BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PHAN NGỌC DIỆP KHẢO SÁT GIỐNG VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT GIAI ðOẠN VƯỜN ƯƠM HOA CÁT TƯỜNG
TẠI GIA LÂM- HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. ðẶNG VĂN ðÔNG
thể hoàn thành ñược bản luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô Bộ môn Rau- Hoa- Quả, Khoa
Nông học, Viện ðào tạo sau ñại học ñã giúp ñỡ cho tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, kỹ sư thuộc Viện nghiên cứu
Rau Quả ñã tạo ñiều kiện mọi mặt cho tôi hoàn thành tốt luận văn.
Luận văn ñược hoàn thành có sự ñộng viên tinh thần to lớn của gia
ñình và bạn bè. Tôi vô cùng cảm ơn những sự giúp ñỡ quý báu ñó.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Phan Ngọc Diệp
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
iii
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1. Mục đích 2
1.2.2. Yêu cầu 2
4.1. Khảo sát, đánh giá đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển,
năng suất, chất lượng của một số giống hoa Cát Tường nhập nội 34
4.1.1. Giai đoạn vườn ươm 34
4.1.2. Giai đoạn trồng ra ngoài sản xuất 39
4.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật vườn ươm hoa Cát Tường 51
4.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt tới tỷ lệ nảy mầm, khả năng
sinh trưởng và chất lượng cây giống 51
4.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể gieo hạt tới tỷ lệ nảy mầm, khả năng
sinh trưởng và chất lượng cây giống 57
4.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng tới khả năng
sinh trưởng và chất lượng cây giống 63
4.2.4. Nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc phòng trừ bệnh đốm lá trên
cây hoa Cát Tường giai đoạn vườn ươm 68
4.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng tiêu chuẩn cây giống xuất vườn tới khả năng
sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa 70
V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
5.1. Kết luận: 79
5.2. Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
vDANH MỤC CÁC HÌNH
Bảng 2.1: Số lượng cành và tổng thu nhập từ bán buôn các loại hoa cắt ở Mỹ
2006-2007 10
Bảng 4.1: Tỷ lệ nảy mầm, thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, tỷ lệ cây
xuất vườn của các giống nghiên cứu 35
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao và số lá/cây của các giống 36
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu chất lượng cây giống xuất vườn của các giống Cát Tường 38
Bảng 4.4 : Mức độ bị sâu bệnh hại trên vườn ươm của các giống Cát Tường 39
Bảng 4.5: Một số đặc điểm hình thái của các giống nghiên cứu 40
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống và thời gian hồi xanh của các giống 42
Bảng 4.7: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống Cát Tường 43
Bảng 4.8: Động thái tăng trưởng số cặp lá/cây của các giống Cát Tường 45
Bảng 4.9: Thời gian sinh trưởng của các giống nghiên cứu 46
Bảng 4.10: Tỷ lệ nở hoa, chất lượng hoa của các giống nghiên cứu 48
Bảng 4.11: Mức độ bị sâu bệnh hại trên các giống nghiên cứu 50
Bảng 4.12: Tỷ lệ nảy mầm, thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, tỷ lệ cây
xuất vườn của cây hoa Cát Tường ở các thời vụ khác nhau 52
Bảng 4.13: Động thái tăng trưởng chiều cao và số lá/cây của của cây hoa Cát
Tường ở các thời vụ khác nhau 53
Bảng 4.14: Một số chỉ tiêu chất lượng cây giống Cát Tường ở các thời vụ
khác nhau 55
Bảng 4.15 : Mức độ bị sâu bệnh hại trên cây hoa Cát Tường ở các thời vụ
khác nhau 56
Bảng 4.16: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của cây
Cát Tường trên các loại giá thể khác nhau 58
Bảng 4.17: Động thái tăng trưởng chiều cao cây, số lá/cây của cây Cát Tường
trên các loại giá thể khác nhau 59
Bảng 4.18 : Một số chỉ tiêu chất lượng cây giống Cát Tường 61
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
vii
viiiDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTCTTN Công thức
Cs Cộng sự
ĐC Đối chứng
ĐK Đường kính
PS Phù sa
PC Phân chuồng
TGST Thời gian sinh trưởng
TT Thứ tự
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
1
I. MỞ ðẦU
1.2. Mục ñích, yêu cầu
1.2.1. Mục ñích
+ Khảo sát giống nhằm lựa chọn giống hoa Cát Tường sinh trưởng, phát
triển tốt, năng suất, chất lượng hoa cao, phù hợp với điều kiện Gia Lâm- Hà Nội.
+ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật giai đoạn vườn ươm nhằm nâng
cao chất lượng cây giống, hạ giá thành sản xuất từ đó thúc đẩy phát triển sản
xuất hoa Cát Tường ở miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung.
1.2.2. Yêu cầu
+ Khảo sát, đánh giá được đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng,
phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống hoa Cát Tường nhập nội
+ Xác định được thời vụ gieo hạt
+ Xác định được giá thể gieo hạt
+ Xác định được chế phẩm dinh dưỡng
+ Xác định được thuốc hóa học phòng trừ bệnh đốm lá
+ Xác định được tiêu chuẩn cây giống xuất vườn
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của ñề tài
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc
điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của một
số giống hoa Cát Tường nhập nội; các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao tỷ lệ
nảy mầm, khả năng sinh trưởng và chất lượng của cây giống Cát Tường giai
đoạn vườn ươm.
+ Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu về
hoa nói chung và hoa Cát Tường nói riêng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc đề xuất các giống hoa
Cát Tường sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng hoa cao; các biện
pháp kỹ thuật gieo hạt và chăm sóc thích hợp cho cây hoa Cát Tường giai đoạn
vườn ươm.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
4
- Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt
độ mát. Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông. Nhóm này thường
có các màu là trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía.
- Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao
hơn. Thích hợp trồng vụ xuân đến hè. Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ
ngày dài. Nhóm này thường có các màu là xanh, viền xanh, xanh tía.
- Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp.
Các màu thường là xanh tía và màu vàng.
- Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu
kỳ ngày ngắn. Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa.
- Nhóm Echo: nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa Cát Tường.
Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ
đông xuân. Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng,
hồng tía, trắng tuyền.
- Nhóm Mariachi: nhóm này thích hợp trồng trong chậu. Đặc điểm
giống này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên
nhìn rất đẹp. Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt…
+ Giống hoa ñơn:
dài các đốt thay đổi theo từng giống. Thân chính có khả năng phân nhánh
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
6
mạnh sau khi cây hình thành nụ hay ưu thế ngọn bị phá vỡ do bị gãy ngọn hay
bị sâu cắn ngọn. Cây có thể cao từ 15 đến 120cm, tùy giống.
- Lá: lá cây Cát Tường hơi mọng nước, mọc đối, hầu như không có
cuống và có màu xanh xám. Lá dưới cùng ở trên thân là lá to nhất, thường dài
khoảng từ 11 - 12,7cm và rộng từ 6,7 - 7,6cm. Càng ở phía trên cao của thân
thì lá càng nhỏ hơn, thường dài dưới 5cm và rộng khoảng 1,2 - 1,3cm.
Đặc điểm của lá thay đổi rất lớn giữa các giống khác nhau. Hình dạng
lá cơ bản thường là hình trứng hoặc hình thuôn, nhưng một vài giống qua quá
trình chọn lọc lại có dạng mác hoặc dạng hình mác ngược.
Màu sắc của lá cũng thay đổi rất lớn từ màu xanh xám (như lá màu hoa
cẩm chướng) tới màu xanh sáng, màu xanh tối, và xanh lục.
- Hoa: hoa Cát Tường đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước. Hoa
có màu tím, xanh, trắng, hồng, vàng… và đặc biệt có 2 màu. Hoa có nhiều
dạng khác nhau như hình chuông, hình ống, hay cánh bên ngoài phẳng, cánh
bên trong hình ống Hoa Cát Tường thường được mô tả giống hoa hồng ở
giai đoạn nụ, giống hoa tuylip khi bắt đầu nở và như hoa anh túc khi chúng đã
nở hoàn toàn. Hoa có 2 dạng hoa đơn và hoa kép.
- Quả: cây Cát Tường có khả năng đậu quả cao, dạng quả nang tự nở.
Khi quả còn non có màu xanh đậm, khi chín vỏ quả chuyển sang màu xanh
xám và vỏ quả nứt ra. Thuộc dạng quả nẻ, hình tròn, mỗi quả có vài trăm hạt.
- Hạt: hạt có kích thước rất nhỏ, khoảng 19.000 hạt/gam với nội nhũ
dầu nhiều, phôi mầm lớn. Khi còn non, hạt có màu kem, khi chín hạt có màu
đen nhánh. Đôi khi phôi mầm lớn và nội nhũ nhiều dầu, nên trong điều kiện
bảo quản kém, hạt có thể mất sức nảy mầm.
2.1.4. Yêu cầu ngoại cảnh
đất có chứa nhiều canxi. Nhưng hoa Cát tường rất mẫn cảm với các loại muối
kim loại nặng, đặc biệt trên đất có hàm lượng chì cao, rễ cây hoa Cát Tường
phát triển kém, ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây. Trong quá trình trồng và
chăm sóc thường bón nhiều phân chứa muối, nhất là trồng trong nhà có mái
che, không bị nước mưa rửa trôi, nhiệt độ lại cao, lượng nước bốc hơi lớn nên
rất dễ dẫn đến nồng độ muối trong đất cao, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát
triển của cây. Vì vậy trước khi trồng hoa Cát Tường cần phải đo nồng độ
muối trong đất (nhất là trong nhà mái che), nếu nồng độ muối cao thì phải
bơm nước rửa đất. Tốt nhất là trồng trên đất giàu mùn, pH: 6,8-7; EC: 0,5-
0,75mS/cm.
- Dinh dưỡng: Cát Tường yêu cầu dinh dưỡng cao ở giai đoạn vườn
ươm và các giai đoạn sau đó. Các nguyên tố nitơ, phot pho, kali và các
nguyên tố vi lượng có ý nghĩa quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển, năng
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
8
suất và chất lượng hoa Cát Tường. Bón đầy đủ và cân đối phân đạm, lân, kali
có thể đạt năng suất cao, chất lượng hoa tốt. Tỷ lệ N:K là 1: 1,5 cho chất
lượng hoa cao và thời gian thu hoạch dài. Nên bổ sung bón canxi cho cây Cát
Tường trên chân đất nghèo canxi [31].
2.1.5. ðặc ñiểm sinh trưởng và phát triển của cây hoa Cát Tường:
So với các loại cây trồng khác thì cây hoa Cát Tường được xem là khó
trồng hơn, bởi hoa Cát Tường có thời kỳ cây con kéo dài (10-12 tuần) nên dễ
bị sâu bệnh hại trong thời kỳ vườn ươm. Cây hoa Cát Tường được biết đến là
cây hàng năm hoặc cây 2 năm tùy thuộc chủ yếu vào nhiệt độ trồng. Thời
gian từ khi gieo hạt tới khi cho hoa kéo dài từ 20 – 23 tuần. Quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây hoa Cát Tường gồm 5 giai đoạn [32]:
- Giai đoạn 1 (1- 14 ngày): Hạt giống được ngâm ủ trong 48 tiếng rồi
gieo vào các khay có độ ẩm thích hợp. Trong suốt quá trình nảy mầm của hạt
nhiều hình thức khác nhau như dùng để cắm lọ, trồng chậu, trồng bồn, bó làm
hoa cưới
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu giải trí thưởng thức… hoa Cát Tường
còn mang lại nguồn lợi kinh tế khá cao. Thực tế ở Đà Lạt, hộ gia đình ông
Lạc trồng gần 800m
2
hoa Cát Tường, trừ chi phí còn thu về hơn 300 triệu
đồng; Ông Trần Huy Đường là chủ trang trại 7ha hoa với 40 nhân công, hàng
năm sản xuất cho thị trường hơn 5 triệu cành hoa các loại với doanh thu hơn
15 tỷ đồng/năm, trong đó diện tích trồng hoa Cát Tường chỉ chiếm một nửa
diện tích trồng hoa tại trang trại, nhưng thu nhập từ hoa Cát Tường đạt 2/3
doanh thu hoa hàng năm của trang trại, mỗi bó hoa Cát Tường (5 cành hoa)
giá từ 10 – 12 ngàn đồng, vào dịp lễ tết lên tới 25 – 30 ngàn đồng [28].
2.2. Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất hoa Cát Tường trên thế giới
Hoa Cát Tường là một loại hoa mới nhưng nhanh chóng được xếp vào
những loại hoa cắt hàng đầu cùng với các loại hoa đã được thị trường ưa
chuộng như hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng vì hoa Cát Tường đẹp, đa
dạng về màu sắc và hình dáng, tuổi thọ hoa cắt cao. Bên cạnh đó hoa Cát
Tường còn được sử dụng rộng rãi như cây trồng chậu hay trồng thảm. Vì vậy
hoa Cát Tường đã tạo ra những tác động rất lớn tới thị trường hoa cắt.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
10
Hoa Cát Tường bắt đầu được sử dụng ở Nhật Bản từ năm 1933 và đến
nay nó trở thành một loại hoa cắt số một với trên 129 triệu cành được bán
năm 2001.
Ở Châu Âu, hoa Cát Tường được xếp vào 1 trong 10 loại hoa cắt quan
trọng với trên 122 triệu cành được bán vào năm 2001.
Bảng 2.1: Số lượng cành và tổng thu nhập từ bán buôn các loại hoa cắt ở
2007) [22].
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa Cát Tường ở Việt Nam
Từ năm 1998, hoa Cát Tường được du nhập vào Đà Lạt để trồng và sản
xuất hoa thương phẩm nhưng phần lớn nông dân tự mày mò cách canh tác nên
chất lượng hoa không cao, diện tích gieo trồng chưa nhiều (chỉ khoảng 10ha).
Đến năm 2005, diện tích gieo trồng hoa Cát Tường đã tăng trên 20ha, gồm
các giống như Saphire pink, Alivia purple, Balboa white, Saphire blue,
Saphire white… [28].
Theo số liệu của UBND thành phố Đà Lạt, diện tích trồng hoa của
thành phố năm 2010 là trên 3.500ha, trong đó diện tích trồng hoa Cát Tường
là khoảng 100ha chiếm 2,86%. Nghề trồng hoa nói chung và hoa Cát Tường
nói riêng tại đây đã mang lại những thành công đáng kể cho các hộ, tuy nhiên
qua khảo sát thực tế vào tháng 2 năm 2011 thì nghề trồng hoa Cát Tường
đang đối mặt với các vấn đề sau:
- Đất bị nhiễm bệnh gây cho cây bị một số bệnh như bệnh vàng héo lá
gây chết hàng loạt.
- Cây hoa bị bệnh nấm mốc và bọ trĩ tấn công nhưng chưa được xử lý
một cách có hiệu quả.
- Quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ, đơn lẻ chưa được quy hoạch và
thiếu sự liên kết.
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
12
- Chi phí đầu tư ban đầu rất cao vì vậy các nông hộ gặp khó khăn về
nguồn vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất [29].
Hiện nay, hoa Cát Tường chủ yếu được sản xuất ở Đà Lạt bởi một số
công ty nổi tiếng trong đó có Lang Biang Farm, Hasfarm, floralseed
Vietnam…và là một trong những loại hoa được xuất khẩu nhiều ra thị trường
quốc tế. Việt Nam đã xuất khẩu hoa Cát Tường sang thị trường Nhật Bản với
kim ngạch đạt hơn 7,8 nghìn USD/tháng trong ba tháng cuối năm 2010 [34].
1 hoặc nhiều hơn chồi bên có thể kéo dài rồi ra hoa, nhưng chúng sẽ ra hoa
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
13
không đều và chất lượng kém nếu dùng làm hoa cắt cành hoặc trồng chậu. Do
vậy, sản xuất Cát Tường thương phẩm bán dịp cuối xuân hoặc mùa hè bị hạn
chế ở một số vùng có nhiệt độ cao. Sản xuất vào mùa thu, để cung cấp cây
cho hoa vào đầu xuân, cũng khó khăn do hình thành dạng khóm gây ra bởi sự
tương tác giữa nhiệt độ cao và ngày ngắn. “Maurine Blue” và “Florida Blue”
được đưa ra năm 1995 là những cây giống Cát Tường chịu nhiệt phát triển tại
trường ĐH của Trung tâm giáo dục và Nghiên cứu bờ biển Gulf của bang
Florida. Đây là những cây giống chịu nhiệt đầu tiên mà hạt giống của chúng
được trồng ở 28
o
C đến 31
o
C có thân phát triển bình thường.
Để chọn tạo ra các giống chịu nhiệt thì điều kiện trồng để chọn lọc cây
giống chịu nhiệt trong suốt quá trình phát triển của cây bao gồm:
- Chăm sóc cây trong suốt những tháng mùa hè trong điều kiện nhà lưới
ở nhiệt độ trên 35
o
C;
- Cây con 3 - 4 tuần tuổi được trồng ở 28
o
C trong 4 tuần để lựa chọn
thế hệ đầu;
- Cây con 17 ngày tuổi được trồng ở 31
o
C trong 5 tuần để lựa chọn lần
2.3.1.2. Nghiên cứu về bảo vệ thực vật
Tesera E. Sejio và cs. (2002) [25] cho biết: tháng 9 năm 2000, một loại
bệnh mới được tìm thấy lần đầu tiên trên cây hoa Cát Tường trồng trong nhà
lưới ở Manatee County, Florida, USA. Bệnh gây hại ở thời kỳ cây con có
khoảng 6 lá thật. Vết bệnh bắt đầu xuất hiện trên gân chính của lá, sau đó lan
dần đến gốc làm lở cổ rễ, thối thân và gây chết. Hai đến ba tháng sau đó một
ổ dịch lớn có triệu chứng tương tự xuất hiện trên các vườn trồng hoa Cát
Tường. Kiểm tra hình thái và khả năng gây bệnh đã xác định được bệnh do vi
khuẩn Burkholderia gladioli gây nên.
Hoa Cát Tường bị ảnh hưởng của rất nhiều nguồn bệnh khác nhau.
Nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu và đưa ra biện pháp khắc phục có hiệu quả.
Trong đó, các bệnh phổ biến thường gặp trên cây hoa Cát Tường là bệnh mốc
xám, đốm lá, thối thân và rễ do nấm (Neil O. Anderson, 2007) [22].
Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………….
15
Thối thân và ngọn do Fusarium là một trong những bệnh tàn phá mạnh
nhất trên hoa Cát Tường. Theo các kết quả nghiên cứu thì loại bệnh này xuất
hiện trên cả cây trồng chậu và hoa cắt cành nhưng đặc biệt tàn phá sản xuất
hoa cắt. Ví dụ, năm 1997, một cuộc điều tra về triệu chứng bệnh thối thân và
ngọn ở 3 điểm trồng hoa cắt ở Florida, 4 điểm ở California đã cho kết quả tỷ
lệ chết của cây cao tới 70%. Tác nhân gây ra bệnh này, Fusarium avenaceum,
trước tiên tấn công ngọn và thân cây hoa Cát Tường, nhưng cũng có thể làm
thối rễ trụ và các rễ nhánh lớn gần mặt đất. Triệu chứng đầu tiên trên mặt đất
là việc mất dần dần màu xanh của lá, tiếp sau đó là các vết đốm nâu vàng trên
lá, chuyển nâu của gân lá, và mất màu chuyển sang nâu vàng của toàn bộ lá.
Thân héo, thối và có màu nâu xuất hiện như một kết quả tất yếu của bệnh, và
các cây bị nhiễm sẽ chết rất nhanh. Những khối bào tử màu cam hình thành
trên gốc của thân bị thối và được chẩn đoán là yêu cầu rất quan trọng.
Brent Harbaugh và R.J. McGovern (2000) [13] đã nghiên cứu đánh giá
Blue)” tới 100% với “Mermaid Blue”.
+ Cây giống màu hồng: 25 ngày sau khi lây nhiễm, tỷ lệ cây bị bệnh
thấp nhất là 3% và cao nhất là 58%. Đến ngày 40, các cây giống có phần trăm
bệnh dao động từ 8% đến 90%. Phần trăm cây bị bệnh ở ngày thứ 55 dao
động từ 23% với “Bridal Pink” tới “98%” với Maurine Pink”.
+ Cây giống màu trắng: Chỉ có một số cây có biểu hiện triệu chứng ở
ngày thứ 25 sau khi lây nhiễm với tỷ lệ cao nhất là 28% với “Royal White”.
Ngày thứ 40, chỉ có “Lisa White” và “Tyrol White” là không xuất hiện triệu
chứng, trong khi đó, “Maurine White-on-Blue” đạt tới 33% số cây bệnh. Tuy
nhiên, đến ngày thứ 55, phần trăm thấp nhất cây bị bệnh là 53% với “Heidi
Pure White” và có 5 giống có 100% số cây bị bệnh.
Tóm lại, tất cả các cây giống đem kiểm tra đều được xem là nhạy cảm
với F. avenaceum do tất cả các giống đều có cây bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên,
các giống khác nhau thì thời gian phát triển và tần số cây bị bệnh cũng khác
nhau, chỉ ra mức độ nhạy cảm khác nhau. Cơ sở di truyền cho việc làm chậm
sự phát triển của bệnh hoặc sự kháng một phần cần được nghiên cứu để chọn
tạo được những cây giống kháng bệnh. Sử dụng tính kháng với F. avenaceum
trong công tác chọn tạo giống có thể cải tiến đáng kể đặc tính của giống và
giúp hạn chế việc phải dùng thuốc hóa học diệt nấm.
2.3.1.3. Nghiên cứu về bảo quản hoa Cát Tường
Michael S. Rield (2000) [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của ethylen đến
quá trình bảo quản hoa Cát Tường. Hoa Cát Tường nhạy cảm với một số chất
Biocides bảo quản trong thương mại, chúng làm cho thân cây chuyển sang
màu nâu. Theo đó việc xử lý Cát Tường ở nồng độ sacarose cao > 3% ở mỗi