Thể loại thơ trong chương trình tiếng việt tiểu học và cách đọc hiểu_Khóa luận tốt nghiệp khoa GDTH. - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục tiểu
học trờng Đại học S Phạm Hà nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi
hoàn thành đề tài.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Đỗ
Huy Quang, ngời đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong việc triển
khai, nghiên cứu để đạt kết quả tốt.
Tôi mong muốn tiếp tục nhận đợc sự đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn để đề tài thêm chất lợng và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hoà, ngày 12 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Trơng Thị Hải
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
1
Khoá luận tốt nghiệp
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan với hội đồng chấm khoá luận tốt nghiệp, tài
liệu này do em tự nghiên cứu, tự tìm hiểu dới sự giúp đỡ chính của
thầy giáo Đỗ Huy Quang. Kết quả khoá luận không trùng với bất kì
đề tài nào trớc đây.Nếu những lời trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
2
Khoá luận tốt nghiệp
Mục lục
Trang
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu

3
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Hoàn cảnh diễn ra lời nói
2.3.Nội dung cua lời nói
2.3.1. Tình cảm trong gia đình
2.3.2. Tình cảm đối với trờng lớp, bạn bè
2.3.3. Tìnhcảm đối với Bác Hồ, các anh bộ đội
2.3.3.1. Tình cảm đối với Bác Hồ
2.3.3.2. Tình cảm đối với các anh bộ đội
2.3.4. Tình cảm đối với quê hơng, đất nớc
2.3.5. Thế giới tự nhiên với vô vàn điều hấp dẫn, mới lạ.
2.4. Nghệ thuật của bài thơ
2.4.1. Nghệ thuật ngôn từ
2.4.1.1. So sánh
2.4.1.2. Nhân hoá
2.4.1.3. Lặp từ vựng, lặp cấu trúc ngữ pháp
2.4.1.4. ẩn dụ
2.4.1.5. Hoán dụ
2.4.2. Thế giới nghệ thuật
2.5. Đích của lời nói.
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
4
Khoá luận tốt nghiệp
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Nhận thức đợc tầm quan trọng trong việc sử dụng văn học vào giáo dục
con ngời, từ xa xa ông cha ta đã dùng văn học dân gian một cách tự giác nh
một phơng tiện tốt nhất để giáo dục thiếu nhi. Khi chữ viết cha ra đời, trẻ em
đã đợc tiếp xúc với văn học thông qua những tiếng hát ru của bà và mẹ, qua
những bài đồng dao, những câu chuyện kể đợc truyền miệng từ đời này qua

Khoá luận tốt nghiệp
Vấn đề tiếp nhận thể loại thơ ở TH còn gặp nhiều khó khăn, nhiều điều cha đợc
tờng minh. Vì vậy khó khăn cho ngời dạy và học sinh khi đọc bài thơ là tất yếu.
Mặt khác trong thực tiễn giảng dạy: Trong các giờ tập đọc khi các văn bản
đọc là thơ, ngời dạy chỉ biết làm theo hớng dẫn trong sách giáo viên để thao tác
theo. Từ đọc văn bản sau đó trả lời các câu hỏi, Nhng trong ý thức của giáo viên
không chỉ muốn hớng dẫn học sinh của mình dập khuôn theo sách giáo viên mà
còn muốn tìm hiểu, muốn biết con đờng tiếp cận thơ ca phải làm đợc những việc
gì để ngời giáo viên có thể làm chủ thể hoạt động dạy học sinh làm chủ thể hoạt
động học.
Chính vì vậy nếu giáo viên có biện pháp tích cực giúp học sinh tiếp cận
với thể loại thơ thì việc các em hiểu và cảm nhận đợc giá trị nghệ thuật của
tác phẩm sẽ dễ dàng hơn. Nói cách khác nếu cho học sinh TH cảm thụ bài thơ
bằng cách tiếp cận thể loại thơ theo con đờng chung là cách làm khoa
học,chắc chắn sẽ đạt đợc kết quả nh mong muốn.
Từ các nhận xét trên, tác giả của luận văn nhận thấy hớng khai thác.
Th loi th trong chng trỡnh ting vit tiu hc v cỏch c hiu là
một việc làm quan trọng , có tính thời sự, cần thiết và thiết thực với bậc TH.
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
6
Khoá luận tốt nghiệp
2. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu.
Thơ viết cho thiếu nhi trong và ngoài nhà trờng luôn đợc Đảng, Bác Hồ và
nhà nớc ta quan tâm, chăm lo thích đáng. Từ những thập kỷ 50 của thế kỷ trớc,
trong lúc đất nớc ta còn gặp vô vàn khó khăn, NXB Kim Đồng, một NXB dành
riêng cho thiếu nhi đã ra đời. Tại đây, nhiều tập thơ và các đầu sách viết cho các
em đợc ấn hành giúp cho thiếu nhi có điều kiện học tập, vui chơi và giải trí.
Ngay từ khi có cuốn SGK đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục
của nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà. Các nhà soạn giả đã chú ý đến việc
biên soạn thơ thiếu nhi cho chơng trình. Từ cuốn sách lớp 1 mang tên Sách

Chơng trình sách giáo khoa mới hiện nay đợc Bộ Giáo dục và Đào tạo
chính thức triển khai vào các trờng TH trên toàn quốc từ năm 2002-2003 và kết
thúc vào năm học 2006-2007 đòi hỏi phải thực sự đổi mới cách dạy văn, học
văn nói chung và cách tiếp cận các tác phẩm thơ nói riêng trong trờng tiểu
học.Từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới về nội dung, phơng pháp,
cách thứcđể ngời dạy và ngời học tiếp cận đợc với các tác phẩm thơ trong nhà
trờng.
Đứng trớc yêu cầu đó em xin đợc đi sâu nghiên cứu về vấn đề ít đợc đề
cập đến trong sách vở và tài liệu Thể loại thơ trong chơng trình tiếng việt tiểu
học và cách đọc hiểu
3. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu đặc điểm các bài thơ trong chơng trình TH và cách đọc hiểu các bài
thơ đó. Từ đó góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả cho phân môn tập đọc
theo hớng ngời dạy chủ động trớc thể loại thơ.
Góp phần tờng minh các văn bản thể loại thơ để định hớng cho hoạt động
đọc và hiểu văn bản thơ, làm hành trang cho học sinh tiếp tục học lên bậc học
trên( Trung học cơ sở, phổ thông trung học) .
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
8
Khoá luận tốt nghiệp
4. Đối tợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tợng nghiên cứu: Các bài thơ trong chơng trình TH
- Phạm vi nghiên cứu: Các bài thơ trong nớc đợc đa vào trong chơng trình SGK
hiện nay ở bậc học TH. Không đề cập đến các bản dịch thơ nớc ngoài.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm ra đợc đặc điểm của thể loại thơ và con đờng chung để tiếp cận với
văn bản thơ.
- Tiến hành thống kê các bài thơ từ lớp 1 đến lớp 5, phân loại các thể,
dạng của từng đối tợng thơ.
- Xác lập các nhân tố giao tiếp trong văn bản thơ, tạo cơ sở cho việc đọc

bài mới. Đến giữa học kỳ II bắt đầu xuất hiện những bài thơ ngắn. Trong tổng
số 20 bài thơ đợc đa vào SGK tiếng việt lớp 1 có 8 bài thơ của ngời lớn viết cho
thiếu nhi chiếm tỷ lệ 45%; có 6 bài thơ của ngời lớn viết về các em thiếu nhi
chiếm tỷ lệ 30%; 5 bài thơ của thiếu nhi viết cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 25%.
Thể thơ 3 chữ, 3 bài:
Ai dậy sớm, Mời vào của Võ Quảng. Xỉa cá mè của Phạm Hổ.
Thể thơ 4 chữ, 2 bài:
Kể cho bé nghe - Trần Đăng Khoa Ngôi nhà - Tô Hà
Thể thơ 5 chữ, 9 bài:
Mẹ và cô - Trần Quốc Toàn Quyển vở của em - Quang Huy
Quà của bố - Phạm Đình Ân Sáng nay - Thi Ngọc
Chuyện ở lớp - Tô Hà Ngỡng cửa - Vũ Quần Phơng
Đi học - Minh Chính Làm anh -Phạm Thị Thanh Nhàn
Gửi lời chào lớp một - Hữu Tởng
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt có 1 bài:
Tặng cháu - Hồ Chí Minh
Lớp 2: trong tổng số 23 bài thơ trong nội dung chơng trình có 11 bài thơ
ngời lớn viết cho các em thiếu nhi chiếm tỷ lệ 48%; có 4 bài thơ ngời lớn viết
cho về các em thiếu nhi chiếm tỷ lệ 17,3%; có 1 ài thơ ngời lớn viết về ngời
lớn nhng để dành cho thiếu nhi chiếm tỷ lệ 1,12%, có 2 bài thơ thiếu nhi viết
về thiếu nhi chiếm tỷ lệ 2,27%.
Thể thơ 4 chữ, 7 bài
Cái trống trờng em - Thanh Hào Thơng ông - Tú Mỡ
Bé nhìn biển - Trần Mạnh Hảo Con Vện - Nguyễn Hoàng Sơn
Lợm - Tố Hữu Đàn gà mới nở - Phạm Hổ
Tiếng Võng kêu - Trần Đăng Khoa
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
10
Khoá luận tốt nghiệp
Thể thơ 5 chữ, có 8 bài

Thể thơ 4 chữ: 2 bài:
Đôi que đan - Phạm Hổ Con chim chiền chiện - Huy Cận
Thể thơ 5 chữ, 6 bài:
Nàng tiên ốc - Phạm Thị Thanh Nhàn
Tuổi ngựa - Xuân Quỳnh
Bè xuôi sông la - Vũ Duy Thông
Trăng ơi từ đâu đến - Trần Đăng Khoa
Lắng nghe lời chim nói - Nguyễn Trọng Tạo
Chuyện cổ tích về loài ngời - Xuân Quỳnh
Thể thơ 6 chữ, 1 bài:
Nếu chúng mình có phép lạ - Định Hải
Thể thơ 7 chữ, 2 bài:
Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận Ngắm Trăng - Hồ Chí Minh
Thể thơ 8 chữ: 2 bài
Chợ tết - Đoàn Văn Cừ
Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
Thể thơ lục bát, 6 bài:
Mẹ ốm - Trần Đăng Khoa
Truyện cổ nớc mình - Lâm Thị Mỹ Dạ
Cháu nghe câu chuyện của bà - Nguyễn Văn Thắng
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
12
Khoá luận tốt nghiệp
Cô Tấm của mẹ - Lê Hồng Thiện
Dòng sông mặc áo - Nguyễn Trọng Tạo
Vè dân gian ( nói ngợc)
Thể thơ tự do: 4 bài
Tre Việt Nam - Nguyễn Duy
Thợ rèn - Khánh Nguyên
Ma - Trần Đăng Khoa

Qua thống kê trên ta nhận thấy các bài thơ của ngời lớn viết cho thiếu nhi
chiếm tỷ lệ tơng đối cao, gồm 58 bài trong tổng số 129 bài thơ đợc viết trong
nội dung chơng trình tiểu học, chiếm tỷ lệ 45%, các bài thơ của ngời lớn viết
về thiếu nhi tỷ lệ còn khiêm tốn, gồm 22 bài trong tổng số 129 bài thơ đợc đa
vào nội dung chơng trình tiểu học, chiếm 17%. Thơ của ngời lớn viết về ngời
lớn nhng để cho thiếu nhi có 5 bài và một số ít bài của thiếu nhi viết cho thiếu
nhi. Các bài thơ đợc viết theo các thể loại: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8
chữ, thất ngôn bát cú, lục bát, tự do nhng số lợng các bài thơ 4 chữ, 5 năm chữ
chiếm tỷ lệ cao nhất.
Thể thơ 4 chữ có 29 bài/129 bài chiếm 22,48%
Thể thơ 5 chữ có 43 bài/129 bài chiếm 33,33%
Thơ đa vào chơng trình sách giáo khoa tiểu học hiện nay đã xác định đợc
nội dung và mục đích giáo dục. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, lời thơ giầu
vần điệu, nhạc điệu giúp các em dễ thuộc, dễ nhớnội dung các bài thơ cơ
bản là phù hợp với tâm lí lứa tuổi các em: Tâm hồn các em ngây thơ, trong
sáng. Các em dễ xúc cảm, hay bắt chớc và muốn làm theo gơng sáng, các em
tin tởng tuyệt đối vào ngời trên và nhất là thầy cô giáo.
Thơ viết về các em, viết cho các em, có trong nội dung chơng trình
không những chỉ có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu trớc mắt là giáo dục đi đôi với
giải trí mà còn có tính thời đại lâu dài: Thiếu nhi đã đợc cả xã hội chăm
sóc,nâng niu, dậy dỗ nh thế nào Thơ dành cho thiếu nhi đã phản ánh đợc
điều đó bằng bút pháp riêng, nghệ thuật riêng. Vì vậy thơ trong chơng trình
tiểu học hiện nay đã đạt đợc tới những giá trị của văn học.
1.2. Đặc điểm của thể loại thơ và đặc điểm của những bài thơ trong chơng
trình tiểu học
1.2.1. Đặc điểm của thể loại thơ
1.2.2. Đặc điểm của thơ trong chơng trình tiểu học
1.2.2.1. Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học: là chất liệu, là phơng tiện mang tính
chất đặc trng của văn học, không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học.

Từng ngọn dừa gió đa phe phẩy
Bóng lồng trên sóng nớc chơi vơi
Nghệ thuật của ngời viết là làm cho ngời đọc không ngắm cảnh mà thấy
cảnh. Tác giả Hoài Vũ của bài thơ Vàm Cỏ Đông đã đạt tới nghệ thuật đó.
Đọc những dòng thơ của ông ta thấy cảnh sắc nh hiện ra ngay trớc mắt mình.
Còn có điều đặc biệt hơn bằng cách chọn lọc từ ngữ chính xác tác giả đã làm
cho con sông đang miêu tả nh rộng hơn. Rõ ràng dòng sông dù lớn đến đâu
cũng không thể chứa hết cả bầu trời rộng lớn bao la, nhng trong thơ tác giả lại
có thể làm cho con sông rộng lớn đến nh vậy đấy. Nhng bằng từ mảnh
trong câu thơ Bốn mùa soi từng mảnh mây trời , nh thế bầu trời rộng lớn đã
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
15
Khoá luận tốt nghiệp
đợc chia thành nhiều mảnh in bóng xuống dòng sông. Dòng sông bỗng rộng
lớn nh ôm lấy cả bầu trời.
Trong câu thơ:
Từng ngọn dừa gió đa phe phẩy
Bóng lồng trên sóng nớc chơi vơi
Vàm Cỏ Đông còn hiện ra đẹp hơn, chan hoà hơn, tác giả không dùng từ
in nh thờng lệ các nhà thơ khác hay dùng để miêu tả bóng cây trên mặt n-
ớc.Nếu nh vậy lối miêu tả đó giản đơn quá, mà ở đây tác giả lại chọn từ
lồng để dùng thay cho từ in . Chính việc sử dụng từ ngữ ấy trong hoàn
cảnh này đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên chan hoà, sông nớc, mây trời,
cảnh vật hoà quện vào nhau. Những sự vật đơn lẻ đã mà hoà làm một, tạo nên
một bức tranh tuyệt đẹp.
Trong bài Gió của Ngô Văn Phú:
Gió ở rất xa, rất rất xa
Gió thích chơi thân với mọi nhà
Gió cù khe khẽ anh mèo mớp
Rủ đàn ong mật đến thăm hoa

phẩm thơ có khác, thế giới chủ quan của con ngời:cảm xúc,tâm trạng,ý nghĩ
có khi đợc trình bày trực tiếp cũng có khi đợc trình bày gián tiếp thông qua
các hình ảnh.Chính vậy mà ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ là ngôn ngữ giàh
hình ảnh,giàu cảm xúc.Chính những hình ảnh mà tác giả đa vào trong thơ làm
cho những vần thơ giàu cam xúc,góp phần chuyển tải nội dung của bài thơ.
Trong bài Mặt trời xanh của tôi SGK Tiếng Việt 3
Đã có ai dậy sớm
Nhìn lên rừng cọ tơi
Lá xoè từng tia nắng
Giống hệt nh mặt trời
Rừng cọ ơi ! rừng cọ !
Lá đẹp, lá ngời ngời
Tôi yêu thờng vẫy gọi
Mặt trời xanh của tôi
- Nguyễn Viết Bình-
Hình ảnh Mặt trời xanh để miêu tả lá cọ trong bài thơ trên đã đem đến
cho rừng cọ một sức sống tràn trề. Bằng sự liên tởng về hình dáng bề ngoài:
những chiếc lá cọ xoè rộng nh những tia nắng mặt trời tác giả bài thơ đã đa ra
một hình ảnh rất táo bạo Mặt trời xanh. Bằng hình ảnh đó những chiếc lá cọ
đã trở nên đẹp biết bao nhiêu. Đặc biệt ở đây không phải Mặt trời hồng nh th-
ờng lệ mà là Mặt trời xanh, dùng hình ảnh đó vừa thể hiện đợc màu sắc bao
phủ lên rừng cọ là màu xanh tơi tắn, đông thời nó vừa đúng với tâm lý của trẻ
thơ, rất ngộ nghĩnh rất tự nhiên.
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
17
Khoá luận tốt nghiệp
Cũng là hình ảnh mặt trời trong ngôn ngữ thơ, nhng mặt trời trong
khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ không phải là những chiếc lá xanh rờn
nữa mà là những em bé bé bỏng trên lng mẹ. Trong khúc hát ru đó Nguyễn
Khoa Điềm có viết:

Trơng Thị Hải K30A- GDTH
18
Khoá luận tốt nghiệp
Đọc bài thơ lên chúng ta không có cảm giác đợc nghe mà thấy nh đợc
ngắm cảnh biển vậy. Chỉ bằng những dòng thơ rất ngắn ngủi, tác giả đã đa ng-
ời đọc đến với một không khí lao động trên biển sôi động, hứng khởi, một
cảnh biển đẹp đến mê hồn. Trong bài thơ tác giả đã đa vào rất nhiều hình ảnh
đẹp Mặt trời xuống biển nh hòn lửa, Sóng đã cài then đêm sập của,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời, Mặt trời đội biển nhô màu mới. Từ
những hiểu biết về cuộc sống lao động của những ngời dân vùng biển, cùng
với lối quan sát tinh tế nhà thơ đã dùng trí tởng tợng vẽ nên một cách rất có
không khí và đậm đà màu sắc của biển. Một bức tranh có sự giao hoà giữa
thiên nhiên và con ngời. Những cảnh vật chúng ta vẫn thờng gặp hàng ngày
nh bớc lên những trang thơ của Huy Cận. Nó bỗng trở lên đẹp lạ thờng, một vẻ
đẹp mang đầy nét chấm phá Mặt trời nh hòn lửa, đoàn thuyền lớt trên
sóng nh chạy đua cùng với mặt trời Những hình ảnh đó làm cho biển trở
lên đẹp huy hoàng, gợi ra không khí lao động sôi động trên biển, vẽ lên bức
tranh mang hơi thở cuộc sống mới.
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học nói chung và trong các tác phẩm thơ
nói riêng nó nh con đờng đa ta vào thế giới nội tâm của những nhà văn nh vậy.
Thứ ngôn ngữ giầu hình ảnh ấy mà các nhà thơ đã sử dụng cho những trang
thơ của mình khiến ngời đọc thấy đợc cái cụ thể trong cái trừu tợng đồng thời
cảm nhận đợc cái trìu tợng trong những hình ảnh cụ thể.
1.2.2.1.3. Ngôn ngữ trong thơ giầu nhạc điệu
Những t tởng, tình cảm đợc đa vào tâm hồn bạn đọc một cách hiệu quả
nhất, sâu lắng nhất, bền vững nhất phải thông qua hình tợng văn học là ngôn
ngữ văn học. Đợn vị cơ bản nhất của nó là từ và câu. Từ lại gồm hai thành
phần không thể tách rời là âm thanh và ngữ nghĩa của từ. Cho nên đã nói về
nghệ thuật chữ nghĩa không thể không chú ý đến cách sử dụng âm thanh, nói
đến thơ ca không thể không bàn về nhạc điệu. Nhạc điệu là đặc trng cơ bản

Nhng bất chợt ở đoạn cuối. Giọng thơ trầm hẳn xuống. Những câu thơ có
cách ngắt nhịp đặc biệt: ngắt nhịp ở cuối câu gợi không khí buồn: giọng thơ
nghẹn ngào, xúc động trớc sự thật đau xót:
Bác không còn ?\
Bác ơi!\\
Qua một số ví dụ ta thấy những trạng thái, cung bậc tình cảm có sự tơng
ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ. Cách ngắt nhịp đó tạo nên nhạc điệu cho
những vần thơ.
b)Thanh điệu
Có thể nói thanh điệu tạo ra âm sắc trầm, bổng, tính nhạc cho câu
thơ.Trong đó thanh bằng, trắc có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra giai
điệu. Đến với bài Nghe thầy đọc thơ - Trần Đăng Khoa:
Em nghe thầy đọc bao ngày
B B B T B B
Tiếng thơ đó nắng xanh cây xanh nhà
T B T T B B B B
Mái chèo nghiêng mặt sông xa
T B B T B B
Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xa
B B B T T B B B
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
21
Khoá luận tốt nghiệp
Sự tập trung thanh bằng trong bài thơ có ý nghĩa làm nên sức mạnh của
cảm giác đó là đi theo dòng hồi tởng về tiếng thơ của ngời thầy năm xa.
Quá khứ và thực tại đan xen vào nhau tạo nên một cảm giác man mác. Âm t-
ởng của bài thơ nh du dơng, êm dịu.
Nh vậy đóng góp vào việc tạo nên nhạc điệu cho ngôn ngữ thơ phải kể
đến các thanh điệu.
c) Cách gieo vần

Biết là bếp lửa bà nhen chiều chiều
Nghe thơm ngậy bát canh riêu
Với nồi tép ủ cạnh niêu tép đầy
Thông qua một số bài thơ trên đã khẳng định vai trò của việc gieo vần
trong việc góp phần tạo ra nhạc điệu trong thơ. Cách gieo vần đó giúp bộc lộ
cảm xúc của bài thơ một cách hiệu quả.
1.2.2.2. Hình tợng nghệ thuật.
Mỗi một tác phẩm văn học là một chỉnh thể toàn vẹn. Một trong những
yếu tố quan trọng hình thành nên một tác phẩm văn học đó là hình tợng nghệ
thuật. Nếu không có hình tợng nghệ thuật sẽ không có sự tồn tại của bất cứ
một tác phẩm văn học nào. Sức sống của một tác phẩm văn học trong lòng ng-
ời đọc chính là sức sống của hình tợng nghệ thuật mà họ xây dựng. Hình tợng
nghệ thuật trong một tác phẩm văn học chính là linh hồn của tác phẩm đó và
nó thể hiện t tởng của ngời làm nghệ thuật. Tuy nhiên hình tợng nghệ thuật
xuất hiện trong từng thể loại văn học khác nhau sẽ có đặc trng khác nhau.
Kiểu nh trong các tác phẩm văn xuôi, kịch, các tác giả thờng xây dựng hình t-
ợng nghệ thuật là những con ngời cụ thể. Bằng cách thổi vào hình tợng ấy
những tính cách, những số phận trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của
xã hội. Tác giả đã gián tiếp nói lên nội dung, t tởng của mình, làm nổi bật hiện
thực xã hội. Nhng trong tác phẩm thơ, hình tợng nghệ thuật có khi không cụ
thể nh hình tợng nghệ thuật trong các thể loại văn học khác. Đặc biệt hơn
trong các tác phẩm thơ viết cho thiếu nhi, hình tợng nghệ thuật rất phong phú
và đa dạng, đồng thời nó cũng có những nét riêng biệt. Hình tợng nghệ thuật
trong thơ viết cho thiếu nhi có khi là con ngời nhng cũng có khi là thiên nhiên,
là cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ một con vật, sự vật nào đó.
Điều tất yếu là tính phổ biến của các hình tợng nghệ thuật trong thơ là
không giống nhau đối với các nhà thơ khác nhau. Có nhà thơ tập trung xây
dựng những hình tợng về thiên nhiên, nhng cũng có những nhà thơ thờng
xuyên cảm thấy cảm hứng trong sáng tác thơ về các con vật, cũng không ít
nhà thơ khắc họa thành công chân dung của những ngời nông dân, những ngời

Vụt xuống nớc
Biến đâu mất
Vờn thơ Võ Quảng còn có những bức tranh lộng lẫy của cảnh vật thiên
nhiên. Cỏ cây bớc vào trong thơ Võ Quảng có một sức sống mãnh liệt. Tả
mầm non vào mùa xuân tác giả viết:
Mầm non mắt lim dim
Cố nhìn qua kẽ lá
Thấy ma bay hối hả
Thấy lất phất ma phùn
Đây là một thoáng thay đổi của đất trời, khi mùa xuân chợt đến qua sự thức
tỉnh kì diệu của chồi biếc. Rồi cả đất trời xôn xao, chim muông ríu rít, khe
Trơng Thị Hải K30A- GDTH
24
Khoá luận tốt nghiệp
suối rì rào, mầm non cũng bật dậy trong không khí tràn đầy sức sống, hoà
thêm một sắc mầu với mùa xuân:
Vội bật chiếc vỏ rơi
Nó đứng dậy giữa trời
Khoác áo mầu xanh biếc
( Có một chỗ chơi)
Cây cỏ trong thơ Võ Quảng thờng mang một sức sống mãnh liệt. Khiêm
nhờng nh một mầm non cũng biết Bật chiếc vỏ rơi để đứng dậy giữa
trời Có thể nói, Võ Quảng yêu hồn nhiên và thắm thiết thế giới cỏ cây và
vạn vật xung quanh. Ông đã thổi vào đó sự sống, chính vì thế dù chỉ là những
cây cỏ, những con vật ta vẫn thấy thờng ngày bớc vào thơ ông trở thành hình t-
ợng nghệ thuật đợc tô đậm khiến thơ của ông thờng có những sững sờ, đột
ngột chất chứa một cái gì đột biến trong bừng tỉnh, trong nảy nở và sinh sôi,
vô cùng tơi mới.
1.2.2.2.2. Hình t ợng nghệ thuật trong thơ Phạm Hổ
Thơ viết cho thiếu nhi của nhà thơ Phạm Hổ thờng ngộ ngĩnh, dễ hiểu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status