Lêi c¶m ¬n
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng
viên Ths. Trần Thị Mỹ Hồng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với quý thầy cô giáo khoa Sư phạm
Tiểu học - Mầm non đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong những năm
học qua. Vốn kiến thức được thầy cô truyền đạt trong quá trình học tập không
chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu
cho tôi trong quá trình lao động nghề nghiệp sau này. Cảm ơn quý thầy cô giáo
đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực
hiện đề tài.
Nhân đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới Trung
tâm học liệu - Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã luôn giúp
đỡ, động viên tôi trong thời gian thực hiện khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài không thể tránh khỏi những thiếu
sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô giáo cùng các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô giáo luôn dồi dào sức khỏe, hạnh
phúc và thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp trồng người.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Võ Thị Liễu
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Pham vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 5
6. Cấu trúc của khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÁC PHẨM THƠ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 6
1.1. Khái quát về tác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. 6
1.2. Những giá trị cơ bản của tác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu
học. 7
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT NHÂN HÓA TRONG CÁC TÁC PHẨM THƠ Ở
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 22
2.1. Khái niệm nhân hóa 22
2.2. Một số kiểu nhân hóa thường gặp trong các tác phẩm thơ ở chương trình
Tiếng Việt Tiểu học. 22
2.2.1. Nhân hóa dùng những từ ngữ vốn gọi người để trò chuyện xưng hô với
vật. 22
2.2.2. Nhân hóa dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để
biểu thị vật. 25
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nói đến ngôn ngữ là nói đến công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có
ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển
ngôn ngữ. Xác định được tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với cuộc sống con
người môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành cho học
sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) và hình thành ngôn ngữ
giao tiếp.
“Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ đó chính là các phương tiện, biện
pháp tu từ” [5, tr. 6]. Các biện pháp nghệ thuật ra đời làm nên tính độc đáo và
cái hay cho ngôn ngữ trong từng tác phẩm, bên cạnh đó biện pháp tu từ cũng
góp phần tạo nên phong cách nhà thơ, nhà văn. Để có những tác phẩm mang lại
dư âm sâu lắng trong lòng người đọc nhà văn nhà thơ phải biết cách sử dụng
linh hoạt các biện pháp tu từ sẵn có. Việc nghiên cứu về biện pháp tu từ có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với văn học nói chung và thơ ca nói riêng.
Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học các tác phẩm thơ chiếm số lượng
tương đối lớn và được đưa vào giảng dạy như một yêu cầu cần thiết giúp học
sinh hình thành năng lực tư duy, năng lực cảm thụ văn học. Để giúp học sinh
cảm thụ tốt các tác phẩm thơ không có con đường nào hiệu quả bằng việc khai
thác nét đặc sắc nghệ thuật mà tác giả sử dụng. Biện pháp nghệ thuật xuất hiện
trong các tác phẩm thơ ở chương trình Tiếng Việt Tiểu học với một mục tiêu rất
lớn đó là cung cấp cho học sinh những giá trị đạo đức, nhân văn mà tác giả
muốn gửi đến và qua đó biện pháp nghệ thuật tô điểm thêm cho vẻ đẹp của các
tác phẩm thơ cuốn hút học sinh khi tiếp xúc với nội dung của các tác phẩm.
Ngoài ra biện pháp nghệ thuật còn phát huy trí tưởng tưởng cho học sinh, trau
dồi khả năng tư duy và củng cố năng lực diễn đạt khi giao tiếp.
Biện pháp nghệ thuật quan trọng được tác giả sử dụng trong các tác phẩm
vựng đặc biệt là biện pháp nhân hóa, so sánh. Ngoài ra sách giáo khoa còn sử
dụng khá nhiều hình ảnh nhân hóa, so sánh trong các tác phẩm thơ và văn xuôi.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề biện pháp tu từ Tiếng Việt và
có những công trình nghiên cứu bàn về vấn đề này có thể kể đến như:
3
Tác giả Bùi Tất Tươm trong “Giáo trình Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Giáo
dục, 1995 đã trình bày về các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng như so
sánh, ẩn dụ, hoán dụ…Ở mỗi biện pháp tu từ đều nêu lên đặc điểm, các mối
quan hệ, giá trị của từng biện pháp tu từ.
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 Phương tiện và Biện pháp tu từ Tiếng
Việt” (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998), đã hệ thống gần như đầy đủ các phương
tiện tu từ từ vựng (từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, và phương tiện ngữ âm
của phong cách học), các biện pháp tu từ Tiếng Việt (từ vựng, ngữ nghĩa, cú
pháp, văn bản, ngữ âm – văn tự).
Ở “Phong cách học Tiếng Việt” (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1999) Hữu
Đạt đã giới thiệu khá cụ thể về đặc điểm và chức năng của phong cách báo chí.
Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày một số biện pháp tu từ như so sánh, nhân
hóa, ẩn dụ, hoán dụ…
Tác giả Cù Đình Tú với “Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt”
(Nhà xuất bản Giáo dục, 2001) đã trình bày hệ thống lý thuyết phong cách học
cũng như các vấn đề cụ thể về phong cách học Tiếng Việt. Công trình còn đi vào
tìm hiểu đặc điểm tu từ của các loại đơn vị trong Tiếng Việt.
Bài giảng “Từ vựng học Tiếng Việt” của Nguyễn Thị Thu Thủy (2005), đề
cập đến nghĩa của từ, thành ngữ và cách phân biệt thành ngữ, tục ngữ, sự chuyển
nghĩa tu từ theo kiểu ẩn dụ và hoán dụ…
Ngoài ra có một số luận văn sau đại học đã nghiên cứu về biện pháp tu từ
như:
- Biện pháp tu từ so sánh trong thơ Chế Lan Viên (Nguyễn Thị Yến Nhung
– Đại học Tây Nguyên).
- Phương pháp dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3(Lê Thị Hạnh – Luận văn
hóa, so sánh trong các tác phẩm thơ.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Trên cơ sở khảo sát tìm hiểu các biện
pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa trong các tác phẩm thơ ở chương trình Tiếng
Việt Tiểu học, tiến hành phân loại các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa thành
các kiểu nhỏ nhằm giúp học sinh dễ tiếp nhận.
5
5. Đóng góp của đề tài
- Về lý luận, đề tài góp phần hệ thống những kiến thức cơ bản về biện pháp
nghệ thuật nhân hóa, so sánh; qua quá trình khảo sát thống kê các biện pháp
nghệ thuật được sử dụng trong các tác phẩm thơ ở chương trình Tiếng Việt Tiểu
học giúp giáo viên và học sinh Tiểu học dễ nhận diện các biện pháp nhân hóa, so
sánh khi học các tác phẩm thơ này. Đồng thời, trên cơ sở tìm hiểu phân tích tác
dụng của các biện pháp nghệ thuật trong từng ví dụ cụ thể góp phần làm tăng
khả năng cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học, giúp các em phát huy việc sử
dụng biện pháp nghệ thuật trong khi làm văn.
- Về thực tiễn, đề tài góp phần nâng cao kiến thức cho người nghiên cứu, là
tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên, học sinh trong dạy học các tác phẩm
thơ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
gồm có 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung về tác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt
Tiểu học.
Chương 2: Nghệ thuật nhân hóa trong các tác phẩm thơ ở chương trình
Tiếng Việt Tiểu học.
Chương 3: Nghệ thuật so sánh trong các tác phẩm thơ ở chương trình Tiếng
Việt Tiểu học.
người lớn viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 68,9%, có 9 bài thơ người lớn viết về
thiếu nhi chiếm tỷ lệ 20%, có 3 bài thơ người lớn viết về người lớn nhưng dành
cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 6,7%, có 2 bài thơ thiếu nhi viết về thiếu nhi chiếm tỷ
lệ 4,4%.
Lớp 4: Trong tổng số 25 bài thơ trong nội dung chương trình có 7 bài thơ
7
của người lớn viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 28%, có 1 bài thơ người lớn viết về
thiếu nhi chiếm tỷ lệ 4%, còn lại là các bài thơ thiếu nhi viết về thiếu nhi.
Lớp 5: Trong tổng số 28 bài thơ trong nội dung chương trình, có 12 bài thơ
người lớn viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 42,9%, có 2 bài thơ người lớn viết về
thiếu nhi chiếm tỷ lệ 8%, còn lại là các bài thơ người lớn viết về người lớn
nhưng dành cho các em thiếu nhi, các em thiếu nhi viết cho các em thiếu nhi.
Qua thống kê trên ta nhận thấy các bài thơ của người lớn viết cho thiếu nhi
chiếm tỷ lệ tương đối cao, gồm 73 bài. Các bài thơ được viết theo thể thơ 3 chữ,
4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, thất ngôn bát cú, tự do, nhưng số lượng các
bài thơ 4 chữ, 5 chữ chiếm tỷ lệ cao nhất.
Thể thơ 4 chữ có 29 bài /141 bài chiếm 20,6%
Thể thơ 5 chữ có 43 bài/141 bài chiếm 30,5%
Thơ đưa vào chương trình sách giáo khoa Tiểu học hiện nay đã xác định
được nội dung và mục đích giáo dục. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, lời thơ
giàu vần điệu, nhạc điệu giúp các em dễ thuộc, dễ nhớ. Nội dung các bài thơ cơ
bản là phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em. Tâm hồn các em ngây thơ, trong
sáng, các em dễ xúc cảm, hay bắt chước và muốn làm theo gương sáng, các em
tin tưởng tuyệt đối vào người trên và nhất là thầy cô giáo.
Thơ viết về các em, viết cho các em có trong nội dung chương trình không
những chỉ có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu trước mắt là giáo dục đi đôi với giải trí
mà còn có tính thời đại lâu dài. Thiếu nhi đã được xã hội chăm sóc, nâng niu,
dạy dỗ như thế nào? Thơ dành cho thiếu nhi đã phản ánh được điều đó bằng bút
pháp riêng, nghệ thuật riêng.Vì vậy thơ trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học
hiện nay đã đạt được tới những giá trị của văn học.
ấm áp. Mùa thu với bao tâm trạng háo hức chờ mong của “Ngày khai trường”
được gặp lại thầy cô, bạn bè, cùng nhau bước vào năm học mới. Mùa xuân đến
bầu trời thêm xanh, mây trắng, nắng vàng là hình ảnh trong phiên “Chợ Tết”
đón chào một mùa xuân mới với không khí nhộn nhịp, tươi vui, phấn khởi
(Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon).
Thơ trong chương trình Tiểu học đã mở ra trước mắt các em cả một chân
trời mới trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Con người sống
9
trong sự giao hòa với thiên nhiên chính vì vậy con người cần phải trân trọng,
yêu quý và bảo vệ thiên nhiên. Mỗi cành cây, ngọn cỏ đều phải được con người
chăm sóc, giữ gìn.
Văn chương cứ đến với tâm hồn các em một cách giản dị, trong sáng, nồng
nàn. Thơ là tiếng nói của tâm hồn. Thế giới thiên nhiên luôn gần gũi thân thiết
với các em. Bài thơ Cây dừa của Trần Đăng Khoa chứa đựng nhiều hình ảnh
mộc mạc, giản dị mà gần gũi với tuổi thơ các em.
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu
Dang tay đón gió gật đầu gọi trăng
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
[12, tr. 88]
Cây tre của thiên nhiên cũng mang dáng hình đất nước, tính cách phẩm giá
của dân tộc Việt Nam. Đọc “Lũy tre” của Nguyễn Công Dương ta bắt gặp cách
lựa chọn hướng khai thác khá đặc biệt. Nhà thơ đặt tre trong khung cảnh nông
thôn thoáng rộng, đặc thù. Không gian thanh bình có màu sắc, âm thanh nghìn
đời của thôn quê Việt Nam. Sông, biển, những cánh buồm, nước, trời, chim
chóc, muông thú trong mắt các em trở thành một thế giới đầy diệu kỳ:
Tưởng rằng biển nhỏ
Mà to bằng trời…
Bãi giằng với sóng
Chơi trò kéo co
dân tộc qua các chủ điểm: Lễ hội, Vẻ đẹp muôn màu, Nghệ thuật, có biết bao
nhiêu đền đài miếu mạo hội hè đình đám cũng đã được đưa vào chương trình
Tiểu học: Đi hội Chùa Hương, Ngày hội rừng xanh…Ta cũng gặp trong chương
trình Tiểu học nhiều nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam với vô số các danh
lam thắng cảnh nổi tiếng như Biển Cửa Tùng, Vàm Cỏ Đông, chùa Hương, Việt
Bắc… Qua những tác phẩm này học sinh có dịp ngắm nhìn non sông gấm vóc,
khám phá thế giới muôn màu muôn vẻ. Đi hội chùa Hương chúng ta có dịp
ngắm:
Động chùa Tiên, chùa Hương
11
Đá còn vang tiếng nhạc
Động chùa núi Hinh Bồng
Gió còn ngân khúc hát
Ôi phải đâu lễ Phật
Người mới đi chùa Hương
Người về thăm đất nước
Người về trong yêu thương
[13, tr. 68]
Từ “Góc sân và khoảng trời”, các em nhìn ra thế giới xung quanh. Tất cả
đều nồng nàn sự sống, đều diệu kỳ, hấp dẫn trẻ thơ. Một góc sân nho nhỏ, đám
mây, cơn mưa mùa hạ, ông sấm, vườn cây, luống cày… tất cả đều đi vào các tác
phẩm thơ trong chương trình Tiểu học hồn nhiên như cuộc sống. Văn chương
trong chương trình Tiểu học, chim biết nói, hoa biết cười, biết chia bùi sẻ ngọt,
cây biết buồn vui, nắng cũng biết nũng nịu như con người.
Tình yêu là nét nổi bật nhất trong nội dung những tác phẩm viết cho thiếu
nhi. Chúng ta đã biết lòng yêu ghét của trẻ thơ thể hiện rất đậm nét và hồn nhiên
trong cuộc sống hằng ngày. Các em yêu cha mẹ, quý trọng người thân. Các em
sống rất giàu tình cảm: quê hương, đất nước, đồng bào. Nói đến trẻ em là nói
đến lòng tốt và vẻ đẹp của tâm hồn. Trẻ là cội nguồn của con người, cái cội
nguồn ấy vô cùng trong sạch. Những bài học đạo đức về lòng nhân ái được thể
nghĩa vụ vừa cụ thể vừa sâu sắc. Tình cảm gia đình là một trong những thứ tình
cảm thiêng liêng quý giá của mỗi con người. Mỗi nhà thơ bằng sự khám phá và
thể hiện riêng của mình đã đem đến cho văn học những tác phẩm giàu giá trị
nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục và lay thức tình cảm tốt đẹp của con
người. Dưới ngòi bút của những người nghệ sĩ chuẩn mực đạo đức gia đình luôn
được thể hiện rõ nét và đem lại những giá trị giáo dục to lớn. Trong chương
trình Tiếng Việt Tiểu học có nhiều tác phẩm thơ lấy tình cảm gia đình làm
phương tiện để chuyển tải thông điệp tới người đọc người nghe, giáo dục cho
học sinh tình yêu gia đình, yêu thương, kính trọng ông bà cha mẹ và anh chị em
trong gia đình. Từ thuở lọt lòng các em được sống trong tình yêu thương, nâng
niu của ông bà, bố mẹ, anh chị em và mọi người xung quanh. Tình cảm đó đã
13
thấm vào máu thịt các em, nó cứ lớn dần lên theo năm tháng. Tình cảm đó đi
vào văn chương không cầu kỳ, kiểu cách mà vô cùng chân thật đáng yêu. Trước
hết đó là tình cảm ruột thịt trong gia đình ông bà, cha mẹ, tình cảm anh em vừa
thân thương vừa cảm động. Đó là thái độ trân trọng, kính yêu, biết ơn ông bà,
cha mẹ. Nói đến tình cảm gia đình không thể không nhắc đến tình mẫu tử thiêng
liêng cao đẹp, tình cảm ấy là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca. Mỗi người
Việt Nam sinh ra và lớn lên trong vòng tay của mẹ ít nhiều cũng từng được nghe
tiếng à ơi ru hời êm dịu như suối hát, những lời ca ngọt ngào như dòng sữa mẹ
vẫn không có gì thay thế được một hồi ức đẹp về tình yêu mẹ dành cho con.
Hình ảnh người mẹ ngồi ru con giữa trưa hè nắng nóng trong bài thơ Mẹ của nhà
thơ Trần Quốc Minh gợi cho ta biết bao suy ngẫm về tình yêu thương vô bờ bến
của mẹ. Bài thơ không chỉ lột tả vẻ đẹp của tình mẫu tử mà còn chất chứa trong
đó nỗi vất vả của mẹ khi sinh ra và nuôi dạy con. Lời hát ru của mẹ cứ nhẹ
nhàng và âu yếm thấm dần vào tâm hồn của mỗi đứa con.
Đáp lại tình thương yêu bao la của những người mẹ đó là tình cảm giản dị,
chân thành của những đứa con hiếu thảo. Tình cảm đó thể hiện rõ trong bài thơ
Mẹ ốm của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Mẹ là hiện thân của tình yêu thương và
lòng nhân hậu. Đi cùng đời mẹ là nỗi gian truân vất vả. Khi mẹ ốm các em xót
im ắng lạ thường. Dường như mọi vật cũng như hiểu ra tình cảm của bé dành
cho bà mà chúng trở nên đồng cảm với bé.
Căn nhà đã vắng
Cốc chén nằm im
[13, tr. 23]
Mùi hương bình dị của hoa trong vườn cũng “lặng” đi vì cảm động, cũng la
đà bên hai bà cháu, để theo làn gió nhẹ của chiếc quạt từ tay cháu mùi hoa lan
tỏa vào giấc ngủ của bà, tặng bà giấc mơ đầy hương thơm. Bài thơ nhẹ nhàng
giản dị nhưng sâu lắng, gợi lên cảnh sắc nông thôn gần gũi, chan hòa. Đọc xong
bài thơ ta như có cảm giác lâng lâng đến lạ, mong sao cuộc đời này có thật nhiều
niềm thương mến, thật nhiều đứa cháu hiếu thảo như thế.
Tình cảm anh em ruột thịt trong gia đình cũng thật đáng quý, đáng trân
trọng thể hiện chuẩn mực đạo đức trong cách cư xử của mỗi con người. Tình
15
cảm yêu thương của người anh dành cho cô em gái nhỏ trong bài thơ Tiếng võng
kêu của nhà thơ Trần Đăng Khoa thật đáng ngưỡng mộ. Tình cảm ấy thể hiện
thật sâu sắc qua hình ảnh thật đáng yêu với lời thơ như lời người anh nhắn thầm
với em gái mình:
Em ơi cứ ngủ
Tay anh đưa đều
Ba gian nhà nhỏ
Đầy tiếng võng kêu
[12, tr. 117]
Câu thơ “Em ơi cứ ngủ” cũng làm cho ta thấy tình yêu thương của người
anh dành cho em gái thật lớn lao. Bên cạnh tình thương yêu cũng thể hiện được
người anh đã làm tròn trách nhiệm đối với em gái đó là ru em ngủ. Bằng tiếng
võng quen thuộc, bằng tình yêu thương chăm sóc của người anh đã đưa em vào
giấc ngủ ngon với giấc mơ đẹp. Đọc bài thơ ta thấy hiện lên tình cảm anh em
thật thân thiết, một tình cảm gia đình đáng quý. Qua bài thơ giáo dục các em học
sinh phải biết yêu thương em nhỏ, dành tình cảm chân thành quan tâm em, giúp
hợp trong xã hội trong môi trường sống của mình. Tác giả cũng khẳng định rằng
con người không thể sống cô đơn mà phải có tình yêu thương đồng chí và anh
em của mình, biết giúp đỡ nhau, yêu thương che chở nhau như anh em ruột thịt.
Đề cao tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, trong cuộc sống một cá nhân rất khó
để đi đến được thành công mà phải nhờ vào sức mạnh của tập thể, của sự gắn
kết trong cộng đồng. Tác giả đã gửi gắm vào những vần thơ lời ca ngợi lời
khuyên nhủ con người muốn tồn tại trong xã hội cần có sự đoàn kết, đùm bọc,
yêu thương giúp đỡ nhau. Bởi tình yêu thương làm cho con người sống ngày
càng có ý nghĩa hơn, sự gắn kết với cộng đồng chính là con đường dẫn ta tới
thành công.
Một phẩm hạnh cao quý nhất của con người trong xã hội là tình yêu quê
hương, đất nước. Tình yêu ấy có lúc là tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí
chống giặc ngoại xâm, có khi là lòng căm thù quyết không đội trời chung với kẻ
thù.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thiếu nhi Việt Nam hăng hái làm
17
theo lời dạy của Bác Hồ: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình. Nhiều
bạn nhỏ đã hi sinh tuổi thơ trong sáng cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền
độc lập tự do của dân tộc. Hình ảnh chú bé liên lạc hồn nhiên, dũng cảm trong
bài thơ Lượm của Tố Hữu đã để lại cho thế hệ trẻ niềm cảm phục sâu sắc. Hình
ảnh chú bé Lượm được tác giả khắc họa rõ nét thật gần gũi với các em thiếu nhi.
Sự hi sinh anh dũng của chú bé liên lạc là tấm gương sáng về tình yêu quê
hương đất nước cho các em thiếu nhi noi theo.
Không ai có thể phủ nhận vai trò của quê hương, quê hương lưu giữ những
kỉ niệm ngày thơ bé cho tới khi nhắm mắt xuôi tay. Quê hương vỗ về những thất
bại, mỉm cười với thành công. Có rất nhiều tác phẩm viết về quê hương nhưng
“Quê hương” của Đỗ Trung Quân mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với các em
học sinh. Tác giả dùng những hình ảnh gần gũi như chùm khế ngọt, đường đi
học, con diều, cầu tre…để gợi nhớ về quê hương. Những vần thơ mộc mạc giản
dị sâu lắng in đậm trong trí nhớ trẻ thơ về hình ảnh quê hương. Bài thơ không
con người Việt Nam đó là yêu lao động, kính trọng những người lao động chân
chính. Hình ảnh chị lao công trong bài thơ Tiếng chổi tre là hình ảnh đặc sắc về
công việc thầm lặng mà chứa đựng nhiều ý nghĩa. Bài thơ là lời nhắn nhủ của
tác giả đến với mỗi chúng ta, được sống trong môi trường trong lành là nhờ công
sức của những người lao động như chị lao công. Bài thơ chứa đựng ý nghĩa giáo
dục sâu sắc đối với các em học sinh, phải biết yêu quý kính trọng những người
lao động, tuy công việc đơn sơ thầm lặng nhưng họ đã đóng góp rất lớn cho
cuộc sống văn minh tốt đẹp hơn. Qua đó nâng cao ý thức tự giác lao động cho
các em học sinh, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn trường lớp sạch
đẹp.
Nhà thơ Võ Quảng thật tinh tế sâu sắc khi mượn hình ảnh anh đóm đóm để
tái hiện những công việc hi sinh thầm lặng cống hiến cho đất nước mà giáo dục
học sinh qua bài thơ Anh đom đóm. Bằng đôi mắt tinh tế, bút pháp tỉ mỉ tác giả
đã dựng nên một thế giới động vật vô cùng sinh động, những con vật trong thế
giới của trẻ thơ đặc biệt là những đứa trẻ ở nông thôn. Thế giới động vật được
tác giả liên tưởng như thế giới con người với những công việc riêng của mình để
duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội. Bài thơ ca ngợi sự chăm chỉ chuyên
19
cần của anh đom đóm trong việc đi gác vào ban đêm, một công việc âm thầm và
lặng lẽ không một chút phô trương. Qua hình ảnh anh đom đóm tác giả muốn
giáo dục con người Việt Nam nói chung và thế hệ thiếu nhi nói riêng cần phải
biết yêu thương, quý trọng những công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa như anh
đom đóm, sẵn sàng hi sinh bản thân để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người
khác.
Trong xã hội, khi con người đã đề cao lòng yêu nước, giá trị lao động, tinh
thần giúp đỡ lẫn nhau và đức tính trung thực, thật thà, lễ độ… bao nhiêu thì
cũng lên án một cách quyết liệt những gì trái với những chuẩn mực đạo đức ấy
bấy nhiêu. Hai tính cách được coi như ngọn nguồn mọi tính xấu của con người
là độc ác và tham lam cũng trở thành đối tượng phê phán, chế diễu và trừng phạt
trong văn học từ xưa tới nay. Tác phẩm Gà Trống và Cáo là một minh chứng
thống “Tôn sư trọng đạo” vốn có của con người Việt Nam.
Trong nhà trường tình bè bạn là điều rất đáng quý. Bè bạn phải biết thương
yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau (Mèo con đi học, Gọi bạn). Tình bạn cũng là một
nét đẹp đạo đức được con người luôn trân trọng, giữ gìn. Ở lứa tuổi Tiểu học
tình bạn vừa chân thật vừa hồn nhiên, ngây thơ hết lòng vì nhau, chia bùi sẻ ngọt
với nhau cũng là một trong những nội dung quan trọng của tác phẩm thơ trong
chương trình Tiểu học. Có thể nói tuổi thiếu nhi là tuổi vui chơi, tuổi học hành
với những bài học quý báu răn dạy các em phải bền chí tu thân học hành mới
nên người. Thực tế trong những năm đất nước có chiến tranh, thiếu nhi ta rất
xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Các em sớm biết yêu đất nước,
yêu đồng bào, yêu tất cả những gì gắn bó với quê hương làng mạc… Tinh thần
yêu nước đó luôn luôn đi liền với những kỷ niệm tuổi thơ của các em và được
các tác phẩm thơ trong chương trình Tiểu học phản ánh một cách chân thực sâu
sắc. Văn học viết cho trẻ có nội dung phong phú, đề cập đến nhiều khía cạnh
trong đời sống, tâm hồn tính cách của trẻ.
Nó được các nhà thơ thể hiện ở nhiều góc độ, phương diện trong tác phẩm
viết cho thiếu nhi. Đặc biệt thông qua chủ điểm nhà trường giáo dục cho các em
tình yêu ngôi trường, thầy cô, bạn bè và cả những trang sách, quyển vở, ngòi
bút, con chữ, cái nhãn vở… Trí tuệ làm nên vũ khí vô địch của con người. Nhờ
21
có trí tuệ mà loài người đã tiến hóa, đã có đủ sức mạnh để có thể chế ngự cả
thiên nhiên và muôn loài, làm chủ cuộc sống.
Những tác phẩm thơ trong chương trình Tiểu học có vai trò quan trọng
trong việc giáo dục đạo đức cho các em học sinh. Ngoài việc biểu đạt suy nghĩ
tình cảm, sự đánh giá nhận xét của tác giả về sự vật hiện tượng, thơ còn để lại
những ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc. Giáo dục các em mối quan hệ tốt đẹp
trong gia đình, yêu thương kính trọng, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, đoàn kết,
đùm bọc giúp đỡ anh chị em trong gia đình. Giáo dục các em giữ gìn mối quan
hệ tốt đẹp ngoài xã hội, yêu thương kính trọng những người lao động chân
chính, làm việc tốt để giúp đỡ mọi người xung quanh, sống hòa nhập với cộng