SKKN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - Pdf 29

Teõn ủe taứi:
PHNG PHP DY HC TH LOI TH TRONG CHNG
TRèNH VN HC NC NGOI TRNG TRUNG HC C
S
I/ Lí DO CHN TI :
Trong xu th i mi phng phỏp dy hc nhng nm gn õy, vic
dy Vn hc nc ngoi (VHNN) trng trung hc c s (THCS) cng
bt u c quan tõm v cú mt v trớ xng ỏng trong chng trỡnh Vn
hc. Cựng vi Vn hc Vit Nam, VHNN ó gúp phn khụng nh trong
vic cung cp kin thc vn chng th gii, giỳp cho hc sinh c tip
xỳc vi vn hc ca nhng min t khỏc l v truyn thng, phong tc
tp quỏn, ng thi bi dng cho cỏc em nhng tỡnh cm, nhng rung
ng thm m cú tớnh cht vnh cu ca loi ngi.
Nu nh trc õy, vn phng phỏp ging dy VHNN dng nh
ch mang tớnh cht t phỏt, thỡ gi õy ó xut hin mt s bi vit, mt s
giỏo trỡnh cp vn phng phỏp trong ging dy VHNN.
Khi xem xột cỏc ti liu núi trờn, tụi nhn thy vn ging dy
VHNN mi c cp nh mt gii phỏp tỡnh th, xut phỏt t ni bc
xỳc v cht lng dy v hc, v cú l y mi ch l nhng tớn hiu ban
u khin nhng ai cú tõm huyt phi trn tr suy t.
Thc trng ging dy v hc tp phn VHNN, c bit l phn Th
nc ngoi trng THCS ó khin chỳng ta thc s lo lng bn khon.
Ngi dy ó gp nhiu khú khn khi tỡm kim ti liu tham kho, xỏc
nh thc cht ca phng phỏp dy th nc ngoi. Dy th nc ngoi
cú nhng im gỡ ging v khỏc dy th Vit Nam, ú l cõu hi m nhiu
giỏo viờn ang cn li gii ỏp. Nhng hin tng thc t y ó dn ti s
Trang 1
bấp bênh, không đồng đều về chất lượng day học VHNN trong mỗi bài,
mỗi cá nhân giáo viên, mỗi trường, mỗi lớp.
Xét góc độ khác, các tác phẩm VHNN được đưa vào chương trình
THCS phần lớn là những sáng tác của các bậc thầy văn chương, đỉnh cao

đã được sử dụng trước đây).
II/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
CỦA ĐỀ TÀI.
1. Thuận lợi
- Được sự động viên của BGH nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để giáo
viên phát huy sáng tạo trong giảng dạy.
- Được sự góp ý của đồng nghiệp.
- Tài liệu sách tham khảo hiện nay khá nhiều.
- Kinh nghiệm thực tế đúc kết trong những năm dạy học của bản thân.
2. Khó khăn
- Là trường Bán công nên đầu vào học sinh yếu, trung bình chiếm số
lượng khá lớn, học sinh khá giỏi ít.
- Một số học sinh ý thức học tập chưa cao, không thích học môn Ngữ Văn,
học tập còn mang tính đối phó.
- Sĩ số lớp đông, thời gian có hạn, giáo viên không thể kiểm tra vở soạn và
khả năng tiếp thu thường xuyên, liên tục được.
3. Số liệu thống kê
Năm học 2006 – 2007
Trang 3
Lớp
Tổng
số HS
Điểm trên trung bình Điểm dưới trung bình
8-10 6,5-7,9
5 -
6,4
(+) % 3 - 4,9
0 -
2,9
(+) %

đạt được mục đích của việc dạy thơ nước ngoài.
Mục đích của việc dạy VHNN, đặc biệt là Thơ nước ngoài là nhằm
bồi dưỡng tình cảm và nhận thức thẩm mĩ cho học sinh, giúp các em tiếp
nhận được những giá trị lung linh mới lạ của những tác phẩm vô giá trong
kho tàng văn chương nhân loại. Qua những tác phẩm ấy, các em không chỉ
được mở rộng tầm hiểu biết về văn chương nghệ thuật mà còn được bồi
dưỡng những tình cảm cao thượng, tình yêu đất nước, con người, bồi
dưỡng ý chí, nghị lực, niềm tin, nhân cách … Được thực hiện bằng những
phương pháp tốt, việc phân tích, tìm hiểu những bài Thơ nước ngoài giúp
cho học sinh không chỉ biết yêu cái đẹp của nghệ thuật văn chương mà
còn “chạm” được vào thế giới tâm hồn, tình cảm của một dân tộc khác.
Từ những suy nghĩ ấy, tôi xin đề xuất một số biện pháp giảng dạy thơ
nước ngoài sau đây.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Dạy và học Thơ nước ngoài ở trường THCS hiện nay là dạy và học
qua các bản dịch. Chúng ta đều biết rằng ngôn ngữ mỗi dân tộc có những
đặc điểm riêng biệt tạo nên mối quan hệ phong phú giữa lớp vỏ ngôn từ
với nội dung biểu đạt. Mối quan hệ ấy lại gắn liền với đặc trưng của thi ca
và không dễ chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác. Bản dịch văn xuôi
hoàn hảo đã khó, bản dịch thơ hoàn hảo lại càng khó hơn. Bởi lẽ thơ là sự
dồn nén của cảm xúc, ngôn ngữ thơ chứa nhiều tầng ý nghĩa và thường “ý
tại ngôn ngoại” nên sẽ rất khó tìm được sự tương đồng với một ngôn ngữ
khác.
Trang 5
Nhưng khó dịch thơ không đồng nghĩa với không thể dịch được thơ.
Giống như một họa sĩ vẽ chân dung, dịch giả thơ có thể làm cho bản sao
xấu hơn hay đẹp hơn, nhưng vẫn giữ được những nét giống nguyên mẫu
và bằng tài năng của mình, có thể lột tả được cái thần của nguyên mẫu.
Dịch không chỉ cần truyền đạt đúng và chính xác nội dung tác phẩm mà
còn phải truyền đạt sao cho dễ hiểu đối với người đọc. Nghĩa là văn bản

biến giờ phân tích tìm hiểu bài thơ thành giờ đánh giá cách dịch thơ.
VD : Khi hướng dẫn học sinh phân tích bài Tĩnh dạ tứ (cảm nghĩ trong
đêm thanh tĩnh) của Lí Bạch, giáo viên nên cho học sinh đối chiếu
với nguyên văn và bản dịch nghĩa để thấy nếu chỉ phân tích ở bản
dịch thơ thì ý nghĩa của câu (1) và (2) sẽ không đúng với cảm xúc,
tâm trạng của chủ đề trữ tình.
Nguyên văn : Sáng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương.
Dịch nghĩa : Ánh trăng sáng đầu giường
Ngỡ là sương mặt đất
Dịch thơ : Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Trong bản dịch, người dịch đã thêm hai động từ rọi và phủ làm biến
thái nội dung câu thơ. Bài thơ Tĩnh dạ tứ được viết trong hoàn cảnh Lí
Bạch đang sống xa quê hương. Trăng trong cảnh sống của nhà thơ khi ấy
không bao giờ chỉ thuần là cảnh. Từ trăng sang sương đã thể hiện một
khoảnh khắc suy tư của thi sĩ. Sự quan sát bằng thị giác đã chuyển thành
sự cảm nhận mang màu sắc tâm trạng : trăng sáng đẹp nhưng sao như lạnh
Trang 7
lẽo cái lạnh của kẻ cô đơn xa nhà. Do đó, thêm bất cứ động từ nào cho
trăng và đất đều là thừa và làm giảm mất ý vị trữ tình của bài thơ. Từ sự
tìm hiểu này, chúng ta nhắc học sinh không nên lưu ý các từ rọi và phủ
trong bản dịch thơ và hướng các em phân tích câu (1) và (2) từ bản dịch
nghĩa.
Cách xem xét văn bản dịch kiểu như trên có thể thực hiện ngay từ lúc
bắt đầu thao tác phân tích bài thơ hoặc khi hướng dẫn học sinh phân tích
những câu thơ có những từ ngữ cần xem xét.
Trong việc xem xét bản dịch của các bài thơ Đường, chúng ta cần so
sánh các bản dịch khác nhau của cùng một bài thơ. Mục đích so sánh
không phải để xem xét khâu dịch mà để giúp học sinh hiểu và cảm thụ bài

quang).
Biện pháp so sánh trong tiếp nhận tri thức bao giờ cũng góp phần làm
nảy sinh những khám phá mới, từ đó giúp cho giáo viên có thể khắc sâu
nhận thức cho học sinh một cách khá dễ dàng.
VD : Khi dạy Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch, giáo viên cho các em
so sánh với bài Thác nước Lư Sơn của Từ Ngưng – một nhà thơ
khác ở đời Đường.
Bài thơ của Từ Ngưng cũng rất hay, hình ảnh thác nước Lư Sơn cũng
rất độc đáo nhưng so với hình ảnh thác nước trong thơ Lí Bạch thì không
lung linh lì ảo bằng. Trong Xa ngắm thác núi Lư, Lí Bạch đã kết hợp được
một cách tài tình cái ảo và cái chân, cái hình và cái thần, tạo nên được
cảm giác diệu kì từ hình ảnh thác nước. Còn hình ảnh thơ của Từ Ngưng
thì dường như chỉ có cái hình mà thiếu mất cái thần, chỉ có cái chân mà
Trang 9
chưa có sự lung linh của cái ảo … cách so sánh này vừa giúp học sinh
khám phá thêm về bài thơ, vừa làm cho các em hiểu thêm về tác giả.
Trong khi dùng biện pháp so sánh, giáo viên có thể cho các em so
sánh các bài thơ của cùng một tác giả.
VD : Khi dạy bài thơ Mây và sóng, chúng ta có thể so sánh với bài
Buổi sơ khai trong tập thơ Trăng non, cũng của R. Tagor.
Nếu như Mây và sóng thể hiện sâu sắc tình cảm hồn nhiên trong sáng
của em bé với người mẹ thương yêu thì Buổi sơ khai lại là tiếng nói tâm
tình của bà mẹ với đứa con yêu quý của mình.
Mẹ ơi, con đến từ đâu vậy ?
Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào ?
Đó chính là câu hỏi trẻ thơ muôn thuở mà Tagor đã lấy làm thi tứ.
Người mẹ trong bài thơ đã nói cho bé biết em được sinh ra từ chính những
nỗi niềm sâu kín, những thèm khát, những ước mơ của mẹ. Trong trái tim
thương yêu của mẹ, con là hình ảnh của Chúa Đời, là bản thân cuộc sống,
là niềm hạnh phúc, là sự kì diệu mà mẹ khó lí giải hết bằng lời. Bởi lẽ :

Nói đến tìm hiểu tác phẩm là nói đến vấn đề thể loại. Thể loại văn học
thuộc về phương thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học, cũng như
cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể. Không
có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của thể loại. Phân tích
một tác phẩm văn học không thể xem nhẹ đặc trưng thể loại. Trong dạy
Trang 11
học văn học, coi trọng đặc trưng thể loại còn là một nguyên tắc dạy học
quan trọng.
Là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình, nhưng bản
chất của thơ lại rất đa dạng với nhiều biến thái và màu sắc phong phú, dễ
tác động đến người đọc. Dạy thơ Việt Nam hay thơ nước ngoài, người dạy
cũng cần chú ý đến đặc trưng của thơ, nhất là chú ý đến cái Tôi trong cảm
xúc và suy nghĩ. Cốt lõi của thơ là trữ tình. Mọi biểu hiện cuộc sống được
nói đến trong thơ đều gắn với tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người,
đều thông qua cảm nhận chủ quan của nhà thơ, bộc lộ khá đậm nét cái Tôi
của người cầm bút.
Đối với thơ Việt Nam, tìm hiểu thế giới tâm hồn của nhà thơ đã là một
công việc khó khăn bởi thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh những gì
tinh tế nhất của tình cảm con người. Đối với Thơ nước ngoài, học sinh
càng không dễ dàng cảm nhận được chiều sâu tâm trạng, nỗi niềm, suy
nghĩ của tác giả. Bên cạnh trở ngại về ngôn ngữ, học sinh còn gặp phải
những khác biệt về cách cảm, cách nghĩ, lối sống, truyền thống và hàng
loạt những yếu tố khác trong tình cảm, tư tưởng …
Do vậy, có thể :
(1) Lưu ý học sinh đến đặc điểm thời đại, hoàn cảnh sống, tính cách,
nỗi niềm tâm sự của nhà thơ ở ngoài đời để từ đó giúp các em tìm hiểu
tâm trạng của họ trong thơ.
Tuy điều này cũng là cần thiết với việc dạy thơ ca nói chung, nhưng
riêng đối với thơ nước ngoài, việc tìm hiểu này cần đậm hơn, sâu hơn và
công phu hơn.

trẻ thơ …
Trang 13
(2) Lưu ý đến những nét đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất trong tâm trạng
nhân vật trữ tình của bài thơ.
Trong bài Mây và sóng, đó là niềm khao khát của em bé về tình mẫu
tử. Đối với em, mẹ là người đáng yêu nhất. Chỉ có ở bên mẹ, được chơi
với mẹ và được mẹ yêu thương, em mới cảm thấy hạnh phúc.
Trong thơ Lí Bạch, cả hai bài Xa ngắm thác núi Lư và Cảm nghĩ trong
đêm thanh tĩnh đều ẩn chứa những rung động của nhà thơ trước vẻ đẹp của
cảnh sắc. Nhưng nếu Xa ngắm thác núi Lư, ta cảm nhận được tâm trạng
phấn chấn hào hứng của nhà thơ trước cái kỳ vỹ mỹ lệ của thác Núi Lư thì
trong Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, tâm trạng nhà thơ lại đi vào chiều
sâu của thế giới nội tâm đầy suy tư trăn trở.
Từ những điều nêu trên, ta nhận thấy việc tiếp cận bài thơ từ đặc trưng
thể loại rất cần thiết. Người giáo viên cần đặc biệt quan tâm và có ý thức
thực hiện thường xuyên khi giảng dạy các bài thơ nước ngoài.
d. Liên hệ giữa tác phẩm với bút pháp nhà thơ
Phần thơ nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong chương trình
VHNN. Thế nhưng những tác phẩm được tuyển chọn lại là tinh hoa của
thi ca nhân loại. Cho nên sẽ là thiếu sót nếu người dạy không làm cho các
em thích thú say mê với tác phẩm, không nắm được hết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm và tài năng của nhà thơ. Phải cho các em có ấn tượng về nhà
thơ, phải hiểu được một số nét đặc sắc trong bút pháp tác giả thì việc tìm
hiểu bài thơ mới dễ dàng.
Mặt khác, chúng ta đều biết những bài thơ được chọn trong chương
trình đều thể hiện đậm đặc bút pháp của nhà thơ. Trong quá trình hướng
dẫn phân tích, giáo viên cho HS liên hệ với bút pháp của nhà thơ thì các
em sẽ hiểu sâu, nắm vững tác phẩm hơn. Bút pháp vốn là thuật ngữ của
thư pháp – nghệ thuật viết chữ Hán, chỉ cách cầm bút, cách đưa đẩy nét
Trang 14

Cảnh đầu là cuộc trò chuyện của em bé với Mây, cảnh sau là với Sóng.
Những trò chơi mà Mây và Sóng gợi ra để rủ rê em bé thật là kỳ thú khiến
cho em dường như không thể cưỡng lại được. Điều này đòi hỏi nhà thơ
phải có óc tưởng tượng phong phú và nắm vững tâm lý tuổi thơ. Sự tưởng
tượng càng phong phú bao nhiêu thì sức quyến rũ của trò chơi càng mạnh
bấy nhiêu và việc em bé từ chối càng chứng tỏ sức mạnh tình yêu của em
bé đối với mẹ lớn đến thế nào. Trí tưởng tượng của nhà thơ còn đặc sắc ở
chỗ hai cảnh có vẻ như lặp lại, nhưng thực ra là có chỗ khác nhau. Mây ở
trên cao, Sóng ở dưới thấp, bầu trời tác động chủ yếu vào thị giác tạo nên
sự hấp dẫn mang màu sắc tiên cảnh, còn biển cả thì kích thích vào thính
giác làm nên nét hấp dẫn ở giai điệu du dương và dường như gần gũi với
hạ giới hơn. Chỗ khác nhau ấy bổ sung cho nhau càng làm tăng sức cuốn
hút của trò chơi.
Sức tưởng tượng của tác giả không chỉ biểu hiện ở những trò chơi do
Mây và Sóng gợi ra mà còn ở trò chơi của em bé với mẹ. Sự tưởng tượng
này hấp dẫn ở chỗ nó thật bất ngờ : bất ngờ ở sự thông minh chủ động của
em bé, bất ngờ ở việc em bé cũng chơi trò chơi Mây và Sóng nhưng lại
chơi ngay trong mái ấm gia đình, bên cạnh người mẹ thân yêu.
Thêm một sự tưởng tượng nữa là Tagor đã kết thúc bài thơ bằng một
hình ảnh thật đẹp :
Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.
Tiếng cười xóa mờ tất cả, bao trùm lên tất cả trong một niềm hạnh
phúc khôn cùng. Mẹ và con đang ở đâu, trên trời cùng mây, dưới biển
Trang 16
cùng sóng, hay ở khắp mọi nơi mà không ai biết… rõ ràng tình yêu mẹ đã
chắp cánh cho trí tưởng tượng của em bé và trò chơi của em hay hơn của
Mây và Sóng rất nhiều. Bút pháp Tagor đã thực sự tạo cho bài thơ một vẻ
đẹp thật kỳ diệu.
e. Vấn đề dạy và học tác phẩm trên cơ sở thi pháp.

Bích Hải.
Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, người dạy cần trang bị cho HS
một số kiến thức chủ yếu vận dụng để tiếp cận tác phẩm.
Trong thi pháp thơ Đường, nổi bật là quan niệm về con người. Con
người trong thơ Đường trước hết là con người vũ trụ : con người là một
tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Quan niệm như thế nên tiếng nói của nhà thơ
là tiếng nói “Tiểu thiên địa” giữa lòng thiên địa mênh mông. Nhà thơ bao
giờ cũng thấy vũ trụ thật lớn lao, mênh mông, vô hạn, còn con người thì
bé nhỏ, cô đơn và hữu hạn. Hiểu được quan niệm về con người như thế, sẽ
giúp HS hiểu được điểm nhìn của Lí Bạch, tiếng nói tri âm của ông trước
thiên nhiên, sự khát khao thoát khỏi cõi đời tầm thường và cả tâm sự u
hoài, cô đơn của ông trong hai bài thơ Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ
trong đêm thanh tĩnh.
Dạy thơ Đường, cần cho các em hiểu được không gian và thời gian
nghệ thuật của bài thơ. Trong thơ Đường, không gian nghệ thuật là không
Trang 18
gian vũ trụ, một không gian mang tính chất đối xứng và con người là tâm
đồi xứng trong không gian ấy. Con người trong không gian vũ trụ thường
cảm thấy cô độc và luôn luôn có khát vọng chiếm lĩnh, vượt không gian,
muốn có mặt khắp nơi trong thiên hạ. Vì thế trong thơ Đường, cảnh
thường cao và xa, kích thước cảnh thường lớn. Đặc điểm này có thể cho
HS thấy rõ khi dạy bài Xa ngắm thác Núi Lư. Ngược lại với không gian
rộng lớn, cao và xa của vũ trụ là không gian đời thường bé nhỏ, chật hẹp,
tối tăm.
Ở thơ Đường, thời gian nghệ thuật không đứng yên mà luôn luôn có
xu hướng vận hành luân chuyển. Có khi là thời gian ngược về quá khứ (
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh), có lúc hướng về tương lai, nhưng thường
ngược về quá khứ nhiều hơn, bởi trong tâm niệm của thi nhân, cái gì thuộc
về quá khứ cũng đẹp, cũng tốt lành. Thời gian đời thường trong thơ
Đường là thời gian hiện tại, cụ thể, là thời gian của sự kiện, thời gian của

cách sát hợp cảm nhận từ xa về dòng thác, một dòng thác treo cao như dải
lụa trên cái nền của đỉnh núi có khói tỏa mịt mờ và chân núi có dòng sông
tuôn chảy. Quả là một bức tranh họa tráng lệ, kì vĩ.
Ở câu thứ (3), giáo viên lại gợi ý để các em thấy cảnh tĩnh chuyển
sang động với động từ kèm theo trạng từ để chỉ thế nước chảy. Ở câu cuối
cùng, nhà thơ đã kết hợp khá tài tình giữa cái ảo và cái chân, giữa cái hình
và cái thần để tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi lên
trong tâm khảm nhà thơ. Giáo viên đặc biệt cho học sinh phân tích hai chữ
nghi thị (ngỡ là). “Ngỡ là” tức là biết sự thực không phải như vậy :
Nghi thị Ngân hà lạc cửu thiên
Trang 20
(Tưởng dãi Ngân hà tuột khỏi mây)
Biết sự thực không phải vậy mà vẫn tả như vậy. Phải chăng đó là nét
độc đáo của vị thi tiên ? Bài thơ không có một lời ngợi ca trực tiếp, song
qua những hình ảnh tráng lệ kì vĩ, với một không gian vũ trụ đầy biến ảo,
ta có thể thấy sức hấp dẫn của nghệ thuật thi ca mãnh liệt biết nhường nào.
Vẻ đẹp của thác núi Lư và tâm hồn yêu thiên nhiên đất nước cùng tài năng
của Lí Bạch sẽ còn mãi với thời gian.
IV/ KẾT QUẢ
- Từ những năm được trường phân công chuyên môn dạy Ngữ Văn
đến nay tôi đã, đang áp dụng các phương pháp trên vào việc dạy thơ nước
ngoài và tôi nhận thấy rằng : Trước đây khi chưa thực hiện các phương
pháp trên thì việc dạy và học một tiết thơ nước ngoài quả là nặng nề đối
với cả học sinh và giáo viên. Nhưng từ khi áp dụng các phương pháp trên
học sinh đã bắt đầu thích học thơ nước ngoài và kết quả các em tiếp thu
bài tốt hơn, học tập cũng khả quan hơn.
Tôi đã tiến hành ra đề kiểm tra đối với học sinh của lớp 7
1
, 7
3

* Đối với HS :
- Chuẩn bị bài ở nhà thật kĩ.
- Tham khảo tài liệu có liên quan đến bài học.
VI/ KẾT LUẬN
Quá trình tìm hiểu thực trạng dạy học Thơ nước ngoài ở trường THCS
đã giúp tôi tin rằng : Cần có một định hướng đúng đắn để xác lập phương
hướng dạy học thơ nước ngoài trong hệ thống lí luận về phương pháp dạy
VHNN. Những biện pháp như : Tìm hiểu văn bản dịch, liên hệ so sánh tác
phẩm thơ nước ngoài với những tác phẩm khác, dạy thơ theo đặc trưng
thể loại … Những ý kiến của tôi chỉ nhằm khắc phục những mặt hạn chế
Trang 22
trong việc giảng dạy thơ nước ngoài chứ không nhằm mục đích nêu lên
những kiến nghị toàn diện về vấn đề này.
Muốn có một phương pháp thực sự mang đặc trưng của việc dạy học
thơ nước ngoài, chúng ta cần có thêm điều kiện để nghiên cứu các yếu tố
khác như: tâm lí tiếp nhận của học sinh, đặc trưng thi pháp của mỗi tác
giả, tác phẩm thơ nước ngoài, hệ thống câu hỏi, cách soạn giáo án … Mặt
khác, còn cần so sánh một cách đầy đủ hơn việc dạy thơ nước ngoài và thơ
Việt Nam, đặc biệt còn cần tiến hành các tiết dạy thử và các buổi hội thảo
ở phạm vi rộng hơn … Đó là những công trình nghiên cứu về phương
pháp mang tính chất sâu sắc và toàn diện với sự tham gia của các chuyên
gia VHNN, sự cộng tác của các cấp chuyên môn, sự cộng tác của nhiều
thầy cô giáo có kinh nghiệm ở các trường THCS. Thiết nghĩ chỉ có như
vậy chúng ta mới có thể tìm ra những giải pháp tối ưu cho phương pháp
dạy học VHNN nói chung và thơ nước ngoài nói riêng.
VII/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Văn học Trung Quốc ( 2 tập ) của GS Trương Chính, GS Nguyễn Khắc
Phi.
- Thơ Đường của Nam Trân.
- Văn học Trung Quốc trong trường phổ thông của Nguyễn Thị Bích Hải.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status