Phát triển ngôn ngữ nói ở tiểu học vùng dân tộc thiểu số Trên chương trình tiếng Việt tiểu học 2000 Luận văn ThS Ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam[114836][114836] - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM OANH
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ NÓI Ỏ TIẾU HỌC
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

(TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIÊU HỌC 2000)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam
Mã số: 5. 04. 31
LUẬN VÃN THẠC s ĩ
tíAIHỌí' OUOC 3IA HA *,Ềẳ Ị
TRUN&TÀ THỐNG T\u. 1 HIT VĨỆN I
:
I



Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS TRẦN TRÍ DÕI
HÀ NỘI - 2004
MỎ ĐẦU
MỤC LỤC
Trang
1. Lí do chọn đề tà i

2. Mục đích nghiên cứ u
3. Nhiệm vụ nghiên c ứ u
4. Phương pháp nghiên c ứ u
5. Giới thiệu cấu trúc luận v ă n
CHƯƠNG 1. TIẾNG VIỆT TRONG vị THẾ NGÔN NGỮ QUỐC GIA
1. Tiếng Việt như là một ngôn ngữ quốc g ia

45
45
49
4
hiện nay: tích hợp và phát huy tính tích cực của học sin h

_ ' 5 . 50
5. Các yêu câu vê dạy ngôn ngữ nói theo cấu trúc khung của
Chương trình Tiếng Việt tiểu học 2 0 0 0
54
6. Tiểu k ế t £4
CHƯƠNG 3. THỬ THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIEN n g ô n n g ữ
NÓI CHO HỌC SINH Tiểu HỌC VÙNG DÂN TỘC THIÊU SỐ
1. Các yêu cầu về kiến thức và kỹ nãng Nói tiếng V iệ t

Ộ5
2. Những điều kiện về ngôn ngữ học đảm bảo cho học sinh thực 72
hiện và hoàn thiện các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng Nói tiếng Việt
2.1. Ngữ â m 72
2.2. Từ vựng - ngữ n gh ĩa 73
2.3. Ngữ ph á p 74
2.4. Phong cách sử d ụ n g
75
3. Các thiết kế về môi trường dạy và học nói; về kiểm tra, đánh
g iá 77
3.1. Về môi trường dạy và học n ó i
/7
3.2. Về kiểm tra, đánh g iá 79
4. Các thiết k ế mẫu: dạng bài h ọ c


như chúng không nắm được lời nói miệng" [53; 150], Theo tác giả M. R. Lvốp
thì "dường như thiếu các hình thức khẩu ngữ là một trong những nguyên nhân
của sự chậm trễ trong phát triển ngôn ngữ của trẻ" [88; 96].
6
1. Lí do chọn đề tài
Với vai trò quan trọng như vậy, việc phát triển ngôn ngữ nói cho học
sinh dân tộc thiểu số cũng đã được quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ quan
điểm dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc là dạy ngôn ngữ thứ hai và từ thực tế
trẻ em dân tộc thiểu số chưa biết hoặc biết ít tiếng Việt trước khi đi học, trong
một số chương trình Tiếng Việt sử dụng cho vùng giáo dục phát triển gặp
nhiều khó khăn, vùng dân tộc thiểu số,1 đã thiết kế thêm phân môn Tập nói
tiếng Việt. Phân môn này có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một công cụ
giao tiếp (khẩu ngữ) và phương tiện tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, do nhiều lí
do (chương trình cháp vá, không hoàn thiện hoặc tách rời với chương trình
chung, tài liệu biên soạn khô cứng ), học sinh sau khi theo học các chương
trình này ở tiểu học, khó có thể hoà nhập vào chương trình chung và tiếp tục
học lên. Cho đến nay các chương trình này đã không còn thực hiện nữa. Mặc
dù vậy, những kết quả nghiên cứu về phương pháp luận của các chương trình
này đã để lại cho những người nghiên cứu sau này nhiều kinh nghiệm quý báu.
Từ năm học 2002 - 2003, Chương trình Tiếng Việt tiểu học 2000 bắt
đầu được thực hiện trên toàn quốc. Được xây dựng theo quan điểm mới với
mục tiêu là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt, chương trình quan tâm dạy cách
dùng tiếng Việt trong cả hai dạng nói và viết. Đối với học sinh dân tộc, chương
trình này phần nào phù hợp hơn so với các chương trình Tiếng Việt trước. Tuy
nhiên, do sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng dân tộc, giữa các
dân tộc thiểu số có sự chênh lệch; trình độ tiếng Việt của trẻ trước khi tới
trường giữa các vùng dân tộc và giữa các dân tộc cũng không đồng đều, cho
nên các em vẫn gặp một số khó khãn khi theo học chương trình này.
Từ đó có thể thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu về việc phát
triển ngôn ngữ gán với đặc điểm song ngữ ở vùng dân tộc thiểu sô' để tạo ra sự

5. Giới thiệu cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương và phần Phụ
lục.
Chương 1. Tiếng Việt trong vị thế ngôn ngữ quốc gia.
Chương 2. Dạy nói tiếng Việt ở tiểu học vùng dân tộc thiểu số.
Chương 3. Thử thiết kế Chương trình phát triển ngôn ngữ nói cho học
sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số.
9
CHƯONG 1. TIẾNG VIỆT TRONG vị THẾ NGÔN NGỮ QUỐC GIA
1. Tiếng Việt như là một ngôn ngữ quốc gia
1.1. Ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong phạm vi cả nước, là công cụ
giao tiếp chung của các dân tộc, do đó, nó là phương tiện thống nhất quốc gia
về mặt ngôn ngữ. v ề mặt nghi thức, nó được xác định như một trong bốn chỉ
tố quốc thể: quốc kì, quốc huy, quốc ca và ngôn ngữ quốc gia. Cùng với ý thức
quốc gia, ngôn ngữ quốc gia luôn được lựa chọn trên cơ sở của những tiêu
chuẩn vé ngôn ngữ và chính trị xã hội.
1.1.1. Vể mặt chính trị xã hội, để xác lập một ngôn ngữ là ngôn ngữ
quốc gia cần có sự chế định bằng các điều luật. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào chủ
trương, chính sách của mỗi quốc gia mà ngôn ngữ quốc gia có thể được công
khai ghi vào trong Hiến pháp (đó là "chính sách hiện"), hoặc có thê’ không ghi
trong Hiến pháp (đó là "chính sách ẩn"). Theo tác giả Nguyễn Văn Khang thì
"cụm từ ngôn ngữ quốc gia có thể được dùng cho cả những ngôn ngữ được ghi
trong Hiến pháp của một nước là ngôn ngữ quốc gia, cũng được dùng cho cả
những ngôn ngữ tuy không được ghi trong Hiến pháp của một nước nhưng trên
thực tế chúng đang hành chức là ngôn ngữ quốc gia” [32],
Tiếng Việt đảm nhiệm chức năng của một ngôn ngữ quốc gia chỉ từ khi
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời năm 1945 mà Tuyên ngôn độc
lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết và đọc bằng tiếng Việt có thể xem
như là sự khẳng định vị thế quốc gia của tiếng Việt. Tiếp theo, năm 1946, Bộ
Quốc gia Giáo dục đã xác lập "Từ nay (tức niên học 1946 - 1947) tất cả các

triển cao cũng có thể là ngôn ngữ chưa tương đẳng hoàn toàn với chức nâng
nhiệm vụ mà nó đảm trách. Song theo một số nhà nghiên cứu, nhìn chung
ngôn ngữ quốc gia cần có một số điều kiện như: có số lượng người nói tương
11
đối áp đảo; có địa bàn cư trú tập trung; có chữ viết; có truyền thống sử dụng
ngôn ngữ trong nhiều chức nãng [68].
Tiếng Việt ở Việt Nam có số lượng người nói chiếm hơn 80% dân số và
cư trú tập trung ở vùng đồng bằng, trung du, thành phố, thị trấn, thị xã. Tiếng
Việt đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi chỉ được sử dụng ở dạng nói
đến khi được sử dụng ở cả dạng nói lần dạng viết; từ khi được sử dụng với địa
vị ngôn ngữ thấp trong quan hệ với ngôn ngữ cao là tiếng Hán (thời kỳ phong
kiến) và tiếng Pháp (thời kỳ Pháp thuộc) đến địa vị như ngày nay. Sự ra đời
của chữ viết (chữ Nôm thế kỷ XIII, chữ Quốc ngữ thế kỷ XVII) và sự phát
triển của tiếng Việt từ nửa cuối thế kỷ XX cho thấy "đó là một ngôn ngữ có đủ
sức đảm nhiệm tất cả các chức năng của ngôn ngữ thành văn cả trong dạng nói
lẫn dạng viết" [10].
Hiện nay, trong phạm vi toàn quốc, tiếng Việt có vai trò của ngôn ngữ
quốc gia. Với vai trò ấy, tiếng Việt đảm nhiệm những chức năng chủ yếu sau
đây:
Tiếng Việt được dùng làm phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc;
đảm nhiệm chức năng làm phương tiện truyền thông trong hoạt động của bộ
máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, ở cả phạm vi đối nội cũng như
đối ngoại. Trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, khoa học và công
nghệ, tiếng Việt có tư cách là một phương tiện thể hiện và chuyển tải. Do chức
năng này mà tiếng Việt được coi là công cụ của văn hoá và khoa học, được
dùng làm chuyển ngữ trong nhà trường từ bậc tiểu học đến đại học và sau đại
học. Từ địa vị bị coi thường trở thành địa vị chính thống, chủ thể, mức độ phổ
biến, phổ thông của tiếng Việt ngày càng cao, tính trong sáng chuẩn mực cũng
được chú ý giữ gìn xây dựng. Tiếng Việt phát triển cả về cấu trúc lẫn chức
năng, phạm vi hoạt động, chuẩn mực.

78,20 89,50
- Ở chơ
61,50 56,46
55,34
36,47
78,10
-Ở nhà
3,98 16,13 8,08
24,62
27,14
* Nói tiếng dân tộc
- Trong lớp
- Ở chợ
- Ở nhà
66,37
46,90
99,34
54,20
53,08
98,87
87,80
72,41
99,14
70.79
93.80
95,15
30,94
32,35
80,62
Các số liệu trên cho ta thấy, mặc dù có tỉ lệ sử dụng tiếng Việt khác

1.3. Đê’ tiếng Việt có thể đảm nhiệm được vai trò là ngôn ngữ quốc gia,
cùng với chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, các biện pháp bảo vệ
14
và phát triển tiếng Việt được triển khai tập trung vào các vấn để sử dụng, giáo
dục và truyền bá tiếng Việt.
Về sử dụng tiếng Việt, coi trọng và có chiến lược làm cho tiếng Việt
được sử dụng đúng, chuẩn xác, ví dụ như việc bảo vệ và phát triển tiếng Việt
với phong trào "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt"; những văn bản ở các cấp
quy định về xử lí thuật ngữ, chính tả tiếng Việt; nhiều công trình nghiên cứu
về các bình diện của tiếng Việt như ngữ âm, ngữ pháp, từ vụng, chữ viết và
cách sử dụng đã được công bố. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tiếng Việt
đã trở thành một trong những công cụ giao tiếp quan trọng với chức nãng xã
hội và phạm vi sử dụng ngày một được mở rộng.
Về giáo dục tiếng Việt, ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời, Chính phủ đã ra sắc lệnh số 19 quy định về nghĩa vụ học chữ Quốc ngữ
của toàn dân "Trong khi đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ
quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người" [Theo 31;
313]. Trong hệ thống giáo dục, tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức theo quy
định của luật pháp (Luật giáo dục) và thực tế sử dụng cũng như vậy. Tiếng
Việt được sử dụng làm ngôn ngữ dạy - học ở tất cả các cấp học đồng thời là
môn học, như "Tiếng Việt", "Ngữ văn" trong trường phổ thông; "Tiếng Việt
thực hành" ở các trường đại học và cao đẳng.
Nhu cầu học tiếng Việt của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng tăng
cao. Theo khảo sát của tác giả Trần Trí Dõi với các dân tộc Hoa, Thái, Tày,
Dao, Mường, Hmông, Khơmú và một số dân tộc khác, thì 99,10% số người
được hỏi xác nhận họ có nhu cầu tiếp nhận giáo dục tiếng Việt và qua đó có
thế thấy "đồng bào dân tộc thiểu số ở nơi phỏng vấn có nhu cầu thụ hưởng
giáo dục tiếng Việt rất cao"[16; 91].
Tuy nhiên, từ nhu cầu đến thụ hưởng là cả một vấn đề. Mặc dù vậy, tỉ lệ
đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng tiếng Việt cũng tăng dần theo thời

tiếng Việt để nó có thể phát huy được chức năng của mình.
2. Vài đặc điểm chính về tình trạng song ngữ ở Việt Nam
2.1. Song ngữ là hiện tượng phổ biến của các quốc gia đa dân tộc, đa
ngôn ngữ. Có thể nói trên lãnh thổ Việt Nam, các dân tộc thiểu số đều là
những cộng đồng song ngữ. ở đây, ngoài tiếng mẹ đẻ của mình được sử dụng
trong những môi trường nhất định, các dân tộc thiểu số còn dùng tiếng Việt
với tư cách là ngôn ngữ quốc gia hoặc một ngôn ngữ của dân tộc khác trong
những môi trường khác.
Một trong những đặc điểm của tình hình phân bố dân cư ở các vùng
miền núi nước ta, như nhiều nhà dân tộc học đã nhận xét, là sự cư trú xen kẽ
của nhiều thành phần dân tộc trên cùng một địa bàn có khi là một địa bàn rất
hẹp như một xã, thậm chí một bản nhỏ. Do đó sự tiếp xúc ngôn ngữ cũng rất
phức tạp mà biểu hiện của nó là những trạng thái song ngữ khác nhau.
2.1.1. Trong quá trình hình thành trạng thái song ngữ ở các vùng dân
tộc, tiếng Việt có một vai trò quan trọng - thoả mãn được nhu cầu giao tiếp
chung trong môi trường xã hội. Vì vậy, trước tiên cần xem xét trạng thái song
ngữ tiếng Việt - Tiếng dân tộc (tiếng dân tộc - tiếng Việt). Đây là một trạng
thái song ngữ phổ biến và có ý nghĩa lớn về mặt xã hội. Nó cho phép phối hợp
lợi ích của mỗi dàn tộc với lợi ích chung của đất nước. Song ngữ Việt - dân tộc
là song ngữ bình đẳng, được Đảng và Chính phủ, qua các vãn bản Nhà nước,
công nhận và khuyến khích phát triển.
Tuy nhiên, các ngôn ngữ ở Việt Nam có trình độ phát triển không đồng
đều: một số ngôn ngữ đã phát triển đạt tới trình độ của những ngôn ngữ vãn
học, đó là những ngôn ngữ như tiếng Việt, Khơme, Chăm Có khoảng gần 30
ngôn ngữ đã có chữ viết. Số lớn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (kể cả một số
ngôn ngữ đã có chữ viết) phát triển chậm, thậm chí ở tình trạng ngưng trệ như


61-80 tuổi. Với người Hmông thì tình hình khác hẳn: Theo tác giả Nguyễ Hữu
Hoành, việc sử dụng tiếng Việt trong các môi trường giao tiếp rất hạn chế:
5,5% đến 10,4% ở nơi công cộng; 0,5% đến 1,6% ờ các cuộc họp của bản, xã;
18
14,4% khi giao tiêp với dân tộc khác; ngay cả khi giao tiếp với người Kinh tỉ lệ
này chỉ là 54,6% [5; 204, 330],
Trình độ song ngữ còn phụ thuộc vào địa lí cư trú của mỗi vùng, vào
mức độ phổ biến của tiếng Việt. Vùng cư trú thành thị và gần thành thị thì mức
độ song ngữ Việt - dân tộc cao hơn, còn phần cư trú ở vùng sâu, vùng xa thì
mức độ song ngữ thấp hơn. Ví dụ: tại hai thị trấn Lộc Bình và Na Dương (tỉnh
Lạng Sơn) có tới 87% người Tày và Nùng nói thạo tiếng Việt, trong đó có 19%
nói tiếng Việt còn thạo hơn cả tiếng mẹ đẻ của họ; tỉ lệ này ở các xã chỉ đạt
5% [Theo 14; 268],
Những đặc điểm của trạng thái song ngữ này cần được xem xét khi xác
định chiến lược dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc. Tiếng Việt và tiếng các
dân tộc, mặc dù có khác nhau về quan hệ cội nguồn nhưng đều là những ngôn
ngữ thuộc loại hình đơn lập. Tiếng Việt và tiếng dân tộc có quá trình tiếp xúc
lâu dài; tiếng Việt được dạy ở mọi cấp học, được sử dụng trong giao tiếp
không chỉ ở nhà trường, nơi hội họp, chợ búa mà nhiều khi được sử dụng trong
cuộc sống gia đình, trong tùng bản làng của đồng bào dân tộc. Vậy nên dạy
tiếng Việt cho học sinh dân tộc dù là dạy ngôn ngữ thứ hai nhưng không phải
như một ngoại ngữ bởi tiếng Việt đối với trẻ em dân tộc không phải là một
ngôn ngữ xa lạ. Mặc dù trẻ có thể chưa sử dụng được tiếng Việt nhiều nhưng
hàng ngày các em được nghe cha mẹ, anh chị, người lớn nói khá thường
xuyên. Các em được học tiếng Việt ngay từ lớp 1; môi trường tiếng Việt là có
sẵn trong nhà trường, ngoài xã hội và phần nào đó cả trong gia đình. Trong
điểu kiện đó, tiếng Việt sẽ dễ chiếm lĩnh hơn bất cứ một ngoại ngữ nào.
2.1.2. Bên cạnh trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc cần đề cập
đến một trạng thái song ngữ nữa là trạng thái song ngữ (đa ngữ) tiếng dân tộc -
tiếng dân tộc - (tiếng Việt). Đây là trạng thái song ngữ mà ở đó các thành viên

20
"Việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp khẩu ngữ của đồng bào dân tộc
có sự khác nhau tuỳ thuộc vào từng phạm vi sử dụng. Trong giao tiếp gia đình,
đồng bào hầu như chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ. Trong giao tiếp ngoài xã hội, tuy
có sự đan xen trộn mã và chuyển mã giữa tiếng Việt và tiếng dân tộc, nhưng
tiếng Việt vẫn giữ vai trò của ngôn ngữ cao (H) và tiếng dân tộc giữ vai trò
ngôn ngữ thấp (L)" [32].
Do đặc điểm của các dân tộc thiểu số ở nước ta là cư trú đan xen nên
tình trạng đa dân tộc trong các lớp ở tiểu học là phổ biến. V í dụ: Trường tiểu
học Thanh Lâm, Ba Chẽ, Quảng Ninh có tới 5 thành phần dân tộc - Dao, Cao
Lan, Sán Chỉ, Hoa [46], Thực tế này dẫn đến việc sử dụng tiếng Việt của học
sinh có những điểm đáng chú ý: tiếng Việt được dùng giao tiếp trong lớp học
(số liệu trong bảng ở trên đã nói lên điều đó), còn ở ngoài lớp thì tương tự như
trên, có sự chuyển mã và trộn mã linh hoạt. Trong việc sử dụng tiếng Việt của
học sinh còn xảy ra sự giao thoa dẫn đến hiện tượng nói tiếng Việt chệch
chuẩn - nói tiếng Việt pha giọng mẹ đẻ và hiện tượng nói tiếng dân tộc có sử
dụng từ Việt nhưng phát âm theo kiểu dân tộc.
2.3. Nhận thức rõ vai trò của tình trạng song ngữ đối với sự phát triển
của các dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có một chính sách thích hợp để phát
triển những trạng thái song ngữ, đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần
dân tộc trong khối cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chính sách đó về cơ bản là
nhằm truyền bá, dạy và học hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số:
dạy tiếng Việt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc dạy tiếng dân tộc thiểu số
và ngược lại, dạy tiếng dân tộc thiểu số không tách rời với việc dạy tiếng Việt;
khuyến khích các dân tộc thiểu số học tiếng Việt, phát triển trạng thái song
ngữ Việt - dân tộc văn hoá. Tinh thần này thể hiện một cách cụ thể trong
Quyết định 53/CP ngày 22 - 2 - 1980 của Hội đồng Chính phủ. Quyết định chỉ
rõ, các dân tộc thiểu số ở nước ta cùng với quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của
mình cũng có nghĩa vụ và quyền lợi trong việc học tập và sử dụng tiếng phổ
21

Như vậy, trong quá trình hình thành các trạng thái song ngữ nổi lên vai
trò của tiếng Việt và trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc có ý nghĩa
quan trọng ở vùng dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước đã có một chính sách
giáo dục ngôn ngữ đúng đắn cho vùng dân tộc thiểu số thể hiện cụ thê’ ở chủ
trương giáo dục song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc cho đồng bào dân tộc. Chú
trương này đã được thực thi và có những kết quả nhất định. Nhưng do nhiều lí
do, nãng lực sử dụng tiếng Việt của đồng bào dân tộc chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển xã hội; nhu cầu thụ hưởng tiếng Việt cũng như tiếng mẹ đẻ của họ
còn nhiều hạn chế. Theo tác giả Trần Trí Dõi, vấn đề đặt ra ở đây là hình như
"có sự không tương hợp giữa một chính sách đúng với một thực tế thực thi
chính sách" [15; 112].
3. Chương trình Tiếng Việt tiểu học 2000 và vấn đề song ngữ
3.1. Chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục được xây dựng từ
những năm 70 đã phản ánh các yêu cầu kinh tế xã hội, các thành tựu của ngôn
ngữ học, Việt ngữ học, tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học lúc
đó. Đến nay đã trải qua 30 năm, điều kiện kinh tế xã hội đã có những thay đổi
quan trọng; nhiều thành tựu mới của các ngành khoa học nói trên đã xuất hiện.
Điều này đòi hỏi những thay đổi trong việc xây dựng chương trình Tiếng Việt
tiểu học mới.
Những thay đổi trong kinh tế, xã hội, giáo dục đã dẫn tới những yêu cầu
mới trong dạy tiếng nói chung, dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng. Để tiếng Việt phục
vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, cho sự phát triển giáo dục, việc dạy
tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức nãng của ngôn ngữ (công cụ của tư duy
23
và công cụ của giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kỹ nãng (nghe, nói, đọc,
viết); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp.
Bên cạnh đó, trong ngôn ngữ học, sự ứng dụng các thành tựu của xu
hướng nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ, xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong
hoạt động hành chức, đặc biệt là sự ứng dụng các thành tựu của ngữ dụng học
trong nghiên cứu vể hội thoại, nghiên cứu giao tiếp bằng ngôn ngữ dẫn đến

nhau; khá nhiều nội dung học tập tỏ ra xa rời mục tiêu môn học và ít thiết thực
với người học [73; 25]. Cũng theo tác giả này, ngôn ngữ nói được rèn chủ yếu
qua phân môn kể chuyện và làm vãn nói (miệng) [73; 28], Tuy nhiên, kể
chuyện là rèn kỹ năng nói mang tính nghệ thuật; phân môn làm văn không đưa
ra nội dung luyện tập riêng cho bài văn nói, do đó học sinh phải làm văn nói
theo đề bài văn viết. Các em không được đưa vào các tình huống giao tiếp cụ
thể , do vậy mất đi nhu cầu nói năng.
Tất cả những điều được đề cập trên đây cùng với yêu cầu về việc đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông (Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg ngày
11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ) đòi hỏi có chương trình mới môn Tiếng
Việt ở tiểu học.
3.2. Ngày 9 tháng 11 năm 2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định
ban hành Chương trình tiểu học mới. Môn Tiếng Việt là một môn học bắt buộc
ở tiểu học. Mục tiêu môn Tiếng Việt trong chương trình này nhàm:
(1) Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ nãng sử dụng tiếng Việt
(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động
của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các
thao tác của tư duy.
25
(2) Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và
những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học
của Việt Nam và nước ngoài.
(3) Bổi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa [8; 9].
Với việc xác định mục tiêu như trên, chương trình dạy cả bốn kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết đồng thời từ lớp 1 đến lớp 5. Với kỹ năng nghe, dạy nghe
trong hội thoại và nghe hiểu văn bản. Với kỹ năng nói, chú trọng cả hai hình
thức hội thoại và độc thoaị (nói trong hội thoại và nói thành bài). Với kỹ năng
đọc, viết, dạy đọc, viết tất cả các loại văn bản.

triển kỹ năng nghe, nói như đã nêu ở trên đã giúp cho việc học tiếng Việt của
học sinh dân tộc tự nhiên hơn, gần với quá trình học tiếng mẹ đẻ hơn; phần nào
khắc phục được sự thiếu hụt vốn tiếng Việt ban đầu của các em. Bên cạnh đó,
việc dạy tiếng Việt theo hướng để giao tiếp và bằng giao tiếp cũng giúp học
sinh tiếp thu tiếng Việt dễ dàng hơn và có thể nhanh chóng sử dụng tiếng Việt
như một công cụ để học tập, để giao tiếp trong những tình huống khác nhau.
Với chính sách giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc thiểu số, Nhà nước đã
có chủ trương dạy tiếng Việt và tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) cho học sinh dân
tộc ở tiểu học. Nhưng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2000, mối tương
quan giữa tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ chưa được đề cập rõ ràng trong khi có thể
thấy rõ mối liên hệ (mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau) giữa sự phát triển tiếng
mẹ đẻ và việc học ngôn ngữ thứ hai (tiếng Việt).
Một điểm mới của chương trình Tiếng Việt tiểu học 2000 là quan điểm
tích hợp trong đó có nhấn mạnh tích hợp dạy học tiếng Việt khi học các môn
học khác. Đây là một hướng dạy tiếng Việt rất phù hợp đối với học sinh dân
tộc, giúp các em có năng lực sử dụng tiếng Việt để học các môn học khác. Tuy
27

Trích đoạn Về kiểm tra, đánh giá Các thiết kế mẫu: dạng bài học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status