phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 11

Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ dạy môn Sinh học
Thứ sáu - 05/07/2013 09:19



Trong số này, Tạp chí trích giới thiệu sáng kiến kinh nghiệm xếp loại B cấp Ngành năm học 2011-2012 môn
Sinh học lớp 8 của cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hoài – Giáo viên trường THCS Lương Thế Vinh – Huyện Đan
Phượng với đề tài: “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ dạy sinh học lớp
8”.
Một góc thực hành môn Sinh học
Nhiệm vụ của môn Sinh học lớp 8 là cung cấp cho HS những kiến thức về hình thái cấu tạo, các cơ chế sinh lý diễn
ra trong cơ thể con người trong mối quan hệ với môi trường từ đó có biện pháp giữ gìn cơ thể. Do vậy phương pháp
đặc thù của bộ môn là quan sát, thực hành thí nghiệm. Việc quan sát nghiên cứu vật sống, mô hình, mẫu mổ hoặc
hình vẽ, học sinh sẽ phát hiện ra những thông tin. Tuy nhiên tranh vẽ, sơ đồ, mẫu mổ hay mô hình chỉ giúp HS phát
hiện ra những thông tin về hình thái, giải phẫu của cơ thể người, mà không giúp học sinh phát hiện những cơ chế
sinh lý của cơ thể. Do vậy trong những giờ học có kiến thức về các hiện tượng và các hoạt động sinh lý, để học sinh
hiểu bài, GV thường phải giảng giải nhiều, học sinh phải nghe nhiều, giờ học trở nên nặng nề. Để tránh tình trạng
này, nhiều năm qua, cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hoài đã đổi mới phương pháp dạy học bằng cách áp dụng một số
biện pháp cụ thể nhằm phát huy tính tích cực của HS, nâng cao hiệu quả giờ học môn sinh học 8.
Các biện pháp cụ thể nhằm đổi mới phương pháp dạy học:
- Biện pháp 1: Chuẩn bị bài tốt cho mỗi giờ lên lớp:
a) Chuẩn bị của giáo viên
+ Xác định mục tiêu bài học: Giáo viên phải xác định được khi học xong bài, học sinh cần nắm được những kiến
thức, kĩ năng gì? Thái độ của học sinh ra sao?
+ Thiết kế các hoạt động dạy học: Dựa vào mục tiêu bài học giáo viên phải hình dung ra bài học gồm mấy hoạt
động? Mỗi hoạt động được tổ chức như thế nào? Với thời gian là bao nhiêu? Cho học sinh hoạt động cá nhân, hợp
tác trong nhóm hay thảo luận cả lớp?
+ Soạn hệ thống câu hỏi và phiếu học tập phù hợp với các đối tượng học sinh. Các câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng,
gây hứng thú, thu hút chú ý, kích thích tìm tòi, gợi cách suy nghĩ, kiểm tra, đánh giá. Các câu trả lời cô đọng, súc
tích.
+ Làm việc trên máy với các phần mềm tin học: PowerPoint, Window movie maker,…tạo ra các thông tin có tính hệ

CNTT để hỗ trợ hai phương pháp này mang lại hiệu quả rất cao rất cao trong việc tạo chú ý học tập gây hứng thú
cho học sinh tự lực tìm tòi, phát hiện kiến thức.
CNTT có thể làm động hóa các sơ đồ, tranh vẽ vì vậy giúp học sinh dễ dàng quan sát và tìm kiến thức một cách
nhanh chóng.
Ví dụ 1: Bài 6- Phản xạ có hình vẽ 6-2 mô tả cung phản xạ. Dùng CNTT để động hóa sơ đồ này sẽ giúp học sinh dễ
dàng thấy được đường đi của xung thần kinh trong một cung phản xạ, các thành phần của cung phản xạ.
Ví dụ 2: Bài 47-Đại não có hình 47-1,2,3 mô tả cấu tạo của đại não nhìn từ các phía. Sử dụng hiệu ứng của phần
mềm PowerPoint để làm xuất hiện dần dần các khe, các rãnh, đường liên bán cầu, đường dẫn truyền sẽ giúp học
sinh dễ dàng thu nhận các thông tin về cấu tạo của đại não.
CNTT cung cấp thêm những đoạn video clip về cấu tạo, hoạt động của các cơ quan nhằm khắc phục hạn chế của
SGK khi chỉ có thể mô tả được hoạt động của các cơ quan, các quá trình sinh lý của cơ thể, bằng kênh chữ, và hình
ảnh tĩnh.
Ví dụ 1. Bài 7- Bộ xương có phần III.Các khớp xương .
Ở phần này giáo viên phải làm cho học sinh thấy được dựa vào khả năng cử động của khớp mà người ta chia khớp
thành 3 loại: Khớp động, khớp bán động, khớp bất động. Thế nhưng SGK chỉ mô tả được cấu tạo của 3 loại khớp
qua hình 7-4, chứ không mô tả được khả năng cử động của khớp. Vì thế dùng máy chiếu để chiếu cho học sinh xem
những đoạn video clip mô tả hoạt động của từng loại khớp học sinh sẽ tìm ngay được những kết luận cần thiết và
nhớ bài rất nhanh.
Vi dụ 2. Bài 14: Bạch cầu – Miễn dịch. Ở phần I của bài có Sơ đồ 14-1,2,3,4 mô tả 3 hoạt động chủ yếu của bạch
cầu nhằm bảo vệ cơ thể khi bị vi khuẩn, vi rút tấn công. Nếu thay thế các sơ đồ trên bằng cách chiếu video clip mô tả
3 hoạt động của bạch cầu sẽ vô cùng hấp dẫn và sinh động.
Hoặc có thể sử dụng đoạn phim về hoạt động của phổi và lồng ngực trong bài “Hoạt động hô hấp”, phim về các tác
nhân gây hại cho hệ hô hấp trong bài “Vệ sinh hô hấp”, phim nuốt và đẩy thức ăn qua thực quản trong bài “Tiêu hóa
ở khoang miệng”, phim cơ chế thu nhận sóng âm trong bài “Cơ quan phân tích thính giác”, vv……
Biện pháp 5: Vận dụng các câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá.
Đánh giá là một khâu quan trọng trong giảng dạy vì nó giúp cho giáo viên có thông tin phản hồi về mức độ mà học
sinh đã đạt được so với mục tiêu đề ra, mặt khác qua đánh giá giáo viên có thể có được thông tin về phương pháp
dạy học của mình có hợp lý hay không để kịp thời điều chỉnh.
Có nhiều phương pháp để đánh giá học sinh nhưng phương pháp trắc nghiệm ngày càng được ứng dụng rộng rãi
trong dạy học vì nó tiện lợi, ít tốn thời gian và đảm bảo tính khách quan, công bằng trong đánh giá.

Phương pháp dạy học theo nhóm được tổ chức tốt sẽ có ý nghĩa rất tích cực, tạo điều kiện cho nhiều người tham
gia, tạo cho mỗi cá nhân học hỏi được kiến thức từ các bạn. Phát triển cho học sinh các kỹ năng cá nhân, kỹ năng
xã hội (như nghe, nói, tranh luận, lãnh đạo…) hiểu thêm về bản thân (tự đánh giá), về bạn bè, thông qua việc trao
đổi, chia sẻ, học hỏi lẫn nhau. Biết lắng nghe, làm theo quy định và sự phân công của nhóm. Tạo điều kiện cho mỗi
người có thể tự thích ứng dần với sự phân công lao động hợp tác của cộng đồng trong tương lai.
Việc áp dụng các biện pháp trên vào các tiết học giúp giờ học sôi nổi, hiệu quả hơn, học sinh hứng thú, tự tin hơn
trong học tập. Các em đã được tham gia tích cực trong cả quá trình học tập, từ việc tham gia xây dựng tìm kiến thức
mới đến việc vận dụng giải thích vào thực tế, vì thế học sinh nhớ lâu, nhớ chính xác, có hệ thống và yêu thích học
môn Sinh học hơn, kết quả học tập được nâng lên rõ rệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status