Khóa luận tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích ở chương trình tiếng việt tiểu học - Pdf 30

1
Lêi c¶m ¬n
Em xin kính gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến giảng viên Th.S.Trần Thị Mỹ
Hồng – người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận.
Em cũng xin bày tỏ lòng kính biết ơn tới quý thầy cô khoa: Sư phạm Tiểu học –
Mầm non. Quý thầy cô của Trường Đại học Quảng Bình đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học vừa qua.
Thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến gia đình đã luôn quan tâm, yêu thương và
tạo mọi điều kiện cho em học tập. Cảm ơn những người bạn đã góp ý, trao đổi và động
viên cho em trong quá trình nghiên cứu.
Dù có nhiều cố gắng nhưng trong đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô giáo cùng các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe để tiếp tục thực hiện sứ
mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Em xin chân thành cảm ơn!

Quảng Bình, tháng 6 năm 2015
Tác giả khóa luận

Võ Thị Nhàn

3CÁC KÍ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN

Kí hiệu Chú giải
[20;5]

Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 20 trang 5

ĐHSP Đại học sư phạm
NXBGD Nhà xuất bản giáo dục
TV Tiếng Việt

2. Lịch sử vấn đề 8

2.1. Các công trình nghiên cứu chung về truyện cổ tích 8

2.2. Các công trình nghiên cứu về thế giới nhân vật trong truyện cổ tích 10

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4. Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5. Phương pháp nghiên cứu 12

6. Đóng góp của đề tài 12

7. Cấu trúc đề tài 13

B. NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1. Nhân vật văn học 14

1.2. Truyện cổ tích 16

1.4. Truyện cổ tích trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học 23

1.4.1. Khảo sát hệ thống truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học 23

1.4.2. Vị trí, ý nghĩa của việc dạy truyện cổ tích đối với học sinh Tiểu học 26

TÍCH Ở CHƯƠNG TRÌNH 57

TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 57

3.1. Nhân hóa 57

3.2. Xung đột 58

3.3. Ngôn ngữ, hành động trong truyện cổ tích 63

3.3.1. Ngôn ngữ 63

3.3.2. Hành động 66

3.4. Không gian, thời gian 68

C. KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
trước tiên có tác dụng giáo dục là sự “hư cấu”- cái khả năng kì diệu của trí óc chúng ta
có thể nhìn xa về phía trước sự vật. Thế giới ấy có mối quan hệ như thế nào với thực
tại? Ta đều biết là “trong mỗi truyện cổ tích đều có những yếu tố của thực tế”. Điều
này hết sức hiển nhiên không chỉ với truyện cổ tích sinh hoạt mà ngay cả với truyện cổ
tích thần kỳ và truyện cổ tích về loài vật. Nhưng “những yếu tố của thực tế” ấy đã
được trí tưởng tượng dân gian cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhào nặn trong một
chất “phụ gia” đặc biệt gọi là “hư cấu” (hay “hư cấu kỳ ảo”), để xây dựng nên một thế
giới khác với thế giới thực tại, mà ta gọi bằng “thế giới cổ tích”. Truyện cổ tích là
truyện kể về những chuyện không thể xảy ra trong thực tế. Người kể và người nghe
truyện cổ tích, cố nhiên, đều mơ ước về những điều “nên có và có thể có” diễn ra trong
thế giới cổ tích, nhưng không ai, cả người kể lẫn người nghe, coi câu chuyện kể là có
thực.
7
Như chúng ta đều biết, trẻ em luôn có nhu cầu tìm hiểu và khám phá môi trường
xung quanh, trong đó thế giới nhân vật truyện cổ tích vô cùng phong phú, chứa đựng
nhiều điều hấp dẫn đối với các em. Từ đây, các em biết được nhiều điều kì thú, học
thêm được nhiều kiến thức quan trọng trong cuộc sống. Lứa tuổi học sinh tiểu học
đang ở độ tuổi ngây thơ, trong sáng và hồn nhiên, các em như trang giấy trắng, người
dạy phải biết khơi dậy những cảm xúc thẫm mĩ cho các em, các em chỉ mới tiếp cận
được với thế giới xung quanh thông qua những gì gần gũi, thân thuộc nhất như cây
cối, các đồ vật, con vật,…Và thế giới đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà văn
viết lên những tác phẩm để đời. Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho
những tính cách con người trong xã hội, vì vậy các em sẽ phần nào thấy được bản thân
mình và những người xung quanh trong đó. Qua đó, học sinh có thêm hiểu biết về thế
giới nhân vật, nhận thức được cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu, cách xử sự, hành vi
phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội. Từ đó, hình thành những nền tảng
ban đầu về mặt đạo đức, giúp các em có cái nhìn đúng đắn qua các mối quan hệ trong
việc giao tiếp hàng ngày, có lý tưởng sống cao đẹp, là công dân tốt, có ích cho xã hội,
điều này thấy được thông qua thái độ ứng xử với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột
trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè…

chăm chú theo dõi nhân vật lý tưởng của mình và dành cho họ những phần thưởng
xứng đáng”. Bên cạnh những phần thưởng mà nhân dân dành cho nhân vật lý tưởng
bao giờ cũng kèm theo đòn trừng phạt đối với kẻ thù. Bàn về vấn đề này, các tác giả
viết: “đúng là phải tiêu diệt mầm mống gây ra sự tội ác. Bởi vậy những kẻ về bản chất
cực kì nham hiểm, cực kì tham lam, tàn bạo như Lí Thông, tên vua trong “chiếc áo
lông chim” , mẹ con dì ghẻ trong truyện Tấm Cám thì không thể thoát chết. Lí Thông
có thể được Thạch Sanh tha chết nhưng trong cảm nhận của nhân dân, nếu Lí Thông
còn sống thì xã hội sẽ không có cuộc sống yên ổn, vì lẽ đó mà Lí Thông phải chết.
Trong truyện, lưỡi tấm sét của thiên lôi bổ đầu lên đầu Lí Thông chính là lưỡi tấm sét
đại diện cho công lý nhân dân. Sau cái chết Lý Thông còn biến thành bọ hung đời đời
sống trong dơ bẩn”.[12]
Trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”, cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã có
phần khảo dị, nó tạo điều kiện cho sự nghiệp nghiên cứu, so sánh truyện cổ tích ở các
địa phương trong nước, của Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Ngoài ra, công
trình nghiên cứu này còn là cơ sở để so sánh truyện cổ tích với các thể loại truyện dân
gian khác từ góc nhìn thi pháp.
9
Những vấn đề nhân vật văn học dân gian đã được thể hiện rõ trong công trình
nghiên cứu của cố giáo sư Đinh Gia Khánh “Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện
cổ tích thông qua việc nghiên cứu truyện Tấm Cám” (NXB Văn học, 1986, tái bản
năm 1999). Cuốn sách này đã sưu tập được hàng chục dị bản về kiểu truyện Tấm Cám
ở Việt Nam và hệ thống hóa lại các kiểu truyện đó. Qua công trình nghiên cứu này ông
đã khái quát được những vấn đề về đặc điểm, cấu trúc của các kiểu truyện cổ tích.
Ngoài ra ông còn chỉ được tính địa phương và tính quốc tế của các thể loại truyện dân
gian. PGS. Chu Xuân Diện đã nhận xét rằng, cố GS. Đinh Gia Khánh đã đứng góc độ
người nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian từ góc nhìn thi pháp.
Việc nghiên cứu trực tiếp thi pháp truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn có thể kể
đến Hà Bình Trị. Trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân
gian”, ông đã cho người đọc hiểu được những khái niệm về một số yếu tố của thi pháp
các thể loại văn học dân gian, yếu tố ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật chính, không gian và

sự “ không bế tắc” ảo tưởng của những nhân vật chính diện trong cổ tích thần kì.
Truyện cổ tích thần kì lí tưởng hóa các nhân vật bằng cách “làm lại” cuộc đời của họ
một cách không tưởng và khẳng định những phẩm chất của họ một cách tuyệt đối.
Truyện cổ tích sinh hoạt cũng lí tưởng hóa nhân vật của mình nhưng theo một kiểu
khác: để cho họ tự lo liệu lấy số phận, khẳng định phẩm chất của họ thông qua sự ứng
xử cụ thể của bản thân họ” [25;63].
Năm 1998, ở lời mở đầu Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam, Chu Xuân Diện – Lê
Chí Quế đã nhận ra các biểu hiện đặc trưng nhất của truyện cổ tích sinh hoạt, đồng
thời xác lập các kiểu nhân vật tiêu biểu: “Truyện cổ tích sinh hoạt – xã hội của người
Việt có những đề tài, cốt truyện và nhân vật tiêu biểu đó là các truyện nói về số phận
kết thúc bi thảm của con người nghèo khó trong xã hội có giai cấp (…); các truyện
phê phán những tầng lớp trên của xã hội (…); các chuyện nói về tình vợ chồng thủy
chung. Đặc biệt hình thành hai nhóm truyện được mọi người rất ưa thích nhóm truyện
về chàng Ngốc và người thông minh”.[6;10]
Tác giả Nguyễn Bích Hà trong cuốn Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ trong
truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, khi bàn tới vấn đề “Về cái chết và sự hóa thân
của nhân vật Lí Thông đã nhận xét: “Cái chết và sự hóa thân của những kẻ ác thành
con vật xấu xa chính là thắng lợi tuyệt đối của cái thiện, của công lí”.
Năm 2002, Phạm Thu Yến trên tạp chí văn học số 4 có bài viết kiểu nhân vật
“chàng ngốc” trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam đã khẳng định: kiểu nhân vật
chàng ngốc có thể được coi như kiểu nhân vật người em, nhân vật dũng sĩ, nhân vật
11
người mang lốt trong truyện cổ tích thần kì. “Về kiểu truyện này, sơ bộ có thể phân ra
thành 2 dạng:
- Một dạng là chàng Ngốc có dáng vẻ bề ngoài ngờ nghệch, ngốc nghếch, nhưng
bên trong ẩn chứa một tài năng tiềm tàng, sức mạnh vô địch. Cuối cùng trút bỏ vẻ bề
ngoài ngờ nghệch, chàng hiện ra trước mắt mọi người với vẻ đẹp hoàn hảo.
- Một nhánh nữa là những chàng Ngốc thực sự “ngốc không để đâu cho hết”.
Mỗi tình tiết của truyện kể đều tập trung thể hiện sự ngốc nghếch từ trong bản chất của
chàng ta.[15;235]

Tiếng Việt Tiểu học có nhân vật loài vật, nhân vật thần kỳ, nhân vật sinh hoạt từ đó
phân loại các kiểu nhân vật với từng đặc điểm cụ thể
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các kiểu nhân vật trong truyện cổ
tích để thấy được đặc điểm của từng kiểu nhân vật từ đó tổng hợp, khái quát và đưa ra
kết luận chung.
- Phương pháp so sánh: So sánh để thấy được điểm khác biệt giữa nhân vật loài
vật, nhân vật thần kỳ và nhân vật sinh hoạt.
- Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện cổ tích ở
chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học phải dựa trên hệ thống đặc điểm, nội dung, nghệ
thuật truyện. Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ thống hóa thế giới nhân vật ở
chương trình Tiểu học.
Tất cả những phương pháp trên đều phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm rút ra
những ý cơ bản nhất liên quan đến đề tài. Trên cơ sở những kiến thức về tâm lí học,
giáo dục học và những quan điểm, đường lối của Đảng, những chuẩn mực, quy phạm
đạo đức xã hội liên quan đến đặc điểm ngoại hình, tính cách, ngôn ngữ…của thế giới
nhân vật.
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lí luận, công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về các kiểu nhân vật
đặc trưng của truyện cổ tích Việt Nam trong chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học,
đề tài nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện cổ tích ở chương trình Tiếng Việt Tiểu
học. Từ đó phân loại làm rõ các vấn đề về đặc điểm của từng nhân vật. Góp thêm
tiếng nói mới vào vấn đề nghiên cứu thế giới nhân vật. Ngoài ra đề tài cũng làm nổi
bật được vai trò, ý nghĩa giáo dục chân – thiện – mỹ cho học sinh Tiểu học. Khẳng
định những đóng góp trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của truyện cổ tích trong hệ
thống các thể loại văn học dân gian Việt Nam.
13
Về mặt thực tiễn, đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập, nghiên
cứu, giúp cho các giáo viên vận dụng vào giảng dạy truyện cổ tích trong chương trình
Tiếng Việt Tiểu học.
7. Cấu trúc đề tài

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Nhân vật văn học
Nhân vật văn học là chủ thể phản ánh của tác phẩm văn học. Nhân vật văn học
được xem là linh hồn của tác giả gửi gắm trong đó những ý tưởng để truyền đạt bức
thông điệp vui, buồn, mãn nguyện, bất lực, giả tạo để nói lên lăng kính của tác giả
với đời thường. Nhân vật văn học có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và là chủ
thể nhận thức của tác giả đưa đến cho người đọc những cảm nhận nhận thức lý tính và
mang tính hình tượng cao. Trong bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng đi với nó ít
nhất một nhân vật để tác giả gửi gắm bức thông điệp mang tính xã hội vào trong cuộc
sống để mỗi người có những điều chỉnh về nhận thức của mỗi cá thể trong cộng đồng.
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện
văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay
không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan
trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm. Văn học không thể
thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một
cách hình tượng. Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu
hiệu để ta nhận ra. Như vậy nhân vật văn học là con người được thể hiện bằng phương
tiện văn học. Nội dung của nhân vật nằm trong sự thể hiện của nó.
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải
quyết hết thảy trong một sáng tác”. Quả đúng như vậy, nhân vật không chỉ là nơi bộc
lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác
phẩm. Thành bại của một đời văn, của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc xây
dựng nhân vật, đọc một tác phẩm văn học cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn độc
giả là những số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn
thể hiện. Nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực. Chức năng của nhân vật là khái
quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao
và kì vọng về con người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã
hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phương tiện
khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng. Nhân vật văn

thác những nét thuộc đặc tính con người, nhân vật có ý nghĩa trước hết ở các loại hình
văn học và kịch. Các thành tố tạo nên văn học gồm: hạt nhân tinh thần của cá nhân,
tư tưởng, lợi ích đời sống, thế giới cảm xúc, ý chí, các ý thức và hoạt động. Nhân vật
văn học là một đơn vị nghệ thuật nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con
người thực ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét gần gũi với nguyên mẫu
16
có thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con
người, có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”[1].
Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn học bằng cách này hay cách khác khi
định nghĩa về nhân vật văn học vẫn căn bản gặp nhau ở những nội dung sau:
Thứ nhất, đó là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn
học.
Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng
mang linh hồn con người, đó là hình ẩn dụ về con người.
Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện
thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của con người nghệ sĩ tài năng.
1.2. Truyện cổ tích
Từ điển văn học định nghĩa truyện cổ tích như sau: “Truyện cổ tích là loại truyện
dân gian có tính phổ biến, hình thành từ thời cổ đại, phát triển, tồn tại qua nhiều thời kì
xã hội khác nhau, gắn chặt với quá trình tan rã của công xã nguyên thủy, hình thành
gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó hướng vào những vấn đề cơ
bản, những số phận, những quan hệ và xung đột có tính chất riêng tư và phổ biến trong
xã hội có giai cấp. Nó dùng một kiểu tưởng tượng và hư cấu riêng kết hợp với các thủ
pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống, và khát vọng của nhân dân, đáp ứng
nhu cầu nhận thức, giáo dục thẫm mĩ và tiêu khiển của nhân dân, sản phẩm của trí
tưởng tượng phong phú của nhân dân, yếu tố tưởng tượng thần kỳ tạo nên một đặc
trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ”(Từ điển văn
học,T2,Nxb KHXH,1984,tr452).
Truyện cổ tích ra đời sau khi thần thoại chấm dứt. Nếu như truyền thuyết đề cập
đến những vấn đề lớn của cộng đồng dân tộc, quá trình vận động để xây dựng đất nước

huống, mỗi cốt truyện đều không có thực, không diễn ra như thực nhưng đó là sự hình
dung, là cách nhìn khái quát của nhân dân về hiện thực xã hội. Quan trọng nhất là mỗi
câu chuyện đó gợi ra một số phận cần nâng niu, chăm sóc; đưa ra một bài học về luân
lí, đạo đức; bày tỏ được khát vọng của con người…Thế giới cổ tích hấp dẫn cũng
chính ở sự sáng tạo kì ảo đó. Những nhân vật Tiên, Phật, Bụt…cùng với cây gậy thần,
khăn thần, viên ngọc ước…là nơi nhân dân lao động gửi gắm ước mơ, khát vọng về sự
công bằng, về cuộc đời đổi mới. Qua truyện cổ tích, người lao động muốn vẽ nên một
thế giới cần có và nên có cho con người chứ không phải là cái thế giới vốn có với
những nỗi đau khổ và bất công.
18
Truyện cổ tích phản ánh một cách sinh động và chân thực đời sống dân tộc. Vì
truyện cổ tích đã nảy sinh từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân, đã phát
triển cùng với trí tưởng tượng đầy tính chất lãng mạn nhưng cũng rất chân thật của họ,
là vì truyện cổ tích không bao giờ chịu bằng lòng với những gì đã có mà trái lại nó sẵn
sàng thu hút lấy những vấn đề mới từ cuộc sống vốn rất năng động và nhiều biến đổi,
từ đời sống nội tâm phong phú của nhân dân lao động. Thực trạng mà truyện cổ tích
phản ánh hết sức đen tối, nhìn vào truyện thấy đầy rẫy những cảnh tượng đáng sợ, nêu
lên những điều chua xót về thế tình bạc bẽo, con người bất nhân, tác giả dân gian
không coi đó là bản chất phổ biến. Những mặt tiêu cực trong truyện nhằm làm nổi bật
những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật chính, nhằm khẳng định sức mạnh của chính
nghĩa và thường thì kết thúc truyện cổ tích cũng là lúc khép lại những cảnh tượng đáng
sợ bởi những kẻ xấu đều bị trừng phạt thích đáng. Tinh thần lạc quan, yêu đời và lòng
yêu thương, quý trọng con người với những phẩm chất cao quý, những mối quan hệ tốt
đẹp là phần cốt lõi trong truyện cổ tích thể hiện triết lí và đạo lí truyền thống cao đẹp
của nhân dân. Yêu đời và thương người là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ
mật thiết với nhau. Tinh thần lạc quan yêu đời là cơ sở của lòng yêu thương người và
toàn bộ đạo đức truyền thống của nhân dân. Tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm tin
vào con người vẫn tỏa sáng cho dù số phận của nhân vật có bi thảm thậm chí họ phải
nhận lấy cái chết. Truyện cổ tích cũng thể hiện rất rõ triết lí “ở hiền gặp lành” và ước
mơ công lí của nhân dân. Triết lí “ở hiền gặp lành” là biểu hiện cao nhất của ước mơ

nhỏ hơn (nhóm nhân vật) dựa vào những căn cứ, tiêu chí nhất định. Nhiệm vụ của
người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khóa để bước vào cánh cửa và khám phá
thế giới nhân vật đó. Do đó, nghiên cứu thế giới nhân vật cũng khác với phân tích hình
tượng thế giới nhân vật. Trong lịch sử văn học có thể nói mỗi tác giả lớn đều có một
thế giới nhân vật riêng. Mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật
riêng của nó. Có thể nói truyện cổ tích Việt Nam có cả một thế giới con người vừa tốt
đẹp, vừa xấu xa, vừa thông minh, vừa ngốc nghếch. Con người vừa tài giỏi và dũng sĩ.
Trong thế giới cổ tích, nhân vật hết sức phong phú và đa dạng, nó góp phần làm
cho câu chuyện thêm sinh động và là cầu nối đi tới tâm hồn của các em. Có thể nói đối
với học sinh Tiểu học, nhân vật là món quà tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống
học tập và sinh hoạt hằng ngày. Nó phản ánh hầu như toàn bộ mọi hạng người, mọi
loại nghề nghiệp trong xã hội. Nhân vật cổ tích còn là những nhân vật của các quan hệ
gia đình, thân tộc, xã hội. Nhân vật xuất hiện trong cổ tích bao giờ cũng nêu lên những
20
mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, quan hệ gia đình. Tùy theo các thể loại truyện cổ tích
khác nhau để tạo ra những dạng nhân vật khác nhau.
Kiểu nhân vật cổ tích loài vật, nhân vật chính trong truyện là các con vật. Đây là
các con vật gắn liền với cuộc sống và sinh hoạt của nông dân, gồm các gia súc gia cầm
nhưng loại nhân vật loài vật tự nhiên chưa quan thuần chủng vẫn chiếm số lượng nhiều
hơn. Có các loại động vật sau:
+ Thú như: cọp, voi, chó rừng, hươu, trâu, ngựa, lừa, trăn trút, chó, mèo…(Voi,
cọp thi tài; Chó rừng và cọp; Tại sao cọp ăn thịt người; Tại sao trâu không biết nói,
Trâu và voi; Voi ngựa đua nhau, Lừa thi tài với ngựa; Con chó vàng và con chó đen;
Chuột và mèo, chó ba cẳng, chó phải đòn oan; chuột và mèo; Con thỏ và con hổ; Con
trâu, con hổ và người thợ cày; con thỏ, con gà và con hổ, voi, hổ, thỏ và khỉ; mưu con
thỏ, vụ kiện châu chấu …).
+ Chim như: Diều, cắt, quạ, gà, vịt, sáo, bồ câu, cò , vạc, đa đa, dủ dỉ,
công…(Diều với cắt và quạ; Diều quạ tranh nhau; Gà mái gáy; Vịt đi xin chân; Con cò
trắng; Gà, Vịt và chim khách; Chim chìa vôi; Quạ và Công; Gốc tích tiếng kêu của
vạc, cộc, dủ dỉ, đa đa và chuột; gà mượn mào vịt; gà gô và gà cỏ; Nguồn gốc tiếng kêu

biểu hiện nội dung, tư tưởng, quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của tác giả dân gian. Theo
Nguyễn Xuân Đức: “Chủ yếu, nhân vật truyện cổ tích là nhân vật phân tuyến. Nhân
vật được hình thành theo hai tuyến đối lập nhau: Tuyến thiện và tuyến ác, tuyến chính
nghĩa và tuyến gian tà, tuyến tốt và tuyến xấu”.
Tuyến thiện là những nhân vật xuất thân từ nông dân nghèo, những người bất
hạnh, thấp cổ bé họng trong xã hội phong kiến. Họ thuộc những người chính nghĩa
mang đầy đủ nét đẹp và đặc tính tốt của con người như đẹp trai, xinh gái (dù đội lốt
thú nhưng bên trong là lốt người đẹp), cần cù, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, nhân
hậu, thông minh, giàu lòng vị tha, hiền lành không tham lam. Tên nhân vật cũng
thường được dùng để đặt tên truyện. Cốt truyện thường theo một mô hình thống nhất
với nhau: Nhân vật mang lốt ước mơ lấy một cô gái/chàng trai đẹp; Bố mẹ cô
gái/chàng trai đưa ra những thử thách; Nhân vật vượt qua các thử thách một cách tài
tình, thần kì; Nhân vật trút bỏ lốt xấu xí và lấy cô gái/chàng trai; Hai vợ chồng sống
hạnh phúc, có khi chàng trai được lên ngôi vua. Họ sinh ra không may và ít khi được
xã hội tiếp nhận. Nhân dân thể hiện cái nhìn đầy bao dung, thiện cảm với họ, giúp họ
trở lại với cuộc sống cộng đồng. Qua đó, nhân dân thể hiện quan niệm thẩm mĩ nhất
định, đó là sự đánh giá về con người không thể dựa vào bề ngoài, “tốt gỗ hơn tốt nước
sơn”. Đạo đức và tài năng theo chuẩn mực của nhân dân là những cái được đề cao.
22
Tuyến ác là những con người nắm quyền kinh tế và chính trị thường là từ anh chị
cả đến phú ông, vua quan. Họ thuộc những người phi nghĩa, mang đầy đủ những đặc
tính xấu từ ngoại hình đến nhân cách: Xấu trai, xấu gái hoặc không đẹp bằng nhân vật
chính nghĩa, lười nhác, ích kỷ. hẹp hòi, đố kỵ, ngu dốt, hung dữ, tham lam. Nhân vật
phản diện trong quan hệ gia đình (Trong gia đình, nhân vật phản diện được xếp đặt
dựa theo chủ yếu các mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, giữa anh chị với em và
giữa vợ với chồng. Đây là những mối quan hệ được thể hiện nhiều nhất trong kho tàng
truyện cổ Việt Nam. Có thể thấy rõ hình ảnh người vợ bạc ác qua nhân vật Nhan Diệp
trong truyện “Sự tích con muỗi”. Nhan Diệp vốn là người đàn bà lười biếng xa hoa,
thỏa thuê sung sướng. Nhan Diệp chết nhưng nhờ người chồng thương yêu quá cảm
động lòng trời nên cho nàng sống lại với lời dặn dò phải chung thủy với chồng. Nhưng

Lớp 1:
TT Tên truyện Tập Trang
Thể loại
truyện
Dạng bài
học
1 Cây khế 1 77 Cổ tích Kể chuyện
2 Quạ và Công 1 121 Cổ tích Kể chuyện
3
Anh chàng ngốc và con
ngỗng vàng
1 169 Cổ tích Kể chuyện
4 Trí khôn 2 72 Cổ tích Kể chuyện
5 Bông hoa cúc trắng 2 90 Cổ tích Kể chuyện
6 Sự tích dưa hấu 2 143 Cổ tích Kể chuyện
7 Rùa và Thỏ 2 Cổ tích Kể chuyện

Lớp 2:
TT Tên truyện Tập Trang Thể loại Dạng bài học
1 Bà cháu 1 86 Cổ tích
Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả
2 Câu chuyện bó đũa 1 96 Cổ tích
Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả
3 Hai anh em 1 119 Cổ tích
Tập đọc, Kể
chuyện, Chính tả
4 Sự tích cây vú sữa 1 96 Cổ tích
Tập đọc, Kể

Sự tích chú cuội cung
trăng
2 131 Cổ tích
Tập đọc, Kể
chuyện
6 Cóc kiện trời 2 122 Cổ tích
Tập đọc, Kể
chuyện
7 Giấu cày 1 128 Cổ tích Tập làm văn
8 Ba điều ước 1 137 Cổ tích Tập làm văn

Lớp 4:
TT Tên truyện Tập Trang Thể loại Dạng bài học
1 Sự tích hồ Ba Bể 1 8 Cổ tích Kể chuyện
2 Cây khế 1 42 Cổ tích Tập làm văn
3 Những hạt thóc giống 1 46 Cổ tích Tập đọc, Chính tả
4 Ba lưỡi rìu 1 64 Cổ tích Tập làm văn
5 Hai mẹ con và bà tiên 1 54 Cổ tích Tập làm văn
6 Bác đánh cá và gã 2 7 Cổ tích Kể chuyện
25
hung thần
7 Bốn anh tài 2 4 Cổ tích Tập đọc
8 Tấm Cám 2 47 Cổ tích Kể chuyện
9 Sự tích Hồ Gươm 2 88 Cổ tích Luyện từ và câu
10 Ăn mầm đá 2 157 Cổ tích Tập đọc

Lớp 5:
TT Tên truyện Tập Trang Thể loại Dạng bài
học
1 Phân xử tài tình 2 47 Cổ tích Tập đọc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status