng cao chất lượng thực hiện cơ
chế tự chủ của trường trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện tự chủ theo Nghị
định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ trong đơn vị sự nghiệp có thu và các trường đại
học, cao đẳng.
- Đánh giá thực trạng thực hiện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực
+ Số liệu nghiên cứu thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2012-2014, giải
pháp đề xuất cho giai đoạn 2016-2020.
+ Thời gian tiến hành nghiên cứu: Tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
PHẦN II
CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng
2.1.1.1 Khái niệm tự chủ
Tự chủ là một hệ giải pháp có cấu trúc chặt chẽ nhằm đến việc cải thiện
môi trường giáo dục để nâng cao chất lượng dạy và học. Bản thân sự tự chủ
không phải là một bảo đảm về chất lượng cao và không tự chủ không có nghĩa là
ngăn trở các cải cách. Các yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục là
năng lực và thái độ học tập của sinh viên, tầm nhìn và tính năng động của hệ
thống quản lý và sự tín nhiệm của xã hội đối với sản phẩm đào tạo. Người ta
mong đợi là sự tự chủ sẽ cho phép sẽ tạo ra một nền tảng để phát triển những yếu
tố này hơn là một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau với tất cả những điều kiện mâu
thuẫn làm kéo giảm chất lượng giáo dục đại học. Đã có những bằng chứng về sự
thành công ở các trường đại học, cao đẳng tự chủ đáp ứng được sự mong đợi đó.
Hạt nhân của khái niệm tự chủ là văn hoá quản lý phân quyền. Sự phân
cấp về trách nhiệm công việc và trách nhiệm giải trình trong học thuật cũng như
là trong các chức năng quản lý được tiến hành đồng thời là điều thiết yếu để đảm
Xét về bản chất nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị
phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục vụ
cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước (Lê Tấn Lượng, 2011).
2.1.1.3 Khái niệm quản lý tài chính
Quản lý tài chính là quản lý các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng
các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp
khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế
- tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất
nước (Lê Tấn Lượng, 2011).
Quản lý tài chính là việc sử dụng các công cụ quản lý tài chính nhằm phản
ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch
quản lý và sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
đơn vị (Lê Tấn Lượng, 2011).
2.1.1.4 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Khoản 1 Điều 9 Luật viên chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 quy định: ‘‘Đơn vị sự nghiệp
công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân,
cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước’’.
Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau:
- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm
quyền ở Trung ương hoặc địa phương.
- Được nhà nước cấp kinh phí, tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị,
chuyên môn, được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ quy
quyền khác bị hạn chế nên các đơn vị còn gặp khó khăn trong quá trình hoạt
động. Ngày 25/4/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thay
thế Nghị định 10/2002/NĐ-CP. Theo Nghị định này các đơn vị sự nghiệp Giáo
dục - Đào tạo công lập được mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập. Việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp không phải là “tự chủ
tuyệt đối” mà tự chủ luôn gắn với trách nhiệm.
Trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo công lập đó
chính là việc chuyển đổi quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước sang cho
các đơn vị sự nghiệp có quyền tự quyết các vấn đề trong hoạt động của mình trong
khuôn khổ pháp luật (thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế, tài chính)
đồng thời phải chịu trách nhiệm về các vấn đề tự quyết đó.
Khi nói tự chủ trong giáo dục, người ta nhấn mạnh tự chủ về tài chính, tự
chủ chương trình, tự chủ tuyển sinh, tự chủ kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục,
quyết định phương thức đào tạo, tự chủ cho giáo viên trong trường, tự chủ cho học
sinh, sinh viên trong việc lựa chọn ngành học, môn học, thầy dạy
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp
giáo dục và đào tạo công lập nhằm hướng mục tiêu:
- Phân biệt chức năng quản lý Nhà nước với chức năng điều hành các hoạt
động của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập. Các đơn vị này hoạt
động theo cơ chế riêng, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị trong lĩnh vực
Giáo dục - Đào tạo. Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong đơn vị sự
nghiệp Giáo dục - Đào tạo công lập thực sự phát huy có hiệu quả khi nó không
làm giảm quyền lực thực thụ của Nhà nước trong công tác quản lý giáo dục và
đào tạo;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
cấp các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật… phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
- Thứ ba: Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp
công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề
án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Thứ tư: Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước
đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn
lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động
sự nghiệp của Nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp công lập ở tất
cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một
mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời qua đó cũng thực
hiện xã hội hoá bằng cách thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho sự phát
triển của hoạt động sự nghiệp.
- Tăng sự chủ động, linh hoạt cho các đơn vị sự nghiệp có thu: Cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm đã tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị chủ động sử dụng
nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ
động phân bổ nguồn tài chính của đơn vị phù hợp yêu cầu của nhiệm vụ và có điều
kiện để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
- Nâng cao uy tín, thương hiệu trên cơ sở nâng cao chất lượng sản phẩm
giáo dục, đào tạo.
- Nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống và làm việc của CBGV :
Rõ ràng rằng, mục tiêu cơ bản và chính đáng của đại bộ phận người lao động
là thu nhập mà họ nhận được hàng tháng. Cơ chế tự chủ tài chính cho phép
người lao động có cơ hội góp phần tăng thu nhập của chính mình thông qua
việc tăng nguồn thu, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực của đơn vị, chênh
chủ tài chính đồng bộ, hiệu quả cho thấy đây là xu hướng phát triển tất yếu của
các đơn vị sự nghiệp nói chung, các cơ sở giáo dục đại học nói riêng nước ta.
2.1.2.2 Ý nghĩa của việc thực hiện tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Nguyễn Tấn Dũng cho biết: “Đảng và Nhà nước ta khẳng định giáo dục là
quốc sách hàng đầu; Đại hội XI của Đảng cũng đã xác định ba khâu đột phá chiến
lược trong đó xem việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất
lượng cao gắn với phát triển khoa học công nghệ là khâu đột phá chiến lược; Chính
phủ đã có chương trình hành động triển khai chủ trương, Nghị quyết của Đảng”
Theo Nguyễn Tấn Dũng (2014) cho rằng để thực hiện đổi mới căn bản toàn
diện nền giáo dục quốc dân trong đó có giáo dục đại học thì phải thực hiện đồng
bộ nhiều giải pháp, biện pháp, song nhận thức chung cho thấy việc giao quyền tự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học được coi là khâu quyết định, là
yếu tố đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Đặc biệt, qua thực hiện tự
chủ của một số trường đại học như Đại học Tôn Đức Thắng đã thực hiện tự chủ
hoàn toàn từ năm 2008 cơ chế tự chủ giúp trường có được trên 1.000 cán bộ giảng
dạy có chất lượng, tạo ra một tổng tài sản hơn 1.000 tỷ đồng trong 6 năm và sinh
viên ra trường được thị trường lao động chào đón với nhiều mô hình thành công
và kết quả bước đầu rất đáng hoan nghênh của các trường đại học cho thấy chủ
trương của Đảng và nhà nước về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các
trường đại học đã khẳng định đây là chủ trương đúng, phù hợp với thực tiễn.
Nguyễn Tấn Dũng (2014) đã phát biểu tại cuộc họp về giáo quyền tự chủ
đối với các trường đại học ngày 26/8/2014 như sau: “ Tự chủ không chỉ thực hiện
được mục tiêu đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao mà quan trọng hơn là
tạo động lực để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giúp hệ thống giáo dục đại
học của Việt Nam phát triển nhanh và bền vững”.
hội nhất định như: chương trình xoá nạn mù chữ, chương trình xoá đói giảm
nghèo, chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, chương trình …Các chương
trình này chỉ có nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách
đầy đủ và hiệu quả. Nhà nước duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp gắn
với các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước nhằm mang lại lợi ích cho người dân.
2.1.3.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nguồn thu
Theo quy định tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9 tháng 8 năm 2006
của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày
25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiêp
công lập, các đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động).
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự
nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động).
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí
hoạt động thường xuyên do Ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ (gọi tắt là đơn vị
sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định trên, được ổn định
trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.
Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập
có thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Page 15
+ Đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao.
+ Đơn vị sự nghiệp phát thanh, truyền hình.
+ Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường.
+ Đơn vị sự nghiệp kinh tế (duy tu, sửa chữa đê điều…).
+ Đơn vị sự nghiệp khác.
2.1.3.3 Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo
Theo cách phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập như trên, các trường
đại học, cao đẳng công lập vừa mang đặc điểm các đơn vị sự nghiệp có thu, vừa
mang đặc trưng riêng về lĩnh vực hoạt động giáo dục đào tạo.
Trường đại học công lập hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà
hướng về phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội. Các đơn vị này có trách nhiệm
đào tạo và nghiên cứu khoa học đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đội ngũ
cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu xây dựng
và phát triển kinh tế của đất nước.
Trường đại học công lập do nhà nước đầu tư xây dựng, cung cấp trang thiết
bị dạy học, bố trí cán bộ quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy và Nhà nước thống
nhất quản lý về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn
nhà giáo, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng. Kinh phí hoạt động thường xuyên
của trường đại học công lập chủ yếu do Ngân sách nhà nước cấp, bên cạnh đó,
trường có thêm kinh phí từ nguồn thu học phí, lệ phí và thu khác được giữ lại để
đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của trường. Các trường đại học công lập là các
đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động
thường xuyên. Các trường đại học, cao đẳng công lập được quyền chủ động trong
công tác đào tạo như: xây dựng đề cương, giáo trình môn học, kế hoạch giảng dạy
và học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo; tổ chức tuyển sinh theo chỉ
tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp
và cấp văn bằng theo thẩm quyền. Cũng như đơn vị sự nghiệp, trường đại học
công lập là đơn vị sự nghiệp công lập có thu được nhà nước trao quyền tự chủ, tự
phần chi phí hoạt động (theo quy định tại điều 9 Nghị định 43/2006/NĐ-CP).
Người đứng đầu đơn vị được quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn huy động, theo quy hoạch của
cấp có thẩm quyền phê duyệt, tham dự đấu thầu các hoạt động dịch vụ phù hợp
với chuyên môn của đơn vị; sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn
liên doanh với các tổ chức cá nhân và trong nước để đầu tư xây dựng mua sắm
máy móc thiết bị hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị
theo quy định của pháp luật.