skkn một số kinh nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học phân số ở lớp 4 - Pdf 24

Sáng kiến kinh nghiệm Thực hiện: Bùi Văn Còn
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Bối cảnh của đề tài:
Năm học 2011 – 2012, ngành giáo dục tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới, nâng
cao chất lượng dạy và học một cách đồng bộ và toàn diện cho tất cả các cấp học nói
chung, tiểu học nói riêng. Qua đó làm cơ sở tiếp cận việc cải cách giáo dục thay đổi
tích cực các phương pháp dạy học hiện nay cho phù hợp với tình hình xã hội trong tình
hình mới nhất là giai đoạn sau 2015.
Chính vì vậy, việc cải tiến phương pháp dạy học hay các đề tài nghiên cứu khoa học
trong lĩnh vực giáo dục luôn luôn được ngành quan tâm triệt để và quán triệt sâu sắc
đến từng cơ sở giáo dục, nhất là những người đang trực tiếp làm công tác giảng dạy
trong nhà trường. Đó cũng chính là chủ trương của Đảng và nhà nước đặt ra cho ngành
giáo dục từ đây cho đến năm 2015.
II/ Lí do chọn đề tài:
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở
ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt nam. Trong các môn học ở tiểu
học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:
- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời
sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học
khác.
- Góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp
giải quyết vấn đề; góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh
hoạt , khả năng ứng xử và giải quyết vần đề nảy sinh trong cuộc sống.
Trong chương trình học hiện nay, môn Toán chiếm một thời lượng rất đáng kể ( Mỗi
tuần có 5 tiết). Chương trình Toán 4 mới là sự kế thừa và phát triển cao hơn của
chương trình Toán lớp 1,2,3 và làm nền tảng cho việc học sau này ở các cấp trên. Qua
nhiều năm giảng dạy và đổi mới chương trình,tôi nhận thấy vẫn còn đó nhiều khó
khăn và bất cập trong việc đổi mới vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại đặc
biệt là chương “ Phân số” trong chương trình Toán 4, đây là mảng kiến thức khá trừu
tượng đối với đặc điểm tâm lý của trẻ ở Tiểu học và rất “khó nuốt” đối với giáo viên
Năm học 2011 -2012 Trang 1

Năm học 2011 -2012 Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm Thực hiện: Bùi Văn Còn
PHẦN NỘI DUNG
I/ Cơ sở lí luận:
Trong bộ luật giáo dục năm 2005 có nêu: “Giáo dục tiểu học phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh.”
Quan điểm chương trình mới cần thực hành, vận dụng kiến thức mới nhằm giúp học
sinh học tập tích cực, linh hoạt sáng tạo theo năng lực của học sinh .Nhận thức của
học sinh ở giai đoạn này ( lớp 4) bắt đầu chuyển dần sang nhận thức lí tính trên cơ sở
quan sát, phân tích, so sánh các hiện tượng và sự kiện trong học tập và trong đời sống.
Vì vậy, khi dạy học ở giai đoạn này cần giảm dần về thời lượng sử dụng và mức độ
trực quan của các yếu tố trực quan.
Đổi mới phương dạy học là giáo viên phải biết dạy cho học sinh cách học, cách tự
học và nhu cầu tự học. Cần hướng người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt
động tự giác, tích cực và sáng tạo, đổi mới phải có hướng kế thừa và phát huy những
mặt tích cực của phương pháp dạy học truyền thống, tiếp thu có chọn lọc những thành
tựu hiện đại. Đổi mới phải gắn liền với mục tiêu, nội dung, phương pháp kiểm tra
đánh giá, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học…tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh mà
giáo viên phấn đấu và cố gắng cho riêng mình.
Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế. để giúp học
sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ từ việc thay đổi phương pháp giảng dạy. Qua
thực tế, bản thân tôi luôn trăn trở làm gì và làm thế nào để các em học tập tốt, hứng
thú học tập nhất là đối với môn Toán lớp 4 nói chung hay học tốt chương phân số nói
riêng. Chính vì vậy tôi đã xây dựng nghiên cứu đề tài về đổi mới phương pháp giảng
dạy trong chương phân số từ ba năm qua.
II/ Thực trạng của vấn đề:
Trong chương trình Toán lớp 4 có 6 chương, mỗi chương là một mảng kiến thức.

1/ Quan điểm đổi mới:
Trước hết tôi vẫn trung thành với quan điểm: Yêu cầu cơ bản của đổi mới
phương pháp dạy học là: “ Dạy học dựa trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của
học sinh. Thông qua hoạt động học tập này, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ
động trong học tập; tự trải nghiệm khám phá, phát hiện vấn đề và tự chiếm lĩnh kiến
thức”. Bên cạnh đó đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin ( hoặc tăng cường
thực hành với các thiết bị dạy học sẵn có để học sinh tìm ra kiến thức mới) được quan
Năm học 2011 -2012 Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm Thực hiện: Bùi Văn Còn
tâm nhiều hơn. Muốn làm được như vậy , đòi hỏi giáo viên phải thành thạo các phương
pháp dạy học và vận dụng một cách linh hoạt vào từng tiết học và từng đối tượng cụ
thể.
2/ Các biện pháp thực hiện:
a) Giới thiệu khái niệm về phân số:
* Những sai lầm thường mắc:
Sau khi học xong 3 tiết đầu về phân số, tôi hỏi học sinh
6
5
là một số hay hai số. Đáp
án trả lời: một số : khoảng 72 %; hai số: khoảng 18% ; 10% : không rõ
Rõ ràng, sau khi học xong khái niệm về phân số thì học sinh vẫn chưa nắm chắc khái
niệm về phân số. Vậy nguyên nhân do đâu? Tìm ra đáp án cũng đồng nghĩa chúng ta
đã khắc phục được nhược điểm này.
* Giải pháp khắc phục:
Theo tôi phần lớn giáo viên chưa chú trọng đến phương pháp giảng dạy của mình,
thiếu thiết bị dạy học, chủ yếu khi nào có “dự giờ” thì mới làm triệt để, từ đó sinh ra
hậu quả học sinh nắm chưa kĩ khái niệm phân số.
Trong chương trình Toán lớp 4, khái niệm về phần số được giới thiệu trong 1 tiết
học. Nếu giáo viên xem nhẹ hoặc chưa nắm chắc dụng ý của sách giáo khoa thì việc
học sinh mắc lỗi chưa nắm sâu về khái niệm phân số là hoàn toàn có thể xảy ra.Để các

b) Tính chất cơ bản của phân số:
* Những sai lầm thường thấy:
Ví dụ: Bài tập này sau khi học tiết ôn tập cuối năm
So sánh hai phân số:
3
2

6
4
. Thì học sinh làm bài cho kết quả như sau:
Có khoảng 10% học sinh làm: điền dấu bé (
3
2
<
6
4
)
Có khoảng 5% học sinh làm ( vận dụng tính chất cơ bản của phân số để điền
dấu bằng) (
3
2
=
6
4
)
Còn lại đều quy đồng trước rồi so sánh hai phân số: (
3
2
=
6

thành bằng hình ảnh trực quan từ việc so sánh phân số bằng nhau của hai mảnh giấy.
Qua hình ảnh trực quan học sinh đưa ra nhận xét: (xem phần phụ lục)
(
4
3
=
8
6
) từ việc phân tích:
24
23
x
x
=
8
6

8
6
=
2:8
2:6
=
4
3
đưa ra nhận xét về tính chất
cơ bản của phân số. Vấn đề ở đây, chỉ có một ví dụ trực quan thì học sinh chưa nắm
chắc. Nếu giáo viên không khéo kết hợp các phương pháp dạy học cùng với việc sử
dụng đồ dùng dạy học hay hình ảnh minh hoạ trên máy thì học sinh nêu được khái
niệm tính chất cơ bản về phân số chẳng qua là học thuộc lí thuyết mà thôi. Một điều

=
12
5
( số học sinh cả lớp)
Có gần 10 em làm kết quả như trên ( các em lấy tử số cộng tử số, mẫu số cộng mẫu
số)
Ví dụ: Hay trong phép chia
7
3
:
3
4
=
7
3
x
3
4
=
21
12

Rõ ràng việc vận dụng các quy tắc của các em còn gặp khá nhiều khó khăn , do có quá
nhiều quy tắc các em cần nắm mà mỗi quy tắc có phần giống nhau giữa các từ.
* Giải pháp khắc phục:
Trong phần học về các phép tính của phân số, các em được học về cộng trừ hai phân
số cùng mẫu số và khác mẫu số. Phép nhân chia hai phân số hay giữa phân số và số tự
nhiên. Ngoài ra còn có các tính chất khác như: tính chất giao hoán, kết hợp, nhân một
số và một tổng …tất cả những quy tắc ấy các em đã được làm quen ở học kì I khi học
về số tự nhiên.

2
; c)
15
4
+
5
1
Đối với các phép tính trên, học sinh dễ dàng áp dụng các quy tắc khác nhau để tìm
kết quả, nếu như vậy chỉ còn máy móc, nếu các em biết cách tính nhanh hơn gọn hơn
thì phương pháp đổi mới mới thực sự thành công. ( xem thêm phụ lục: Phép nhân hai
phân số)
Câu a: Học sinh vận dụng quy tắc cùng mẫu để tính. Câu b học sinh vận dụng quy
tắc học cộng hai phân số khác mẫu để làm , riêng đối với câu c thì thường có hai nhóm
học sinh làm khác nhau nhưng cùng cho một kết quả. Vậy làm sao học sinh vận dụng
đúng quy tắc và tính nhanh hơn thì các em đã hiểu sâu sắc về các phép tính về phân số.
Ở câu C học sinh có thể làm như sau:

15
4
+
5
1
=
15
4
+
15
3
=
15

5
+
3
7
=
12
+
12
+
12
Với cách này sẽ kích thích học sinh tìm ngay ra mẫu số chung hoặc tử số của các
phân số đó, một lần nữa củng cố cho các em về tính chất cơ bản của phân số.
Ví dụ:
5
3
x
21
17
+
21
17
x
5
2
=
21
17
x (
5
3

khắc phục ngay.
Ví dụ: So sánh
5
2

6
3
ta làm như sau

5
2
=
65
62
x
x
=
30
12
;
6
3
=
56
53
x
x
=
30
15

4
;
6
3
các em sẽ quy đồng theo tính chất cơ bản của phân số, Đây là điều
không nên làm mà hướng cho học sinh cách làm ngắn gọn hơn, đó là quy đồng theo
cách tìm mẫu số chung để dễ tính và ngắn gọn.
- Kiểu sai thứ 3: sai cách trình bày
Ví du: So sánh
5
2

6
3


5
2
=
65
62
x
x
=
30
12
;
6
3
=

Giỏi : 10 em ; đạt: 28,57%
Khá : 13 em ; đạt: 37,14%
TB : 8 em ; đạt: 22,85%
Yếu : 4 em ; đạt: 11,44%
Giỏi : 15 em ; đạt: 42,86%
Khá : 10 em ; đạt: 28,57%
TB : 10 em ; đạt: 28,57%
Yếu : 0 em ; đạt: 0%
Năm học 2009 -
2010
Giỏi : 8 em ; đạt: 22,85%
Khá : 10 em ; đạt: 28,57%
TB : 10 em ; đạt: 28,57%
Yếu : 7 em ; đạt: 20,01%
Giỏi : 12 em ; đạt: 34,29%
Khá : 15 em ; đạt: 42,86%
TB : 8 em ;đạt: 22,85%
Yếu : 0 em ; đạt: 0%
Năm học 2010 -
2011
Giỏi : 8 em ; đạt: 22,22%
Khá : 10 em ; đạt: 27,77%
TB : 12 em ; đạt: 33,33%
Yếu : 6 em ; đạt: 16,68%
Giỏi : 10 em ; đạt: 27,77%
Khá : 13 em; đạt: 36,11%
TB : 8 em ; đạt: 22,22%
Yếu : 4 em ; đạt: 13,9%
V/ Nguyên nhân thành công và tồn tại:
Để có được thành công như kế hoạch đề ra, trước hết người giáo viên phải nắm

mới phải mang tính kế thừa cho các năm sau, học sinh có thể học được và học tốt.
Tóm lại, đối với môn Toán lớp 4. Phần phân số là một mảng kiến thức tương đối
quan trọng và có tính trừu tượng cao. Nếu giáo viên xem nhẹ việc sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực thì hiệu quả của quá trình dạy học sẽ không đạt được mục tiêu
đề ra.
II/ Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện các phương pháp suy
nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh
hoạt, khả năng ứng xử và xử lí các tinh huống nảy sinh trong cuộc sống nói chung.
Nhờ đó mà hình thành cho học sinh những phẩm chất cần thiết của con người mới.
Chính vì lẻ đó mà tôi luôn tìm tòi, suy nghĩ và đầu tư làm sao giáo dục cho các em trở
thành những con người tích cực, hiện đại và sống khoa học đầy tự tin trong cuộc sống.
Qua thực tế nghiên cứu áp dụng, các em học sinh được trang bị đầy đủ kiến thức
về phân số, dễ dàng học được ở các lớp trên. Các em biết giải quyết các vấn đề một
cách có khoa học, biết suy nghĩ có lập trình, từ đó các em có thể tự giải quyết các vấn
đề cũng như khả năng ứng xử linh hoạt và tự tin hơn trong cuộc sống. Việc học phân
số không còn là vấn đề khó khăn mà các em ngày càng thích học hơn sau khi được
tiếp cận. Đối với bản thân cũng đã giải toả được vấn đề mà tôi luôn trăn trở trong
những năm qua. Từ đây, tôi cảm thấy rất tự tin và thích thú với chủ trương đẩy mạnh
Năm học 2011 -2012 Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm Thực hiện: Bùi Văn Còn
đổi mới phương pháp dạy trong giáo dục mà các ngành, các cấp phát động trong
những năm qua.
III/ Khả năng ứng dụng:
Sau khi áp dụng khá thành công vào đối tượng học sinh lớp mình, tôi tiến hành áp
dụng cách làm này với các lớp khác trong tổ khối thì kết quả cũng cho thấy sự tiến bộ
của học sinh khi học phân số. Theo đánh giá của đồng nghiệp thì biện pháp giải quyết
vấn đề đã thực sự đem lại hiệu quả , giáo viên dễ dàng áp dụng , học sinh cảm thấy
thích thú hơn. Kết quả trong ba năm qua, tổ tôi không có học sinh yếu toán cuối năm,
tập thể luôn đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến.

phát triển tư duy toán học cho học sinh tiểu học nói riêng .
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân đúc kết được trong những năm. Đề tài
chắc còn nhiều thiếu sót, rất mong các bạn đồng đóng góp thêm./.
PHỤ LỤC
Hoạt động giáo viên Hoạt động học sinh

Các bước tiến hành: ( Trình chiếu)
- Bước 1: Có hai băng giấy bằng
nhau. ( lick chuột minh hoạ
hình hai băng giấy bằng nhau).
- Bước 2: Chia băng giấy thứ
nhất thành 4 phần bằng nhau và
tô màu 3 phần ( lick chuột minh
hoạ hình ảnh). Hỏi: các con
hãy đọc phân số chỉ phần đã tô
màu?
- Bước 3: Chia băng giấy thứ hai
thành 8 phần bằng nhau và tô
màu 6 phần ( lick chuột minh
hoạ hình ảnh). Gọi học sinh
đọc phân số chỉ phần tô màu.
- Bước 4: Hỏi: con thấy phần tô
màu trên hình như thế nào?
( lick chuột minh hoạ hình ảnh)
- Băng giấy thứ nhất: học sinh đọc:
4
3
- Băng giấy thứ hai: học sinh đọc
8
6

chuột).
- Bước 4: chia băng giấy
thứ hai thành 4 phần bằng
nhau, lấy 3 phần tức là
lấy
4
3
băng giấy. ( lick
chuột minh hoạ)
- Bước 5: (Lick chuột minh
họa hình vẽ), yêu cầu học
sinh so sánh phần tô màu.
- Bước 6: kết luận:

3
2
<
4
3
Phần tô màu :
3
2
<
4
3
Năm học 2011 -2012 Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm Thực hiện: Bùi Văn Còn Thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status