đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa hiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính cây hoa hiên tại gia lâm – hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



TRỊNH THỊ HẰNG

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
CỦA TẬP ĐOÀN HOA HIÊN VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HOA
HIÊN TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ việc hoàn thành luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hằng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Thị Minh Phượng, là
người hướng dẫn trực tiếp, đã hết sức chỉ bảo, hướng dẫn để tôi có thể hoàn
thành được luận văn này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy cô giáo tại Bộ môn Rau-Hoa-
Quả, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Luận văn được hoàn thành có sự động viên của gia đình, bạn bè, các học
viên cao học và sinh viên thực tập tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn những
sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Hằng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Nam 19
1.4.2. Một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa cây cảnh 21
1.4.2.1. Tình hình nghiên cứu về giá thể nhân giống tại Việt
Nam 21
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.4.2.2. Tình hình nghiên cứu về phương pháp nhân giống vô
tính cây có củ trên Thế giới và Việt Nam 22
1.4.2.3. Ứng dụng chế phẩm kích thích ra rễ trên hoa cây cảnh
trên Thế giới và Việt Nam 24
1.4.3. Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới và Việt Nam 24
1.4.3.1. Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên Thế giới 24
1.4.3.2. Tình hình nghiên cứu hoa hiên ở Việt Nam 28
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu 30
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.4. Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1. Bố trí thí nghiệm 31
2.4.1.1.Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của
tập đoàn hoa hiên 31
2.4.1.3. Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của phương pháp chẻ thân
đến khả năng ra rễ và sinh trưởng của hom giâm hiên 32
2.4.1.4. Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm
kích thích ra rễ đến sự ra rễ và sinh trưởng của hom
giâm hoa hiên 32
2.4.1.5. Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao hom

trưởng của hom giâm hoa hiên 65
3.2.3. Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến sự ra rễ và
sinh trưởng của hom giâm hoa hiên 67
3.2.4. Ảnh hưởng của chiều cao hom giâm đến sự ra rễ và sinh
trưởng của hom giâm hoa hiên 69
3.2.5. Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra rễ và sinh trưởng
của hom giâm cây hoa hiên 70
3.2.6 Quy trình nhân giống vô tính hoa hiên bằng phương pháp
chẻ thân 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự
CT : Công thức
G : Giống
KHKT

: Khoa học kỹ thuật
MG : Mẫu giống
NST : Nhiễm sắc thể
TN : Thí nghiệm
VNĐ : Việt Nam đồng


mẫu giống hoa hiên trong năm 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội 45
Bảng 3.4. Kích thước ngồng hoa và số hoa/ngồng của một số giống,
mẫu giống hoa hiên tại Gia Lâm – Hà Nội 49
Bảng 3.5. Đặc điểm màu sắc hoa của một số giống, mẫu giống hoa
hiên 52
Bảng 3.6. Đặc điểm kích thước và dạng hoa của một số giống, mẫu
giống hoa hiên 56
Bảng 3.7. Kích thước cánh hoa của một số giống, mẫu giống hoa hiên 58
Bảng 3.8. Một số đặc điểm nhị, nhụy, bao phấn 60
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ hom sống, khả năng ra
rễ, ra lá của hom giâm hoa hiên 64
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống,
thời gian xuất hiện rễ và thời gian xuất hiện lá mới của hom
giâm hoa hiên 67
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của chế phẩm kích thích ra rễ đến chất
lượng hom giâm hoa hiên 68
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của chiều cao hom giâm đến tỷ lệ hom sống,
khả năng ra lá, khả năng ra rễ và chất lượng hom giâm hoa hiên 69
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ hom sống, khả năng ra
lá, khả năng ra rễ và chất lượng hom giống 71
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của thời vụ đến chất lượng hom giâm hoa hiên 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1a. Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số
giống, mẫu giống hoa hiên nhị bội 39
Hình 3.1b. Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số
giống, mẫu giống hoa hiên tam bội 40
Hình 3.1c. Hình ảnh nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của một số

biệt tập trung ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao như Đức, Anh,
Pháp, Hà Lan, Thụy Điển, Ý, Mỹ, Nhật,… Ngay ở Việt Nam, giờ đây hoa không
chỉ gắn liền với các dịp lễ tết, hội hè mà đã thường xuyên có mặt trong đời sống
hàng ngày của mỗi người dân, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
Hoa hiên (Hemerocallis spp) còn có tên gọi khác hoàng hoa, huyên thảo,
rau huyên hay kim châm thái… Loài cây này được biết đến với công dụng làm
thuốc, được sử dụng làm dược liệu bào chế tân dược trị một số bệnh như trị tiểu
buốt, chảy máu, điều kinh, vàng da, an thai, bổ máu, ngoài ra hoa hiên được sử
dụng làm nguyên liệu thực phẩm rất thơm ngon và bổ dưỡng.
Ở nhiều nước trên thế giới hoa hiên còn được biết đến với công dụng làm
đẹp cảnh quan công viên, công sở, trường học do có thời gian cho hoa dài, đa
dạng về màu sắc hoa. Như vậy, hoa hiên vừa có thể sử dụng trang trí trong thời
gian dài, không gây tốn kém như một số loại hoa thời vụ khác vì phải thay mới
thường xuyên, mặt khác có thể xen kẽ các giống với nhau để kéo dài thời gian
trang trí cho cảnh quan, giúp cho cảnh quan luôn tươi mới.
Hiện nay trên thế giới có hàng nghìn giống hoa hiên khác nhau đa dạng về
màu sắc, hình dáng, chủng loại mà ở Việt Nam chưa có. Ở nước ta hoa hiên chủ
yếu trồng ở Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, tuy nhiên trồng với diện tích nhỏ, giá trị về
cảnh quan chưa được quan tâm, chủ yếu được biết đến với công dụng làm thuốc.
Một nguyên nhân chính là chúng ta chưa có bộ giống tốt để phục vụ cho công tác
sản xuất. Cho đến nay nguồn gen hoa hiên ở Việt Nam vẫn chưa có những
nghiên cứu một cách hệ thống về thu thập, đánh giá và lưu trữ để duy trì, phát
triển cũng như để phục vụ cho công tác tuyển chọn và tạo giống mới.
Bên cạnh những nghiên cứu về thu thập, đánh giá và lưu trữ nguồn gen
hoa hiên thì nhân giống hoa hiên cũng là một đề tài cần được quan tâm. Phương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

pháp nhân giống vô tính hợp lý sẽ cung cấp một lượng lớn cây giống cho nghiên
cứu và sản xuất. Hoa hiên là cây lâu năm ra hoa vào mùa hè, chủ yếu được nhân


Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc
nghiên cứu, sản xuất cây hoa hiên.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Giới thiệu một số mẫu giống, giống hoa hiên có triển vọng cho sản xuất
và nghiên cứu lai tạo giống mới.
- Giới thiệu quy trình nhân giống hoa hiên bằng phương pháp giâm cành
đạt hiệu quả cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa hiên
1.1.1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại
Hoa hiên là thực vật có hoa thuộc chi hoa hiên (Hemerocallis spp), họ
Hemerocallidaceae, là một loài cây trồng lâu năm. Chi Hemerocallis có nguồn
gốc từ châu Á, có mặt trên khắp Trung Quốc, bắc Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn
Quốc (Surinder K. Gulia et al., 2009). Hoa hiên đã được trồng ở Châu Á trong
hàng thế kỷ, có niên đại ít nhất là 2600 năm trước công nguyên, được đưa vào
châu Âu đầu những năm 1500 và đến Mỹ vào năm 1890 (Ted L. Petit and
Dorothy J. Callaway, 2008). Theo truyền miệng của người Trung Quốc, hoa
hiên (được biết đến với tên huyên thảo) có niên đại vào 2697 năm trước Công
nguyên (Kitchingman, 1985), nhưng biên bản ghi nhận đầu tiên xuất hiện trong
các tác phẩm Giáo luật Khổng Tử có niên đại khoảng 551 – 479 trước Công
nguyên (Barnes, 2004). (Surinder K. Gulia et al., 2009)
A.B. Stout đã công bố phân loại của ông về Hemerocallis vào năm
1934, và nghiên cứu này là cơ sở phân loại được sử dụng cho đến ngày nay
(Ted L. Petit and Dorothy J. Callaway, 2008). Sử dụng bản thảo chuyên đề của
Stout, Shiu Ying Hu (1968b) đã công bố chuyên đề đầu tiên để phân loại 23
loài vào ba nhóm. Năm 1969, Hu công nhận bổ sung 2 loài: H. tazaifu (Hu

(Voth et al., 1968). Lá có thể đứng thẳng, cong ra ngoài, uốn cong gần đỉnh
hoặc có xu hướng gấp dọc gân lá (Surinder K. Gulia et al., 2009).
Lá hoa hiên có dạng dải dài, thuôn nhọn ở đỉnh, gốc lá dạng bẹ ôm lấy
thân. Mép lá nguyên hoặc lượn sóng, lá mọc tập trung ở gốc xếp thành hai
hàng đối nhau giống như rẻ quạt. (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
Màu sắc lá hoa hiên có thể có màu vàng xanh như ở loài H. fulva hoặc
màu xanh đậm ở loài H. Citrina. (Juerg Plodeck, 2002)
Hoa hiên có 3 loại hình sinh trưởng là ngủ nghỉ, bán thường xanh và
thường xanh. Loại hình ngủ nghỉ thường sinh trưởng vào mùa xuân và ngủ
nghỉ vào mùa đông. Vào mùa đông lá chuyển vàng và chết. Hoạt động ngủ
nghỉ của hoa hiên có thể xảy ra trong điều kiện ngày ngắn hoặc nhiệt độ thấp.
Trước khi lá chết, mầm ngủ nhỏ được hình thành trong cổ rễ của cây. Trong
mầm nhỏ, các lá đã được bảo vệ để tránh khỏi nhiệt độ thấp và sự mất nước
trong suốt mùa đông. Cây tiếp tục sinh trưởng vào mùa xuân khi nhiệt độ ngày
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

đủ ấm cho sự sinh trưởng. Loại hình thường xanh phát triển trong suốt cả năm,
bộ lá vẫn duy trì màu xanh trong suốt mùa đông với điều kiện thời tiết ấm áp.
Tuy nhiên trong điều kiện nhiệt độ quá thấp (nhiệt độ đóng băng), lá có thể bị
chết và cây ngừng sinh trưởng. Giống bán thường xanh phụ thuộc nhiều hơn
vào thời tiết, hoạt động sinh trưởng thường được quyết định bởi điều kiện môi
trường hiện tại. Những giống thuộc loại hình sinh trưởng này có thể là thường
xanh ở khí hậu ôn hòa nhưng có thể ngủ nghỉ ở những vùng có điều kiện thời
tiết khắc nghiệt hơn. Nhiều giống lai hiện đại trong lớp này, là kết quả lai giữa
loại hình thường xanh và loại hình ngủ nghỉ.(Surinder K. Gulia et al., 2009)
(Ted L. Petit and Dorothy J. Callaway, 2008)
1.1.2.2. Đặc điểm hoa
- Cấu tạo hoa
Hoa hiên lá hoa lưỡng tính, có mùi thơm hoặc không, cuống hoa ngắn.

cao sau khi tìm và là trọng tâm của chương trình nhân giống. (Ted L. Petit and
Dorothy J. Callaway, 2008)
Phần bên ngoài của cánh hoa được coi là màu sắc cơ bản của hoa. Các
dải màu của hoa hiên hiện nay bao gồm: màu vàng (từ vàng chanh nhạt, vàng
tươi, vàng sậm, đến màu da cam), màu đỏ (từ sắc đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ cà chua,
màu hạt dẻ, màu vang đỏ, đến đỏ thẫm), màu hồng (từ hồng nhạt đến hồng và
hồng đỏ), màu tím (từ màu hoa oải hương và màu hoa cà đến màu nho chín
hoặc màu tím), màu hồng cam hay kem hồng (từ màu kem nhạt đến màu hồng
cam), màu gần trắng (được tìm thấy ở sắc thái nhạt của các màu vàng, hồng,
màu hoa oải hương hoặc màu hồng cam). Họng hoa là khu vực trung tâm của
hoa. Ở hầu hết các loài hoa hiên màu sắc họng hoa khác với phần còn lại của
hoa. Thường thì họng hoa có màu xanh lá cây, vàng, vàng sậm, cam, màu quả
mơ, màu hồng cam. Nhị hoa thường có màu vàng đến xanh lục. Các bao phấn
thường có màu sẫm hơn, đôi khi là màu đen.
- Hình dạng hoa
Hình dạng hoa hiên có thể được mô tả khi quan sát trực diện hoặc bên
cạnh. Quan sát trực diện có thể thấy được một trong bốn hình dạng khác nhau.
Hoa tròn có cánh phẳng, ngắn, rộng chồng lên nhau. Hoa hình tam giác có
cánh hoa tương đối hẹp, tạo ra một hình tam giác. Hoa hình sao có cánh hoa
hẹp hơn so với hoa hình tam giác, các cánh hoa dài và hẹp nên không chồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

chéo lên nhau, bông hoa giống như một ngôi sao ba cánh hoặc sáu cánh.
Những bông hoa không theo một trong ba dạng hoặc thiếu tính thống nhất
được gọi là dạng hoa không chính thức.
Quan sát từ phía bên cạnh có thể mô tả được các dạng hoa như uốn
ngược với cánh hoa cong phía họng hoa hoặc hình chiếc ly, hoặc có hình loa
kèn, với cánh hoa vượt khỏi họng hoa, giống như một cụm hoa thủy tiên. Dạng
mặt phẳng với những cánh hoa tạo thành một mặt phẳng. (Bodie Pennisi, 2004)

ngồng hoa dài từ 4 đến 200 cm khác nhau tùy từng loài. Hoa hiên có thể có 1-3
ngồng hoa mỗi năm. Các cụm hoa có nguồn gốc ở đỉnh sinh trưởng hoặc nách.
Cụm hoa phân nhánh hoặc mang hoa đơn độc. (S.K.Gulia et al, 2009)
Ở hầu hết các loài mỗi ngồng hoa đều có hai hoặc nhiều nhánh, mỗi nhánh
mang nhiều nụ hoa. Dưới các nhánh, các cuống hoa đều có một vài lá giống như
lá bắc. Thỉnh thoảng có một cây con nhỏ mọc ở ngã ba giữa các nhánh, được gọi
là keyki, có thể được sử dụng như một cây giống mới trong trồng trọt.
1.1.2.4. Đặc điểm quả và hạt
Quả hoa hiên có dạng quả nang, hình tròn hoặc bầu dục; chia làm 3 ô
gồm 6 mảnh vỏ đóng mở theo cặp. Hạt nhỏ, bóng, màu đen, có hình tròn hoặc
hình elip. (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
1.1.3. Yêu cầu ngoại cảnh
Hoa hiên phát triển tốt nhất trong điều kiện ánh sáng mặt trời đầy đủ.
Chúng có thể chịu được bóng râm nhưng ra hoa tốt nhất với tối thiểu 6 giờ ánh
sáng trực xạ. Ánh sáng nhẹ vào thời điểm nóng nhất trong ngày giữ cho hoa
tươi lâu. Hoa hiên không nên trồng gần cây và bụi cây có khả năng cạnh tranh
độ ẩm và chất dinh dưỡng. (Mary H. Meyer, 2009)
Hoa hiên có thể phát triển mạnh trong hầu hết mọi điều kiện khí hậu.
Yêu cầu nhiệt độ của cây hoa hiên tuỳ thuộc vào từng loại hình sinh trưởng.
Một số giống hoa hiên có thể chịu được nhiệt độ lạnh khoảng -3
o
C. Một số
khác có thể chịu được nhiệt độ cao. Hoa hiên có thể trồng được vào bất kỳ thời
gian nào trong năm. Tuy nhiên, thời gian tốt nhất để trồng hoa hiên là vào mùa
thu hoặc mùa xuân khi có nhiệt độ đất thích hợp (Karen Russ, 2008).
Mặc dù hoa hiên có khả năng thích ứng với hầu hết các loại đất, nhưng
phát tiển tốt nhất trong điều kiện đất hơi chua, đất ẩm có hàm lượng chất hữu
cơ cao và thoát nước tốt. (Mary H. Meyer, 2009)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

chiếm hơn 13,362 tỷ USD, trong đó hoa cắt cành là 6,12 tỷ USD, hoa chậu và
hoa trồng thảm là 5,79 tỷ USD, loại dùng lá để trang trí là 893 triệu và các loại
hoa khác là 559 triệu USD (Lê Thị Thu Hương, 2009).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

Ngành trồng hoa thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ với sự
mở rộng sản xuất hoa trồng chậu và trồng thảm. Theo số liệu của Trung tâm
thương mại hoa thì tổng lượng hoa tiêu thụ trên thế giới tăng hàng năm là 10%,
trong đó tỷ lệ tiêu thụ hoa cắt chiếm 60%, hoa chậu hoa thảm 30% và các loại
cây trang trí khác 10%. Các nước xuất khẩu hoa thảm, hoa chậu lớn nhất thế
giới là Hà Lan, Đan Mạch và Bỉ. (Trần Hoài Hương, 2008)
Hà Lan là nước đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu hoa với thị trường
tiêu thụ rộng lớn khoảng 80 nước trên thế giới, gồm hoa cắt, hoa trồng thảm,
trồng chậu và cây trang trí. Trung bình một năm, Hà Lan cung cấp cho thị
trường 7 tỷ bó hoa tươi và 600 triệu chậu hoa cảnh các loại, tổng kim ngạch
xuất khẩu là 2 tỷ USD. Hoa thảm chiếm gần 10% diện tích hoa của Hà Lan.
(Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa là một thành phần quan trọng trong
nền kinh tế Mỹ, chiếm khoảng 10 tỷ USD, bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm,
trồng chậu và các cây dùng lá để trang trí. Ngoài các loại hoa truyền thống là
cúc, cẩm chướng và hồng thì các loại hoa khác cũng đang được phát triển
(Nguyễn Thị Kim Lý, 2009). Chỉ tính riêng thương mại hoa nội địa của Mỹ,
hoa trồng thảm chiếm 13,5% so với tổng số các loại sản phẩm khác như hoa
cắt, cây cảnh trong năm 1970. Con số này tăng lên trong năm 1979 (đạt 18,7%)
và năm 1988 đạt con số ấn tượng là 33,7%. Số liệu thống kê cho thấy chỉ tính
riêng bang Washington (Mỹ) thì cây trồng thảm chiếm tới 26% tổng sản lượng
công nghiệp buôn bán cây trồng (bao gồm cây trồng có củ, cây ăn quả, hoa cắt,
hạt cỏ …). Tổng doanh thu hàng năm các sản phẩm cây thảm của bang
Washington trong giai đoạn 1996 -1997 là $219,132,769. Giá trị tổng sản

thành một ngành công nghiệp có nhiều hứa hẹn với số lượng hoa cắt được bán
là 3,22 tỷ cành và hoa chậu hoa thảm được bán là 810 triệu cây (Trần Hoài
Hương, 2008). Từ năm 2001 đến 2006, nghề trồng hoa ở Trung Quốc nhanh
chóng phát triển. Trong năm 2006, tổng giá trị thu nhập của hoa và cây cảnh là
5,5 tỉ USD và tổng diện tích là 722.000 ha. Trong năm 2008, tổng diện tích đất
trồng tăng chậm lại (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Bảng 1.1 Sự tăng trưởng diện tích, số lượng và giá trị trồng hoa
tại Trung Quốc
Chủng loại
Diện tích (ha) Số lượng (triệu cây) Giá trị (triệu USD)
2001 2004 2006 2001 2004 2006 2001 2004 2006
Hoa cắt 12.491 35.138 41.603 3.704 8.868 12.568 279 476 605
Hoa giống 2.848 3.685 3.403 237 843 587 16 69 59
Hạt giống 3.938 4.149 5.061 951 15.421 9.760 7 18 32
Cây trồng chậu 7.090 10.706 14.807 907 1.334 2.672 63 139 153
Hoa từ củ 33.042 78.529 72.799 1.047 3.237 3.022 622 1.040 1.581
Cây ghép 116.407 356.011 401.639 3.747 13.123 12.372 375 2.222 2.670
Loại khác 60.091 147.788 182.824 - - - 796 342 552
Tổng 229.526 636.006 722.136 2.158 3.370 3.249
(Nguồn: Hoàng Ngọc Thuận, 2009, bài giảng hoa cây cảnh cao học K17)
Như vậy trong vòng năm năm diện tích trồng hoa cây cảnh tại Trung
Quốc đã tăng lên xấp xỉ 3 lần tương ứng với tổng thu nhập tăng lên 2 lần từ
2158 triệu USD năm 2001 lên 5562 triệu USD năm 2006. Trong đó, diện tích
trồng hoa cắt tuy tăng lên mạnh nhất là 3,3 lần nhưng giá trị chỉ tăng 2,2 lần

đới được trồng ở các vùng đồng bằng đến hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên
như Lâm Đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên Sơn, Sự phát triển
của ngành hoa Việt Nam trong thời gian qua đã mang lại cho các sản phẩm hoa
của Việt Nam sự đa dạng và chất lượng vượt bậc so với thời gian trước.
Trong những năm qua cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước,
nghề trồng hoa ở Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và sớm khẳng định vị thế của
mình trong nền kinh tế thị trường, góp phần đa dạng hóa cây trồng, nâng cao
thu nhập cho người dân ở các địa phương. Tuy nhiên, do quá trình đô thị hóa
diện tích trồng hoa giảm dần và thu hẹp lại. Nhưng nhu cầu về hoa cây cảnh
dường như không giảm nên ngoài những vùng có truyền thống về sản xuất hoa
cây cảnh như Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân đã xuất hiện các vùng
trồng hoa mới như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, Phú Hưng, Mê Linh, (Trần Hoài
Hương, 2008)
Ở Việt Nam, bên cạnh việc sản xuất hoa cắt cành thì việc trồng và
nghiên cứu hoa trồng chậu, trồng thảm đang ngày càng được quan tâm. Đặc
biệt trong những ngày lễ lớn, trên các trục đường chính, khu trung tâm, công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

viên, vườn hoa…luôn rực rỡ sắc màu bởi những thảm hoa. Ngoài ra hoa trồng
chậu, trồng thảm có những thế mạnh riêng, có thể tận dụng những diện tích
nhỏ như trên ban công, sân thượng…mà không cần đến diện tích quá lớn. Hơn
nữa do thời gian sinh trưởng quá ngắn nên yêu cầu chăm sóc đầu tư không lớn,
lại dễ vận chuyển phù hợp với người lao động có tuổi, phụ nữ hay trẻ em, hoa
trồng chậu, trồng thảm là hướng đi đích thực của ngành trồng hoa nước ta,
ngày càng góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà cũng như thỏa mãn nhu
cầu làm đẹp của con người. (Nguyễn Thị Kim Lý, 2006)
Hoa trồng thảm là những cây hoa thân thảo hoặc thân gỗ có chiều cao
dưới 1m, sống theo mùa trong năm hoặc 2 đến 3 năm. Màu sắc của hoa đa
dạng, tạo nên những mảng màu rực rỡ, chúng thường được trồng trong các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status