phát huy tính tích cực của học sinh trong việc rèn luyện kỹ năng học tập vật lí khi giảng dạy chương 9. hạt nhân nguyên tử, vật lí 12 nâng cao - Pdf 30


1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÍ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: SP Vật lí

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC TẬP VẬT LÍ KHI GIẢNG DẠY
CHƯƠNG 9. HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ, VẬT LÍ 12 NÂNG CAO

Sau một thời gian dài nghiên cứu em đã hoàn thành luận văn của
mình. Đó là kết quả của sự cố gắng của bản thân trong những năm
tháng trên giảng đường Đại Học và sự hướng dẫn tận tình của quý
thầy cô trong những năm vừa qua.
Lời cảm ơn đầu tiên em xin gửi đến toàn thể quý thầy cô Khoa
Sư Phạm, đặc biệt là thầy cô trong Bộ Môn Sư Phạm Vật Lí đã dạy
dỗ, truyền đạt cho em nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Riêng đối với ThS-GVC Trần Quốc Tuấn, em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành và sâu sắc nhất. Thầy đã tận tình chỉ dẫn, quan
tâm giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn
chế và thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của
quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cuối lời, kính chúc quý thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe và
công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện Võ Phương Hồng Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng ii

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 5
3. Giả thuyết khoa học 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Đối tượng nghiên cứu 6
7. Các giai đoạn thực hiện đề tài 6
8. Những chữ viết tắt trong luận văn 6
Chương 1. ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ THPT 7
1.1. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT 7
1.1.1. Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 7
1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học 9
1.2. Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 9
1.2.1. Khắc phục lối truyền thụ một chiều 9
1.2.2. Đảm bảo thời gian tự học tự nghiên cứu của học sinh 10
1.2.3. Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 11
1.2.4. Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện trong quá trình DH
góp phần phát triển tối ưu nhân cách HS 12
1.3. Mục tiêu của chương trình Vật lí THPT 13
1.3.1. Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông cơ bản, phổ biến theo
quan điểm hiện đại 13
1.3.2. Rèn luyện và phát triển các kỹ năng 13
1.3.3. Hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm cho học sinh 13
1.4. Định hướng đổi mới PPDHVL ở lớp 12 theo chương trình THPT mới 14
1.4.1. Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy minh họa của GV, tăng cường tổ chức cho
HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề để học tập 14

2.2.1. Hoạt động kiểm tra bài cũ 44
2.2.2. Hoạt động tiếp nhận nhiệm vụ học tập 44
2.2.3. Hoạt động thu thập thông tin 44
2.2.4. Hoạt động xử lý thông tin 45
2.2.5. Hoạt động truyền đạt thông tin 45
2.2.6. Hoạt động củng cố bài giải 45
2.2.7. Hoạt động hướng dẫn học tập ở nhà 45
Chương 3. PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.46
3.1. Phương pháp tích cực hóa 46
3.1.1. Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh 46
3.1.2. Các biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh 46
3.1.3. Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực 47
3.1.4. Các phương pháp dạy học tích cực 49
3.2. Phương pháp giải quyết vấn đề 50
3.2.1. Khái niệm 50
3.2.2. Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học 50
3.2.3. Tổ chức tình huống học tập GQVĐ 51
3.2.4. Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 53
3.2.5. Các pha của tiến trình dạy học GQVĐ xây dựng một kiến thức Vật lí mới 54
3.3. Phương pháp thực nghiệm trong DHVL 55
3.3.1. Khái niệm 55
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 3

3.3.2. Các giai đoạn của PPTN trong nghiên cứu khoa học 55
3.3.3. PPTN của quá trình sáng tạo khoa học Vật lí 56
3.3.4. Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong dạy học Vật lí: 56
3.3.5. Hướng dẫn HS hoạt động trong mỗi giai đoạn của PPTN 56

4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI. Đất nước ta đang bước vào thời kì CNH-
HĐH, viễn cảnh sôi động, tươi đẹp, nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi ngành giáo dục
đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, ngang tầm với sự phát triển chung của
thế giới và khu vực, sự nghiệp giáo dục đào tạo phải góp phần quyết định vào việc bồi
dưỡng trí tuệ khoa học, đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội,
muốn vậy chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến mà còn
phải biết áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra con đường phát triển
riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đất nước.
Để đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu và những thách thức của
hội nhập và phát triển, cần phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giảng dạy ở mọi
cấp học, ngành học. Định hướng này đã được xác định trong Nghị quyết TW2, khóa VIII:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu của học sinh ”. [6, tr 50]
Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của dạy học Vật lí ở trường phổ thông là không
những truyền thụ kiến thức mà còn phải rèn luyện tích cực kỹ năng học tập Vật lí của HS,
hình thành thế giới quan duy vật biện chứng làm cho học sinh hiểu rõ thế giới tự
nhiên là thế giới vật chất, vật chất luôn ở trạng thái và vận động theo quy luật.
Mặt khác yêu cầu đổi mới PPDHVL ở THPT là một yêu cầu vô cùng cấp bách và
khẩn thiết. Việc đổi mới cần tiến hành để phù hợp với trình độ tri thức và nhịp độ phát
triển tri thức ngày càng cao của nhân loại, để pháp huy tính tự học hỏi, tự tìm tòi của HS,
phải để HS tham gia hành động để tự tìm ra và lĩnh hội tri thức đó.
Tuy nhiên thực tế thì việc giảng dạy Vật lí ở THPT còn mang nặng lối truyền thụ
một chiều, HS chỉ tiếp thu kiến thức lý thuyết từ GV truyền thụ mà không thể tự mình
tiến hành các thao tác thực hành, quan sát các thí nghiệm để tự mình rút ra các kiến thức.

việc rèn luyện kỹ năng học tập Vật lí cho HS.
 Thiết kế tiến trình xây dựng một số bài học theo hướng phát huy tính tích cực trong
việc rèn luyện kỹ năng học tập Vật lí của HS:
Bài 53: Phóng xạ
Bài 54: Phản ứng hạt nhân
Bài 56: Phản ứng phân hạch
Bài 57: Phản ứng nhiệt hạch
 Sử dụng các bản vẽ sẵn, sử dụng CNTT.
 Tiến hành TNSP ở trường THPT,
đưa giáo án vào thực tế giảng dạy, thống kê lại
kết quả từ các phiếu đánh giá. Từ đó rút ra kết quả của đề tài.

5. Phương pháp nghiên cứu
 Nghiên cứu lý luận: các tài liệu chuyên ngành PPDHVL, tài liệu bồi dưỡng GV , các
tài liệu liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 6

 Tổng kết kinh nghiệm: tổng kết rút kinh nghiệm của những cá nhân, tập thể đi trước.
 Học hỏi và trao đổi kinh nghiệm từ thầy cô và bạn bè.
 Thực nghiệm sư phạm: tiến hành giảng dạy thực nghiệm ở THPT, đánh giá kết quả.
6. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dạy và học của GV và HS trong đó thể hiện các biện pháp rèn luyện
kỹ năng học tập Vật lí trong quá trình giảng dạy chương 9. Hạt nhân nguyên tử, Vật lí 12
nâng cao.
7. Các giai đoạn thực hiện đề tài
 Giai đoạn 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với GVHD và nhận đề tài nghiên cứu.
 Giai đoạn 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết và nộp cho GVHD duyệt.

1.1.1. Mục tiêu mới của giáo dục nước ta
a. Mục tiêu dạy học trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước
Đổi mới mục tiêu GD có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đưa đất nước phát triển,
hội nhập với cộng đồng thế giới. Cùng với xu thế đổi mới GD trên thế giới, nước ta đổi
mới mạnh mẽ về mục tiêu GD nhằm tạo ra những con người có phẩm chất mới. Mặt khác
trong nền kinh tế cạnh tranh như hiện nay thì việc đổi mới GD không chỉ trang bị cho HS
những kiến thức cơ bản mà còn rèn cho HS óc tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “ Nhiệm vụ và
mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn
bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát
huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính
tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng
tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức
khỏe, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời
căn dặn Bác Hồ”. [6, tr 49]
Mục tiêu của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ
một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp HS phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh
thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học
tập…. Do đó đất nước đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con
người có phẩm chất mới.
PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt
động, thụ động. PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa tư duy của HS, nghĩa là
hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát
huy tính tích cực của người dạy.
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy. Cách dạy quyết định cách học, tuy
nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy. Mặt
khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDH tích cực nhưng GV chưa

tra dự đoán …
+ Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc VL, giải các bài tập
Vật lí… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất.
+ Sử dụng các thuật ngữ VL, biểu bảng… trình bày rõ ràng, chính xác những kết
quả thu được…
- Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm sau:
+ Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước,
thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người lao động
trên cơ sở những kiến thức VL vững chắc.
+ Hứng thú học tập môn VL, yêu thích, tìm tòi KH, trân trọng những đóng góp của
Vật lí học…
+ Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, chính xác, có tinh thần
học tập tốt.
+ Có ý thức vận dụng những hiểu biết VL vào đời sống, cải thiện điều kiện sống,
bảo vệ môi trường .
- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, làm cho học sinh nắm được:
+ Những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của máy móc được dùng trong
nền kinh tế quốc dân.
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 9

+ Sử dụng được những dụng cụ đo lường, kỹ năng lắp ráp các thiết bị để thực hiện
các thí nghiệm Vật lí, vẽ biểu đồ, xử lý số liệu.


Các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ
nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện.
1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học

chúng ta. Nét đặc trưng của nó là: “ GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm
tra, đánh giá, tức là: GV là trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định từ xác định
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 10

mục đích học tập, nội dụng học tập, cách thức học tập, con đường đi đến kiến thức , kỹ
năng, đánh giá kết quả học tâp; còn HS thì thụ động ngồi nghe, quan sát, cố mà ghi nhớ
và nhắc lại”. Rõ ràng ở cách dạy học này đã đưa HS vào thế hoàn toàn thụ động, không
có cơ hội để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình, còn
GV thì đầy quyền uy khiến học sinh phải sợ hãi. Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ
một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu.
Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai
trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập,
chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. HS
tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống học tập …Trên lớp, HS hoạt
động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu
tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài
lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài” trong
các hoạt động tìm tòi, tranh luận sôi nổi của HS, GV phải có trình độ chuyên môn sâu
rộng, trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS.
Bên cạnh đó việc đổi mới SGK, thiết bị TN, áp dụng các phương pháp chung của
nhận thức KH , những PPNTĐT của VL, tăng cường sử dụng các phương tiện DH hiện
đại… cũng đóng vai trò quan trọng không kém góp phần kích thích HS chủ động, hứng
thú tham gia vào hoạt động học tập.
Như vậy, khắc phục lối truyền thụ một chiều là phần quan trọng và không thể thiếu
trong việc đổi mới PPDH. Đây là nhiệm vụ đặt ra cho người GV, bản thân mỗi GV cần
nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện đổi mới chính mình phù

mới. Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng
định hay bị bác bỏ, qua đó nhũng hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính
xác hóa, mặc khác trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người
khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình. Điều
đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS.
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta
giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc
bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn
học. GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành cho HS tự
tìm hiểu ở nhà. Có lẽ không cần chuyển tải từ tất cả của nội dung bài học trên lớp, mà
nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự
học của các em.
Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học
tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên
cứu. Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm. Cần phải nhanh chóng khắc phục
tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những HS các lớp trên.
1.2.3. Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là
phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái
tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua
đó mà phát triển năng lực sáng tạo. HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ
động say mê, hứng thú chứ không phải bị ép buộc. Chính vì vậy vai trò của GV không
còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS
hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được
kiến thức và phát triển được năng lực. Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống học tập…
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 12

thực tiễn.
Các
- TN của HS với các thiết bị TN.
Bình diện trực quan trực tiếp. - Các vật thật, các bức ảnh chụp.
Các
- TN của GV với các thiết bị TN.
- Phim học tập (quay các cảnh thật).
Bình diện trực quan gián tiếp. - Các TN mô hình.
- Các phim hoạt họa.
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện
tượng, quá trình VL.
- Các mô hình vật chất.
- Các hình vẽ, sơ đồ.
Bình diện nhận thức khái niệm -
ngôn ngữ.
- Sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo.
- Các phần mềm vi tính dùng cho việc ôn tập.
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 13

1.3. Mục tiêu của chương trình Vật lí THPT
1.3.1. Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông cơ bản, phổ biến theo quan
điểm hiện đại
Bao gồm:
- Khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình Vật lí thường gặp trong đời sống
và sản xuất.
- Các đại lượng, các định luật và nguyên lý Vật lí cơ bản.
- Những nội dung chính của một số thuyết Vật lí quan trọng nhất.


14

1.4. Định hướng đổi mới PPDHVL ở lớp 12 theo chương trình THPT mới
1.4.1. Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy minh họa của GV, tăng cường tổ chức cho
HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề để học tập
Phương pháp DH truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu
quan trọng. Tuy nhiên PP đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò
lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo. Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK cũng
có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng. Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở
HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện
để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK hay khác với ý kiến của GV. Nhiều
GV thường nói là bài dài. Thực ra nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS
tự đọc mà cũng hiểu được, nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng
giải trình bày tất cả.
Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa, tăng cường
việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập. Tuy ban đầu HS
chưa quen với PP học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép, nhưng sau một
thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu. Kết
quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi
GV giảng giải rồi cố ghi nhớ. Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ
tự tin và hào hứng. Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành
công lớn hơn. GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp hay ở nhà. GV
chỉ giảng giải khi HS tự đọc không thể hiểu được, kiên quyết không làm thay HS điều gì
mà họ có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà. Muốn vậy, GV cần phải biết phân chia một
vấn đề HT phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là
có thể hoàn thành được.
Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài
để HS có thể tự lực hoạt động với khoàng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải
quyết một vấn đề nào đó trong quá trình học tập như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin,

- Giải quyết vấn đề: HS đề xuất giải pháp ( khảo sát) lý thuyết hoặc giải pháp và
thực hiện giải pháp (khảo sát) thực nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra, rồi thực hiện giải
pháp đã đề xuất để rút ra kết luận về cái cần tìm.
- Kiểm tra, vận dụng kết quả: Xem xét khả năng chấp nhận được của các kết quả
tìm được trên cơ sở vận dụng chúng để giải thích, tiên đoán các sự kiện và xem xét sự
phù hợp củ lý thuyết và thực nghiệm. Trong quá trình vận dụng, nhiều khi đi tới phạm vi
áp dụng của các kiến thức đã thu được và lại làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu tiếp.
1.4.3. Rèn luyện các phương pháp nhận thức Vật lí
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành
động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên. Đến lớp 12 HS đã
có khá nhiều kinh nghiệm hoạt động nhận thức và có nhiều cơ hội để làm quen với các
phương pháp nhận thức khác nhau trong VL như PP thực nghiệm, PP mô hình, PP tương
tự để phát hiện và giải quyết vấn đề bài toán.
- Về phương pháp thực nghiệm:
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nhận thức khoa học được thực hiện khi
nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm nhằm dựa trên kết
quả thí nghiệm để xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó.
Ở lớp 12, các nghiên cứu đòi hỏi xác lập mối liên hệ định lượng. GV tùy tình hình
cụ thể mà yêu cầu HS tham gia một vài khâu của PP này. GV có thể làm TN để thu thập
thông tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả TN. Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết
quả nên dành cho HS làm. Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất
phương án TN kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm TN biểu diễn.
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 16

- Về phương pháp mô hình :
Phương pháp mô hình cũng được dùng phổ biến ở lớp 12. Trong Vật lí học, mô
hình có các chức năng sau: mô tả sự vật hiện tượng, giải thích các tính chất và hiện tượng

Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, sách giáo viên, các tác giả đã chú ý
lựa chọn danh mục thiết bị dạy học và chuẩn bị phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học.

Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 17

- Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học khi sự vật hiện tượng không thể mô tả
được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi
(phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, phải coi đó là phương
tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa. Đây là nguồn thông tin cực kì quan
trọng giúp học sinh có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới. Coi trọng quan sát, phân
tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm.
Tận dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù
hợp. Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…).
- Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng
CNTT vào tất cả các lĩnh vực. Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại
hóa phương tiện dạy học, thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các
phương pháp dạy học nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó. Mỗi phương
pháp dạy học đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu. Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ
yếu của mỗi phương pháp.
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như
phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà
trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng

- Tổng kết trước lớp
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
+ Thảo luận chung
+ GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn
khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra
những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề
nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì
vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương pháp
này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học,
cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và HS đã khá quen với phương pháp này thì
mới có kết quả. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ
chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp và hoạt động
nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.
1.5. Đổi mới việc thiết kế bài học
1.5.1. Quan điểm về thiết kế bài học Vật lí
Thiết kế bài dạy học là công việc quan trọng của GV Vật lí trước khi tổ chức hoạt
động học tập của HS ở trên lớp, bao gồm việc nghiên cứu chương trình, SGK và tài liệu
tham khảo để xác định mục tiêu dạy học, lực chọn kiến thức cơ bản, dự kiến các cách
thức tạo nhu cầu kiến thức ở HS, xác định các hình thức tổ chức dạy học và các PPDH
thích hợp, xác định hình thức củng cố, vận dụng tri thức đã học ở bài vào việc tiếp nhận
kiến thức mới hoặc vận dụng vào trong thực tế cuộc sống. Thiết kế bài dạy học VL bao
gồm cả việc dự kiến các tình huống sư phạm xảy ra trong bài dạy và cách ứng xử thích
hợp của GV. Các tình huống đó có thể liên quan đến thời gian, phương tiện dạy học, đối
tượng HS, kiến thức thực tế liên quan đến bài dạy học. Sản phẩm của việc thiết kế bài
dạy học bao gồm giáo án và toàn bộ những suy nghĩ về quá trình dạy học sẽ diễn ra trong
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng


những kết luận nào ?
- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các PP giảng dạy cần sử dụng.
+ Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học: để thiết kế tiến trình
xây dựng từng kiến thức trong bài học, GV cần xác định kiến thức, cần xây dựng được
diễn đạt như thế nào, là câu trả lời cho câu hỏi nào? Giải pháp nào giúp trả lời được câu
hỏi này?
+ Soạn thảo tiến trình hoạt động DH cụ thể
+ Việc soạn thảo tiến trình hoạt động DH phải thể hiện rõ hoạt động học và hoạt
động dạy là hoạt động nào, diễn ra như thế nào và trình tự các hoạt động đó.
Luận văn tốt nghiệp Đại học GVHD: ThS – GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Võ Phương Hồng 20

+ Với mỗi hoạt động của HS, cần viết rõ mục đích hoạt động, cách thức hoạt động,
hình thức thực hiện hoạt động (cá nhân, nhóm), kết quả cần đạt được.
+ Với từng hoạt động của HS, cần viết hoạt động tương ứng của GV: lệnh hoạt
động, câu hỏi, gợi ý để hướng dẫn hoạt động của HS, thông báo bổ sung của GV. Cần coi
trọng việc chuẩn bị các câu hỏi, nhất là câu hỏi then chốt. Trên cơ sở đó, khi lên lớp, GV
sẽ phát triển thêm tuỳ diễn biến của giờ học.
- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng.
- Soạn nội dung bài học về nhà.
1.5.3. Cấu trúc soạn giáo án theo các hoạt động học tập
Tên bài: …………………………………
Tiết: …………………………………….theo phân phối chương trình.
A. Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)
1. Kiến thức
2. Kĩ năng
3. Thái độ
B. Chuẩn bị (thiết bị dạy học, phiếu học tập, các phương tiện dạy học…)

- Đối với các nhà quản lí giáo dục: Kết quả thi và kiểm tra là những căn cứ pháp lí
cơ bản để đánh giá GV và HS, là những thông tin rất quan trọng làm cơ sở cho việc điều
hành, chỉ đạo quá trình đào tạo trong nhà trường.
1.6.2. Những nguyên tắc cơ bản của việc thi, kiểm tra
Việc thi và kiểm tra phải theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nội dung thi, kiểm tra phải bám sát mục tiêu dạy học đã được ghi rõ trong chương
trình, SGK bộ môn. Không nên dựa vào trình độ HS để quy định nội dung thi, kiểm tra.
- Việc thi, kiểm tra phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo ba yêu
cầu “Nhớ - Hiểu - Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ.
- Hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn học.
- Nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ của HS.
- Việc tổ chức thi, kiểm tra phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết cho kì thi
được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi.
- Việc đánh giá kết quả thi, kiểm tra phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết, rõ
ràng, phải được tiến hành đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc, khẩn trương.
Nội dung thi kiểm tra phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Đánh giá được một cách tòan diện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ
mà HS cần đạt được.
- Đặt trọng tâm vào những nội dung có liên quan nhiều đến việc ứng dụng kiến thức
và kĩ năng vào thực tế, đánh giá cao khả năng sáng tạo, năng lực hành động của HS trong
việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào những tình huống của cuộc sống thực.
- Chú ý đến đặc thù của khoa học Vật lí là khoa học thực nghiệm, do đó cần có
những nội dung nhằm đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS về thực hành VL.
Đây là yêu cầu đòi hỏi những cải thiện đáng kể về trang thiết bị, dụng cụ TN thực hành.
1.6.3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá
a. Thực trạng việc đánh giá kết quả học tập môn VL ở trường THPT trước đây
- Chưa thực hiện đầy đủ các chức năng kiểm tra, đánh giá: các đề kiểm tra thường
không hướng vào việc thực hiện “đánh giá định hình” mà hướng vào việc thực hiện
“đánh giá tổng kết”. Kiểm tra chủ yếu dùng để đánh giá, phân loại HS chứ không dùng để
thu thập thông tin cần thiết cho việc định hướng hoạt động dạy và học tiếp theo nhằm cải

thường xuyên và công khai. HS được hệ thống giáo dục và gia đình theo dõi liên tục cả
ngày không có thời gian và không gian riêng tư.
- HS chỉ học những gì kiểm tra, thi. Nếu chỉ kiểm tra một lượng kiến thức nhất định
thì các em sẽ không quan tâm đến những nội dung khác mà chúng ta mong muốn các em
học. HS được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số GV cho, vì vậy không thấy được
tầm nhìn về hành vi tương lai. Điểm số chỉ là công cụ đánh giá mức thuộc bài, không
đánh giá được tiềm năng, năng lực con người.
c. Nắm chắc các dạng trắc nghiệm khách quan và tự luận
Hình thức kiểm tra thông dụng nhất là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm
cơ bản là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan.


Trắc nghiệm tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi
thường gồm nhiều câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc
bài giải theo cách của riêng mình. Đây chính là loại hình câu hỏi và bài tập lâu nay

Trích đoạn Sơ đồ cấu trúc nội dung chương Thiết kế giáo án một số bài học Kết quả kiểm tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status