Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
MỤC LỤC
-------------
A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
1.2. Một số khái niệm, quan niệm
- Quản lý
- Quản lý giáo dục
- Quản lý nhà trường
- Quản lý phương pháp dạy học của hiệu trưởng
- Phương pháp
- Phương pháp quản lý
- Phương pháp dạy học
- Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học
1.3. Hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống
1.4. Các hệ thống phương pháp dạy học hiện đại
1.5. Nội dung đổi mới phương pháp dạy học
1.6. Nội dung quản lý đổi mới phương pháp dạy học
2. Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học
3. Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- 1 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ - CÔNG NGHỆ CAI LẬY
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Phương pháp dạy học (PPDH) là một trong những thành tố quan trọng
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
3.1. Khách thể: Là vấn đề quản lý đổi mới PPDH.
3.2. Đối tượng: Biện pháp quản lý việc đổi mới PPDH ở Trường Trung cấp
Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy hiện nay.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp sau, thì có thể nâng cao hiệu quả
quản lý việc đổi mới PPDH ở Trường Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai
Lậy.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu lý luận: Về vấn đề lý luận quản lý đổi mới PPDH Trường
Trung học phổ thông.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý đổi mới PPDH ở Trường Trung
cấp Kinh tế - Công nghệ Cai Lậy.
5.3. Đề xuất biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở Trường Trung cấp kinh tế -
Công nghệ Cai Lậy hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Các phương pháp phân tích,
tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát đánh giá thực
trạng quản lý đổi mới PPDH ở Trường Trung cấp Kinh tế - Công nghệ Cai
Lậy.
7. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu thực trạng quản lý đổi mới PPDH ở Trường Trung cấp –
Kinh tế Công nghệ Cai Lậy.
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm:
- Quản lý: Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng
chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm
hoạt động học tập và rèn luyện của người học, các nguồn lực đáp ứng yêu
cầu của hoạt động giáo dục của nhà trường, như: tổ chức và quản lý các
hoạt động sư phạm trên lớp và ngoài giờ lên lớp; quản lý nhà giáo, cán bộ
nhân viên và học sinh; quản lý cơ sở vật chất, phương tiện giáo dục; quản lý
tài chính, tài sản của nhà trường.v.v…
- Quản lý PPDH của hiệu trưởng: là quá trình tác động có mục đích,
có tổ chức của hiệu trưởng đến cách thức làm việc của thầy và trò nhằm đạt
được mục đích dạy học.
- Phương pháp: Thuật ngữ “phương pháp” có nguồn gốc từ tiếng Hy
Lạp “Metodos” có nghĩa chung nhất là con đường, cách thức mà chủ thể sử
dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã
định.
- Phương pháp quản lý: Là tổng thể cách thức tác động với các
phương tiện khác nhau của chủ thể quản lý đến hệ thống bị quản lý, nhằm
đạt mục tiêu quản lý.
- Phương pháp dạy học: Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH,
song tựu trung lại có thể hiểu dưới ba dạng sau đây:
+ Theo quan điểm điều khiển học, PPDH là cách thức tổ chức hoạt
động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này.
+ Theo quan điểm logich, PPDH là những thủ thuật logich được sử
dụng để giúp học sinh nắm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác.
+ Theo bản chất của nội dung, PPDH là sự vận động của nội dung dạy
học.
- 4 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa PPDH, các tác giả
đều thừa nhận rằng, PPDH có những dấu hiệu đặc trung sau đây:
+ Nó phản ảnh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh
nhằm đạt được mục đích đặt ra.
+ Phản ảnh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định.
bằng cách quy nạp hay diễn dịch. Học sinh lắng nghe, nghi chép, suy nghĩ,
ghi nhớ và tái hiện.
PPTT có những đặc điểm như:
+ Được dùng để truyền đạt, thông báo, trình bài cho học sinh những
tri thức khoa học mới một cách tập trung và nhanh. Những tri thức này được
- 5 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
sắp xếp một cách có hệ thống theo một trình tự logic nhất định, nhờ đó mà
phát triển cho học sinh trí nhớ và cách ghi nhớ, kĩ năng nghe và hiểu ý nghĩ
của người khác.
+ Việc truyền đạt tri thức được tiến hành thông qua lời nói sinh động
của giáo viên để tường thuật, mô tả, nêu đặc điểm hay giải thích, nhận xét,
đánh giá, bình luận hoặc biện luận một câu chuyện, một hiện tượng hay một
vấn đề nào đó. Các dạng thuyết trình này có thể được dùng phối hợp với
nhau.
Các PPTT bao gồm: giảng thuật, giảng giải, giảng diễn.
- Giảng thuật: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để mô tả, tường
thuật, kể lại, nêu đặc điểm của sự vật, hiện tượng, trong đó chứa đựng nội
dung tri thức. Học sinh nghe, ghi chép, suy nghĩ để lĩnh hội tri thức. Phương
pháp này hay sử dung trong những giờ học lý thuyết, nhất là các môn khoa
học xã hội. Các môn khoa học tự nhiên cũng có thể sử dụng khi cần thông
báo nội dung lý thuyết, những quan điểm, học thuyết, tiểu sử các nhà khoa
học. Có thể sử dụng phương pháp ở tất cả các cấp học.
- Giảng giải: Là phương pháp giáo viên dùng các luận cứ, dẫn chứng
sự kiện, số liệu để giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, phân loại làm
sáng tỏ các vấn đề, các quy tắc, định lý, định luật, công thức, khái niệm,
thuật ngữ…Giảng giải chứa đựng cả cách thức suy luận, phán đoán cho nên
có thể phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh.
- Giảng diễn: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bài một
vấn đề có tính trừu tượng cao, có hệ thống, trọn vẹn, hoàn chỉnh của nội
+ Nên hướng dẫn trước cho học sinh ghi chép, kết hợp với nghe và
suy nghĩ.
+ Kết hợp với các phương pháp khác như: sử dụng các phương tiện
trực quan, vấn đáp, thảo luận và thực hành, vận dụng lý thuyết để giải các
bài tập, hoặc là chuyển sang thuyết trình nêu vấn đề.
1.3.1.2. Phương pháp vấn đáp (PPVĐ)
Vấn đáp là phương pháp hỏi – đáp trong dạy học (còn gọi là phương
pháp đàm thoại, đối thoại) để có thể giúp học sinh lĩnh hội kinh nghiệm.
Thường có các dạng đàm thoại như:
- Vấn đáp mở đầu được sử dụng trước khi bắt đầu học một phần
(chương, mục, chủ đề mới). Mục đích của đàm thoại này là nhằm tìm hiểu
hoặc tái hiện lại những biểu tượng, kinh nghiệm mà học sinh đã có về nội
dung bài học, làm cho vốn kiến thức đã có trở thành chổ dựa cho việc tiếp
thu kiến thức mới, kích thích hứng thú học tập, phát triển nhu cầu hoạt động
nhận thức.
- Vấn đáp thông báo tài liệu mới được tiến hành trong quá trình truyền
thụ nội dung học tập, phát triển tư duy độc lập, tìm tòi của học sinh mang
tính chất nghiên cứu. Để từ đó học sinh biết tự lực suy nghĩ để thu nhận
thông tin mới.
- Vấn đáp ôn tập được tiến hành sau khi học xong một chương, một
chủ đề, dùng để củng cố, khắc sâu và hoàn thiện, khái quát hoá và tổng kết
nội dung đã học, giúp giáo viên kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh.
Trong quá trình sử dụng PPVĐ để thực hiện các mục đích trên, giáo
viên có thể tiến hành vấn đáp gợi mở bằng hệ thống câu hỏi có quan hệ với
nhau (câu hỏi chính được phân thành các câu hỏi phụ) để gợi mở cho học
sinh phát hiện được vấn đề, tự học có thể rút ra được những kết luận cần
thiết.
- 7 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
- Vấn đáp kiểm tra được sử dụng để kiểm tra hiểu biết của người học,
Sách phản ánh những kinh nghiệm đã được hệ thống hoá và khái quát
hoá mà loài người đã tích luỹ được qua bao đời nay, nhất là phản ánh những
thành tựu khoa học, kĩ thuật văn hoá. Đó là nguồn tri thức phong phú, đa
dạng. Trong nhà trường phổ thông học sinh cần phải biết sử dụng sách giáo
khoa và học tập với các tài liệu khác.
Sách giáo khoa là một phương tiện để học sinh chuẩn bị bài, để làm
các bài tập thực hành, nó góp phần đắc lực cho việc tiếp thu kiến thức và
hình thành kĩ năng học tập trên lớp.
- 8 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Nếu được sử dụng đúng phương pháp, sách sẽ có tác dụng lớn: Mở
rộng, đào sâu vốn hiểu biết một cách có hệ thống và sinh động, rèn luyện kĩ
năng, thói quen sử dụng sách, bồi dưỡng vốn ngữ pháp, kinh nghiệm viết
văn, óc nhận xét, phê phán, bồi dưỡng hứng thú đọc sách, hứng thú học tập
qua sách.
Học sinh dùng sách ở lớp và ở nhà. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
biết sử dụng sách và cần phải nghiên cứu kĩ bài học trong sách để xác định
những phần học sinh có thể tự đọc và hiểu được, những phần khó cần hướng
dẫn hợp lí cho việc tự học.
1.3.2. Nhóm các phương pháp dạy học trực quan
1.3.2.1. Phương pháp quan sát của học sinh: là phương pháp nhận thức cảm
tính tích cực, là tri giác trực tiếp đối tượng để thu thập thông tin hoặc kiểm
chứng thông tin.
- Quan sát trong quá trình học tập của học sinh là một hoạt động có
mục đích, có kế hoạch và được tiến hành có hệ thống theo những phương
thức nhất định, thông tin cần được ghi chép theo cách thức nhất định và
được kiểm tra về độ ổn định và ý nghĩa.
1.3.2.2. Phương pháp trình bày trực quan: được dùng khi giảng bài mới và
có thể dùng để củng cố, ôn tập hay kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Trong thực tiễn dạy học, có thể sử dụng nhiều phương pháp trực quan
bảo đảm an toàn khi sử dụng các vật thí nghiệm và khi làm thí nghiệm, các
vấn đề bảo quản và tiết kiệm nguyên vật liệu…; phân chia học sinh thành
từng nhóm khi cần thiết; hướng dẫn học sinh ghi chép, quan sát, vẽ hình;
theo dỏi học sinh để kịp thời điều chỉnh; hướng dẫn học sinh viết báo cáo
tổng kết kết quả thí nghiệm.
1.3.3.2. Phương pháp luyện tập: là lặp đi lặp nhiều lần những hành động
nhất định nhằm hình thành và củng cố những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, qua
đó củng cố kiến thức.
1.3.3.3. Phương pháp ôn tập để củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo: Ôn tập theo
bài, chương, phần có tính chất tổng kết theo đề tài; cần có kế hoạch, hệ
thống và kịp thời với nhiều hình thức khác nhau; ôn rải và ôn xen kẻ; ôn cái
cơ bản, cần có đối chiếu so sánh, phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập; có
thể sử dụng các phương pháp trình bày ở trên để tiến hành ôn tập.
1.3.4. Phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá
trình dạy học.
Kiểm tra là để thu được tín hiệu ngược phản ảnh chất lượng và hiệu
quả quá trình dạy học để kịp thời điều chỉnh và còn để củng cố tri thức, tạo
điều kiện phát triển trí tuệ cho học sinh.
Kiểm tra có nhiều dạng:
- Kiểm tra thường xuyên (hàng ngày)
- Kiểm tra định kỳ
- Kiểm tra tổng kết vào cuối năm học
- Kiểm tra và thi hết môn, hết học phần
Các hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra miệng: được sử dụng trước khi, trong khi, sau khi và cả
trong các kỳ thi cuối học kỳ, cuối năm học, hoặc kết thúc học
phần. Giúp thu được tín hiệu ngược nhanh chóng và có tác dụng
thúc đẩy người học tích cực học tập thường xuyên và có hệ thống.
- Kiểm tra viết: được sử dụng sau khi kết thúc một học trình, một
chương mục nào đó. Có tác dụng kiểm tra trình độ nắm vững tri
sinh nắm kiến thức trên cơ sở tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi nghiên
cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho. Làm được như thế
không những các em nắm được kiến thức một cách bền vững và sâu sắc, mà
còn giúp các em biết phương pháp, có kỹ năng và thói quen nghiên cứu, tìm
tòi, sáng tạo, những phẩm chất quan trọng nhất của con người hiện đại.
Khi vận dụng dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn nhà trường, nên chú ý
một số điểm sau:
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích
cực hoá hoạt động nhận thức của các em, làm tăng tính năng động,
sáng tạo của thầy và trò trong dạy học, tương đối dễ sử dụng…Nên
đó là một trong những phương pháp được thầy giáo hay sử dụng
khi dạy học.
- 11 -
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
- Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là tốn thời gian, đòi hỏi thầy
giáo phải có chuyên môn cao và nhiều tâm huyết, và phải xác định
đúng điều kiện dạy học nêu vấn đề có hiệu quả.
1.4.2. Dạy học hướng vào người học (lấy học sinh làm trung tâm)
Có thể hiểu nội dung tư tưởng này qua một số ý kiến sau đây:
- Lấy học sinh làm trung tâm là một xu thế hiện đại trong việc đổi
mới phương pháp dạy học, có tính nhân văn cao.
- Lấy học sinh làm trung tâm là giúp học sinh tìm tòi chân lí và qua
đấy mà có kiến thức mới.
- Cần chú ý đến hoạt động tích cực, độc lập của học sinh.
- Đổi mới phương pháp phải toàn diện, không tách rời các yếu tố
khác của quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, SGK, thiết bị dạy
học, thầy giáo…).
- Cần nêu lên một hệ thống biện pháp về đổi mới PPDH để thầy giáo
có thể lựa chọn và áp dụng vào thực tiễn đa dạng của quá trình dạy
học.
hưởng của môi trường chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua việc
tổ chức dạy học của người thầy. Vì vậy, khi triển khai tư tưởng dạy
học hướng vào người học, người thầy cần chú ý đến việc tổ chức
các hoạt động nhằm tăng cường ảnh hưởng của môi trường.
Tư tưởng dạy học hướng vào người học là một tư tưởng giáo dục
hiện đại và mang tính nhân văn sâu sắc. Để thực hiện được tư tưởng
này cần tiến hành kiên trì và có kế hoạch lâu dài nhằm đưa việc đổi
mới phương pháp trong nhà trường tiến lên một cách vững chắc và có
hiệu quả.
1.4.3. Dạy học kiến tạo
Dạy học kiến tạo là đi sâu vào tìm hiểu sự chuyển hoá bên trong của
quá trình nhận thức, tìm hiểu cơ chế tiếp nhận nhận thức.
Dạy học kiến tạo đã đưa ra một vài khái niệm mới như: đồng hoá và
điều ứng trong giáo dục, và cho rằng: người học phải tự xây dựng cho mình
một hệ thống kiến thức có cấu trúc riêng.
Dựa vào bản chất của lý thuyết kiến tạo, có thể phân kiến tạo trong
dạy học làm hai loại:
- Kiến tạo cơ bản: Kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân
trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng kiến thức
cho bản thân. Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hoá
bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức. Kiến tạo cơ bản
coi trọng kinh nghiệm của người học trong quá trình người học
hình thành thế giới quan khoa học cho mình.
- Kiến tạo xã hội: là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố
văn hoá, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến
sự hình thành kiến thức. Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối
quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội. Nhân cách của chủ thể
được hình thành thông qua tương tác của họ với những người khác.
Kiến tạo xã hội cũng nhìn nhận chủ thể nhận thức trong mối quan
hệ sống động với môi trường xã hội.
thức.
1.4.4. Sư phạm học tương tác
Hoạt động dạy học – giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố:
người dạy – người học và môi trường, theo sơ đồ sau:
Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy - học: bộ ba người học-người dạy-môi trường
- 14 -
Người học
Người dạy Môi trường
Tác giả Nguyễn Văn Khởi (2009-2010)
Các dạng tương tác trong dạy học:
Có ba dạng tương tác sư phạm thường xảy ra trong thực tế, đó là:
- Tương tác thầy – trò
- Tương tác môi trường – trò
- Tương tác môi trường – thầy – trò
a) Tương tác thầy – trò
Tương tác thầy – trò là tương tác thường gặp nhất và được nêu lên
như một quy luật cơ bản của quá trình dạy học. Mối quan hệ này hiện nay
đang được hoàn thiện theo hướng: giải phóng người học, hợp tác, lấy học
sinh làm trung tâm, thầy thiết kế - trò thi công, tăng cường tính tích cực, chủ
động của học trò…Giáo dục học hiện đại đang cố gắng làm sao để hoạt động
của trò giữ vai trò chủ yếu trong giờ học.
b) Tương tác môi trường – trò
Tác động của môi trường đến học sinh là vô cùng quan trọng.Chất
lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào môi trường, trong nhiều trường hợp do
môi trường quyết định, đặc biệt là chất lượng đạo đức.
Về thời gian, môi trường tác động đến các em từng giây, từng phút,
từng giờ, từng ngày.
Về không gian, môi trường tác động đến các em ở mọi nơi: trong gia
đình, thôn xóm, khu phố, trong xã hội rộng lớn.
Môi trường tác động đến các em qua đủ mọi phương tiện: lời khuyên
lường trước được.
1.5. Nội dung đổi mới phương pháp dạy học.
1.5.1. Đổi mới về phương hướng
Các hoạt động đổi mới phương pháp rất đa dạng, nhưng nhìn chung
diễn ra theo ba hướng lớn sau đây:
1.5.1.1. Tiếp cận theo quan điểm tâm lý - giáo dục
Bản chất của quan điểm này là tìm mọi cách phát huy năng lực nội
sinh của người học, tìm mọi cách phát triển sức mạnh trí tuệ, tâm hồn, ý chí
của người học. Trong hoạt động thường ngày, các thầy giáo tiến hành những
hoạt động cụ thể sau đây:
- Kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo.
- Tổ chức cho học sinh làm việc độc lập, cá nhân hoá quá trình học
tập.
- Hình thành ở các em động cơ học tập lành mạnh, phát huy tính tích
cực, tự lực, tự cường, phát huy ý chí độc lập.
Để phát huy được năng lực nội sinh của người học theo các biện pháp
trên đây cần tiến hành các hình thức khác nhau: trong lớp, ngoài lớp; trong
trường, ngoài trường; kết hợp nhiều lực lượng giáo dục: nhà trường, gia
đình, xã hội và đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng.
1.5.1.2. Tiếp cận theo quan điểm điều khiển học
Cách tiếp cận này được các nhà quản lí vận dụng trong việc cải tạo,
đổi mới PPDH. Họ chủ trương giải phóng con ngưòi, tạo điều kiện cho
người học được tự do phát triển nhu cầu học tập, phát triển năng lực cá nhân;
điều khiển mối quan hệ thầy - trò bằng nhiều hình thức khác nhau, lấy hạnh
phúc và sự phát triển của người học làm nền tảng, trên cơ sở đó góp phần
phát triển cộng đồng và xã hội làm mục đích hoạt động của thầy giáo. Tất cả
vì học sinh thân yêu, trái tim tôi hiến dâng cho trẻ, dạy học lấy học sinh làm
trung tâm…Đó là những tư tưởng rất nhân văn, rất dân chủ mà nhân loại
đang hướng tới.
- 16 -