khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân hai phường trường lạc và phước thới, quận ô môn, thành phố cần thơ - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

L
L
U
U


N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T


T
T
N
N
G
G
À
À
N
N
H
HQ
Q
U
U


N
NL
L
Ý
Ý
Ô
Ô
I
IT
T
R
R
Ư
Ư


N
N
G
G
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG NGẬP LŨ
VÀ PHƯƠNG CÁCH ỨNG PHÓ VỚI LŨ ĐỂ BẢO VỆ SINH
KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HAI PHƯỜNG TRƯỜNG LẠC VÀ
PHƯỚC THỚI, QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Sinh viên thực hiện

ơ
,
,1
1
1
1
/
/
2
2
0
0
1
1
3
3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

L
L
U

I


P

Đ


I
IH
H


C
CN
N
G
G
À
À
N

N
G
G
U
U
Y
Y
Ê
Ê
N
NV
V
À
ÀM
M
Ô
Ô
I
IT
T
R
C
C


n
nT
T
h
h
ơ
ơ
,
,1
1
1
1

ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC KÝ HIỆU vi
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.3 Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ 4
2.2 TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT TẠI VIỆT NAM 5
2.2.1 Đặc điểm lũ tại các vùng ở Việt Nam 5
2.2.2 Khái quát về 1 số trận lũ lụt điển hình và phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL 6
2.3 TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THỦY VĂN VIỆT NAM 18
2.4 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 21
2.4.1 Khái quát về BĐKH 21
2.4.2 Tình hình BĐKH ở Việt Nam 24
2.5 MÔ TẢ VÙNG NGHIÊN CỨU 25
2.5.1 Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Cần Thơ 25
2.5.2 Tóm tắt đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội quận Ô Môn 28
2.5.3 Giới thiệu mô hình ủ phân Compost ngầm 31
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 33
3.1.1 Thời gian 33
3.1.2 Địa điểm 33
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

4.4.2 Xu hướng thay đổi lịch canh tác nông nghiệp 49
4.5 CÁC ĐỀ XUẤT CỦA NGƯỜI DÂN ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BĐKH 49
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50 iv
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 53

v
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ vị trí thành phố Cần Thơ trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 26
Hình 2.2 Bản đồ vị trí quận Ô Môn, TP Cần Thơ 29
Hình 2.3 Bản đồ vị trí phường Trường Lạc, quận Ô Môn, TP Cần Thơ 30
Hình 2.4 Bản đồ vị trí phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP Cần Thơ 31
Hình 4.1 Tỷ lệ phần trăm về giới tính của chủ hộ được khảo sát 35
Hình 4.2 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của chủ hộ tại vùng khảo sát 36
Hình 4.3 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của vợ/chồng chủ hộ tại vùng khảo sát 36
Hình 4.4 Tỷ lệ phân bố nhà và đất canh tác của các hộ dân trong vùng khảo sát 37
Hình 4.5 Tỷ lệ xếp loại thu nhập hộ các hộ dân được phỏng vấn trong vùng khảo sát 38
Hình 4.6 Tỷ lệ về các nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong vùng khảo sát 39
Hình 4.7 Tỷ lệ về sở hữu đất canh tác riêng của các hộ dân trong vùng khảo sát 40
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất của người dân trong vùng khảo sát 41
Hình 4.9 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố nhiệt độ của các hộ dân được phỏng vấn (n=80) 42
Hình 4.10 Tỷ lệ đánh giá về yếu tố khô hạn của các hộ dân được phỏng vấn (n=67) 42


1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây đã có những trận lũ lụt lớn chưa từng thấy xảy ra
tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đặc biệt là cơn lũ lụt từ tháng 9 đến
tháng 11 năm 2000 được gọi cơn lũ thế kỷ. Cơn lũ này đã làm gần 1.000 người thiệt
mạng và tổn thất về tài sản và mùa màng được ước lượng đến 500 triệu USD. Hiện
nay mực nước sông Cửu Long đang ở trong tình trạng báo động. Lũ lụt là một hiện
tượng thiên nhiên xảy ra hàng năm tại vùng ĐBSCL. Các cơn lũ bắt đầu khi nước
sông Cửu Long dâng cao làm ngập vùng Savannakhet và Pakse ở miền Nam Lào rồi
đến vùng Kratie ở miền Đông Campuchia. Nước lũ từ thượng lưu theo sông Tiền và
sông Hậu chảy vào nước ta rồi thoát ra biển Đông. Mùa lũ thường kéo dài từ cuối
tháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra ba giai đoạn. Trong giai đoạn 1, từ
tháng 7 đến tháng 8, nước lũ chảy vào các kinh và các mương rạch thiên nhiên vùng
Đồng tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Cao điểm lũ lụt xảy ra trong giai đoạn 2
khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m, và mực nước sông Hậu ở Châu
Đốc cao hơn 3,5 m. Đây là những tiêu chuẩn của Ủy ban Quốc tế Sông Mekong
(Mekong River Commission) dùng để định nghĩa mỗi khi ĐBSCL bị lụt. Giai đoạn
3 bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12.
Như trên đã trình bày lũ lụt ở ĐBSCL bắt đầu do nước lũ ở thượng lưu sông
Cửu Long. Nước lũ vùng thượng lưu do đâu mà có? Hàng năm những trận bão biển
và gió mùa Tây Nam đã gây nên những trận mưa lớn làm mực nước sông Cửu Long
dâng cao. Đặc biệt vào năm 2000, gió mùa bắt đầu sớm hơn đến 6 - 8 tuần. Những
trận mưa lớn vào tháng 7 ở phía Bắc Lào và vùng Tây Nam Trung Hoa đã nâng cao
mực nước sông Cửu Long ở Vạn Tượng. Mực nước cứ dâng cao trong vòng hai
tháng tới. Đến cuối tháng 8, sông chính và các sông phụ ở Nam Lào đả tràn bờ.
Cọng thêm những cơn bão biển Đông đã liên tiếp mang đến những trận mưa lớn ở
miền Trung nuớc ta, những tỉnh thành miền Đông nước Campuchia, và vùng
ĐBSCL. Đến đầu tháng 10 đã có một vùng biển nội địa sâu đến 2 m, phá hoại các

ngập nông và kiểm soát lũ chủ động quanh năm, chỉ có 11,3% diện tích ngập lũ sâu
và nằm trong vùng kiểm soát lũ tháng 8. Lũ có tác dụng cung cấp phù sa, tiêu độc
cho môi trường, nhưng lũ cũng gây tốn kém cho xây dựng các khu dân cư, khu công
nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng. Các trận lũ lớn và nhất là lũ lịch sử (năm 2000)
ảnh hưởng khá nặng đến sản xuất lúa thu đông, các vườn cây ăn quả và nuôi trồng
thủy sản. (Trần Tiễn Khanh (8/2001), Nguyên nhân lũ lụt lớn tại ĐBSCL).
Nền kinh tế chủ yếu của TP Cần Thơ là dựa vào nông nghiệp đặc biệt là các
vùng ven như Ô Môn, Vĩnh Thạnh,… mà lũ lụt cùng với tác động của BĐKH đã và
đang ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất nông nghiệp đặc biệt là việc ngập lũ. Vì
thế vấn đề đặt ra là cần có nghiên cứu về tình trạng ngập lũ và phương cách ứng phó
với lũ để bảo vệ sinh kế nhằm giúp người dân cải thiện những phương pháp hiện tại
và ứng dụng được những phương pháp mới khoa học hơn, hiệu quả hơn.
Từ những yêu cầu thực tế và tình hình thực tiễn thì đề tài “Khảo sát hiện
trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế của người dân ở 2
phường Trường Lạc và Phước Thới Quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ” được tiến
hành thực hiện.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Khảo sát hiện trạng ngập lũ và phương cách ứng phó với lũ để bảo vệ sinh kế
của người ở hai phường Trường Lạc và Phước Thới quận Ô Môn TP Cần Thơ. 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
 Khảo sát hiện trạng ngập lũ lên cơ sở hạ tầng và điều kiện canh tác nông
nghiệp của người dân ở hai Phường Trường Lạc và Phước Thới
 Tìm hiểu các phương thức sinh kế sống chung với lũ của người dân ở hai
Phường Trường Lạc và Phước Thới
 Đề xuất các biện pháp cải thiện sinh kế cho người dân
1.2.3 Nội dung nghiên cứu

tiết diễn ra trái quy luật thông thường.
- Khí hậu: thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết
(thường là 30 năm, WMO).
- Thiên tai: có nghĩa là các hiện tượng thiên nhiên gây ra sự tổn hại về người
và vật chất, hệ sinh thái và động vật như bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa phun trào, sóng
thần, vòi rồng (lốc xoáy), núi lỡ, sạt lỡ đất. Thiên tai là hiện tượng tự nhiên nhưng
có mối quan hệ nhất định với BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
- Nông nghiệp: là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên
liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên
liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều
chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm
cả lâm nghiệp, thuỷ sản (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2011). 5
- Phương thức canh tác nông nghiệp: là các hình thức sản xuất của con
người, sử dụng các tư liệu sản xuất phục vụ cho nông nghiệp nhằm tạo ra năng suất.
Có rất nhiều phương thức canh tác nông nghiệp: du canh, nông lâm kết hợp (canh
tác đồi núi), thâm canh,…
2.2 TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Đặc điểm lũ tại các vùng ở Việt Nam
2.2.1.1 Vùng đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ
Sông Hồng và sông Thái Bình có diện tích lưu vực 164.300 km
2
trong đó phần
lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam là 87.400 km
2
bao gồm 23 tỉnh, thành phố, chiếm
75,7% diện tích tự nhiên của toàn Bắc bộ.

điển hình như: trận lũ quét ngày 27/7/1991 tại thị xã Sơn La; trận năm 1994 tại
Mường Lay, Lai Châu; trận lũ quét tại Hà Tĩnh ngày 20/9/2002; trận lũ quét năm
2005 tại Yên Bái, Lũ quét hiện chưa dự báo được nhưng có thể chủ động phòng
tránh bằng cách khoanh vùng nhưng nơi có nguy cơ xảy ra lũ quét, xây dựng hệ
thống cảnh báo.
Khu vực Tây nguyên: Khu vực này không có các hệ thống sông lớn, lượng
mưa trung bình năm nhỏ, phạm vi ảnh hưởng hẹp, thường mang đặc điểm lũ núi, lũ
quét, biên độ lũ tại cầu ĐakBla trên sông ĐakBla ở mức 10 m.
2.2.1.4 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Lũ chủ yếu từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về và chịu ảnh hưởng trực tiếp
của thủy triều kết hợp với khả năng điều tiết của Biển Hồ. Lũ diễn biến chậm, kéo
dài trong suốt khoảng thời gian từ 4 đến 5 tháng trong năm, làm ngập hầu hết toàn
bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
2.2.2 Khái quát về 1 số trận lũ lụt điển hình và phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL
Diễn biến lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long có thể được hình dung và được
nhận diện thông qua một số trận lũ lớn điển hình trong gần 45 năm qua. Bức tranh
ngập lụt toàn vùng lũ cho một cách nhìn khái quát để từ đó phân vùng ngập lụt phục
vụ kế hoạch kiểm soát lũ
Diễn biến lũ lụt ở ĐBSCL có thể được hình dung ra và được nhận diện thông
qua một số trận lũ lụt lớn điển hình. Thông thường, khoảng 4 - 6 năm tại ĐBSCL có
một trận lũ lụt lớn. Trong gần 45 năm qua, thì các năm 1961, 1978, 1984, 1991,
1994, 1996, 2000, 2001 và 2002 là những năm lũ lụt lớn.
2.2.2.1 Một số trận lũ điển hình tại ĐBSCL
Trận lũ năm 1961: có đỉnh cao nhất trong vòng gần 45 năm qua, hình thành
do mưa của 5 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, đặc biệt là 2 cơn bão số 8 và số 10, gây
ra mưa lớn ở hạ Lào và Campuchia. Lượng mưa tháng 8 và 9 nhiều nơi đạt từ 500 -
700 mm/tháng. Tại Kratie, lưu lượng đỉnh lũ là 62.400 m
3
/s và tại PhnômPênh
khoảng 43.400 m

vào miền Trung (số 8, ngày 20/9 và số 9, ngày 26/9), gây mưa lớn ở trung hạ Lào
và Đông - Bắc Thái Lan trong 3 tháng 7, 8 và 9. Lượng mưa tháng thường 400 -800
mm, thậm chí trên 900 mm (tháng 8, tại Pakse). Tại Pakse, lưu lượng đỉnh lũ là
56.000 m
3
/s (lớn nhất), vượt các trận lũ lớn khác khoảng 10.000 m
3
/s (trên 12%).
Đỉnh lũ tại Kratie được ước tính là 68.000 – 70.000 m
3
/s, cũng vượt xa các trận lũ
lớn khác. Tại thượng lưu, lũ 1978 có hai đỉnh, xuất hiện cách nhau hơn 1 tháng và
đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước rất nhiều. Về đồng bằng, sau khi qua Biển Hồ, lũ vẫn
có dạng hai đỉnh. Đầu tháng 8, khi mực nước ở Tân Châu trên 3 m và Châu Đốc
trên 2 m đã lên nhanh do lũ thượng nguồn và đạt đỉnh thứ nhất là 4,46 m tại Tân
Châu ngày 30/8 và 4,15 m tại Châu Đốc ngày 5/9. Lũ lên nhanh, có những ngày đạt
13 cm tại Tân Châu và 14 cm tại Châu Đốc. Sau đỉnh lũ thứ nhất, lũ rút chậm
khoảng 2 tuần và lên lại để đạt đỉnh thứ hai vào ngày 9/10 là 4,78 m tại Tân Châu
và 4,46 m tại Châu Đốc. Cuối tháng 10, lũ đã xuống đến mức an toàn, không khác
so với hàng năm. Lũ đến sớm, đỉnh lũ cao ngay cuối tháng 8 đã gây thiệt hại lớn.
Thời gian duy trì mực nước từ 4,33 m trở lên là 60 ngày. Đỉnh lũ vào tháng 10 trùng
kỳ triều cường và mưa lớn nội đồng nên ngập lụt lớn.
Trận lũ năm 1984: Mưa lớn do hai đợt gió mùa Tây - Nam liên tiếp nhau
trong cuối tháng 8 đầu tháng 9 đã gây lũ lớn ở thượng trên sông Mekong. Lưu
lượng đỉnh lũ tại Kratie lên tới 62.600 m
3
/s. Lũ tại Tân Châu và Châu Đốc bắt đầu
lên vào đầu tháng 8, nhưng nhờ vào đợt lũ lớn thượng nguồn đã lên nhanh hơn và
đạt đỉnh thứ nhất là 4,44 m vào ngày 29/8 tại Tân Châu, sau đó lên xuống chậm
trong khoảng 7 - 10 ngày và lên trở lại để đạt đỉnh là 4,81 m vào ngày 13/9 tại Tân

thứ 11 về đỉnh tại Tân Châu, 15 về đỉnh tại Cần Thơ. Đỉnh lũ tại Tân Châu và Châu
Đốc không cao (thấp hơn lũ 1978 và 1984), duy trì mực nước trên 4,5 m chỉ có 20
ngày, ngắn nhất trong số các trận lũ lớn, song do gặp triều cường và mưa nội đồng
lớn nên gây ngập lụt rộng và sâu. Hướng thoát lũ trong năm 1984 đã bắt đầu có
những thay đổi so với trước đây do hệ thống bờ bao chống lũ tháng 8 và lũ chính vụ
phát triển mạnh ở An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Tiền Giang và Cần
Thơ, cùng mạng đường giao thông các cấp được làm mới và kiên cố dần.
Trận lũ năm 1994: Do mưa lớn và sớm ở thượng lưu nên lũ 1994 xuất hiện
khá sớm. Đỉnh lũ cao nhất năm tại Kratie là khoảng 61.500 m
3
/s, xảy ra ngày 6/8,
sớm chừng một tháng so với bình thường. Sau đó, lũ rút nhanh trong 20 ngày rồi lên
lại để đạt đỉnh thứ hai thấp hơn. Tại ĐBSCL, lũ năm 1994 cũng sớm hơn trung bình
gần một tháng. Từ 20/7, khi mực nước Tân Châu là 2,78 m và Châu Đốc là 2,3 m,
do lũ thượng nguồn về nhiều, lũ ở đồng bằng lên nhanh, đạt gần 4 m tại Tân châu và
3,25 m tại Châu Đốc vào ngày 13/8. Sau khoảng nửa tháng xuống chậm trên sông
Tiền và ít thay đổi trên sông Hậu, lũ tăng lên lại vào đầu tháng 9 và đạt đỉnh luõ cao
nhất năm vào ngày từ 03 - 05/10 tại Tân Châu là 4,53 m và Châu Đốc là 4,23 m.
Đỉnh lũ tại Tân Châu và Châu Đốc năm 1994 thấp hơn nhiều so với lũ những năm
khác, nhưng dạng lũ bẹt, duy trì lâu ở mực nước cao, lại trùng hai kỳ triều cường
nửa cuối tháng 9 và đầu tháng 10, khiến mực nước lũ ngoài sông và trong đồng ở
các vùng trũng ngập sâu hơn nhiều so với năm trung bình, vượt cả những năm lũ 9
lớn khác gần đây. Sự phát triển nông nhiệp ở vùng ngập lũ ĐBSCL đã tác động rõ
rệt hơn, không chỉ gây tăng đỉnh lũ mà còn làm thay đổi cả dạng và thời gian xuất
hiện lũ trong nội đồng.
Trận lũ năm 1996: Do ảnh hưởng của các hình thế thời tiết gây mưa lớn ở
vùng trung và hạ Lào từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, lũ lên cao ở vùng thượng

 Đây là trận lũ dạng 2 đỉnh lớn, là dạng lũ ít gặp (1978, 1984, ) ở ĐBSCL,
trong đó đỉnh thứ nhất trên dòng chính tại các trạm đầu nguồn đạt mức cao và sớm
lịch sử, đỉnh thứ 2 đạt mức cao nhất (tại Châu Đốc) hoặc đặc biệt cao (tại Tân
Châu) với 2 đỉnh xuất hiện cách nhau 51 ngày, lâu hơn những năm có lũ 2 đỉnh
khác khoảng 10 - 20 ngày, gây ngập lụt lâu nhất và sâu nhất trong 80 năm gần đây
tại ĐBSCL;
 Lũ lụt về sớm nhất lịch sử và các đỉnh lũ đều rất cao, trong đó đỉnh lũ vào
ngày 2/8 (4,22 m tại Tân Châu) cao hơn mực nước cùng kỳ trong các năm lũ lớn
(như 1961, 1966 và 1996) tới 1 - 1,5 mét và sớm hơn trung bình khoảng 1 tháng, 10
còn đỉnh lũ chính vụ vào cuối tháng 9 lớn nhất lịch sử ở Châu Đốc (490 cm) và rất
cao ở Tân Châu (506 cm).
 Diễn biến lũ lụt rất phức tạp, nằm ngoài tầm hiểu biết đã tích lũy được về lũ
lụt ở ĐBSCL. Từ đầu tháng 7, trên lưu vực sông Mekong đã xuất hiện trận lũ lớn và
sớm nhất trong hơn 45 năm qua. Tiếp theo, giữa và cuối tháng 7, lũ thượng nguồn
sông Mekong đạt đỉnh kép với tổng lượng lớn. Do đó, tại ĐBSCL vào giữa tháng 7
đã cao hơn 3,0 mét tại Tân Châu. Đầu tháng 8, đã xuất hiện đỉnh lũ thứ nhất: tại Tân
Châu là 4,22 m. Sau đó, do tác động của bão số 2 và số 4, mưa lớn diện rộng trên
nền lũ cao của tháng 7, đã làm xuất hiện trận lũ mới, thuộc loại lớn nhất trong hơn
80 năm gần đây trên lưu vực sông Mekong. Do lũ thượng nguồn sớm, tổng lượng
rất lớn, trong khi nền nước lụt đang rất cao, nên đã xảy ra một trận lũ lớn lịch sử tại
ĐBSCL. Trong 75 năm qua, chưa bao giờ có lũ lụt sớm, lớn, diện rộng, ngập sâu và
kéo dài ngày như trận lũ năm 2000. Nó đã gây ảnh hưởng rộng lớn và rất nặng nề về
người, tài sản và môi trường.
 Có thể nói rằng, nguyên nhân sâu xa gây nên trận lũ lụt lịch sử năm 2000 là
do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, của hiện tượng La Nina mạnh kéo dài (từ
năm 1999 đến hết năm 2000).
 Ngoài ra, tác động phi tự nhiên (của con người) thông qua những thay đổi rất

trường hợp duy nhất quan trắc được trong 50 năm gần đây. Đỉnh lũ thứ nhất tại Tân
Châu là 4,73 m vào ngày 3/9 và tại Châu Đốc là 4,45 m vào ngày 5/9; đỉnh thứ hai
tại Tân Châu là 4,78 m ngày 20/9, tại Châu Đốc là 4,48 m vào ngày 23/9. Đỉnh lũ ở
vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu tháng 10.
- Đặc biệt, do tác động kết hợp của lũ và triều rất cao (vào lúc đỉnh triều Vũng
Tàu mực nước lũ là 4,20 mét), và có thể do quy mô đắp đê bao sau trận lũ lịch sử
năm 2000 tăng đột biết ở vùng hạ lưu, nên đỉnh lũ tại vùng cuối nguồn đạt mức cao
nhất trong hơn 40 năm gần đây và cao hơn đỉnh lũ năm 2000: tại Mỹ Thuận, đỉnh lũ
là 1,83 m (năm 2000 là 1,8 m); tại Cần Thơ là 1,98 m (năm 2000 là 1,79 m). Thời
gian duy trì mực nước trên 4,5 m ở Tân Châu là 47 ngày, dài hơn so với lũ năm
2000.
- Lũ làm ngập sâu các vùng đầu nguồn, làm sạt lở nhiều công trình, đường
giao thông, bờ sông kênh, một số đê bao, bờ bao, Ngập vừa và ngập nông ở vùng
giữa và cuối nguồn. Ngập lụt ở Đồng Tháp Mười và ở TGLX đều thấp hơn so với lũ
năm 2000 từ 10 - 60 cm, đồng thời xuất hiện khá chậm so với thời gian xuất hiện
mực nước đỉnh ở Tân Châu và Châu Đốc.
- Lưu lượng trung bình ngày lớn nhất chảy vào ĐBSCL là 43.800 m
3
/s vào
ngày 4/9 và 20/9 (năm 2000 là 51.700 m
3
/s), trong đó lưu lượng lớn nhất qua Tân
Châu là 23.800 m
3
/s, qua Châu Đốc là 7.110 m
3
/s, qua biên giới vào Đồng Tháp
Mười là 11.100 m
3
/s, vào TGLX là 3.700 m

- Nhìn chung, các hướng chính thoát nước lũ, lụt từ ĐBSCL không có thay đổi
gì đáng kể so với trong các trận lũ lớn các năm trước, tuy mức độ thoát ở mỗi
hướng có khác biệt nhất định, ở một vài hướng có những thay đổi cơ bản so với
những nhận xét, đánh giá trước đây về khả năng thoát nước lụt từ ĐBSCL. Những
hướng chính là thoát lũ theo các dòng chính, về sông Vàm Cỏ và ra Biển Tây năm
2001.
- Dòng chính sông Tiền và sông Hậu, sau khi được phân phối lại theo các kênh
và sông Vàm Nao, thoát lượng nước lũ gần tương đương nhau ra biển. Lưu lượng
lớn nhất trên sông Tiền tại Mỹ Thuận trong lũ năm 2000 là 17.200 m
3
/s và trên sông
Hậu tại Cần Thơ là 17.700 m
3
/s. Lượng nước thoát theo sông Hậu lớn hơn theo
sông Tiền một chút, song nếu tính cả lượng nước thoát từ Đồng Tháp Mười qua QL
1A (đoạn An Hữu - Long Định) sau đó lại trở lại sông Tiền thì tổng lưu lượng thoát
theo sông Tiền vẫn lớn hơn theo sông Hậu.
- Lượng nước thoát theo sông Vàm Cỏ trong lũ năm 2001 nhỏ hơn trong lũ
năm 2000 không nhiều, chứng tỏ lũ thoát theo sông Vàm Cỏ khá thuận lợi. Lượng
nước lũ từ Đồng Tháp Mười thoát trở lại sông Tiền trên đoạn QL 30 trong năm
2001 tuy nhỏ hơn trong lũ năm 2000 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các
hướng thoát. Cơ chế điền nước trong nội đồng cấu thành từ mạng ô đồng giới hạn
bởi các bờ bao, đường giao thông có cao trình vượt lũ năm 1996 hoặc 2000 và việc
xây dựng, cải tạo các kênh, bơ bao, cầu cống trên vùng nằm dưới QL 1A, QL 30 là
nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tỷ lệ phân phối lượng nước vào/ra Đồng Tháp
Mười.
- Cân bằng nước ở TGLX vẫn như trong các trận lũ lớn trước đây. Tổng lưu
lượng lớn nhất ngày thoát từ TGLX trong lũ chính vụ năm 2001 nhỏ hơn trong lũ
năm 2000. Tỷ lệ phân bố giữa các hướng về cơ bản tương tự như trong lũ lụt năm
2000, chứng tỏ các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX đã hoạt động khá ổn định

như sau:
 Mưa lớn và sớm đã làm cho lũ ở trung và hạ lưu sông Mekong liên tục tăng.
Đến nửa cuối tháng 8, lũ đạt đỉnh cao nhất năm (ở mức tương đương đỉnh lũ năm
2000, riêng tại Viên Chăn đạt 12,6 m (đứng thứ 2 sau đỉnh lũ năm 1966) tại trạm
Kratie - đạt đỉnh 22,49 mét, thấp hơn đỉnh lũ năm 2001 khoảng 0,4 m, đứng thứ 4
sau đỉnh lũ các năm năm 1978, 1996, 2000 và 2001).
 Dòng chảy lũ năm 2002 chủ yếu được hình thành từ phần lưu vực thuộc Lào
và Tây Nguyên Việt Nam, chiếm tới 60% tổng lượng lũ tại Kratie (tổng lượng lũ từ
tháng 6 - 10 là gần 456 tỷ m
3
, đứng thứ 4 kể từ năm 1939 đến nay, sau lũ năm 1961,
2000, 2001).
 Do mưa ở vùng lưu vực Biển Hồ thuộc Campuchia và ở ĐBSCL tương
đương với TBNN, đặc biệt là trong tháng 9 cao hơn khá nhiều với TBNN và tổng
lượng mưa cao hơn nhiều so với năm 2001, nên khả năng cắt đỉnh lũ của Biển Hồ
kém hơn năm 2001: mặc dù đỉnh lũ năm 2000 tại Kratie thấp hơn năm 2001 gần 0,5
m, nhưng lũ 2002 tại PhnômPênh đạt đỉnh tương đương lũ năm 2001. 14
 Tại ĐBSCL, lũ năm 2002 thuộc loại đặc biệt lớn, sớm và lũ 2 đỉnh cao
(tương tự như lũ 1978 và 2001). Vào ngay từ đầu tháng 7, lũ sớm và lớn đã tràn về,
tạo sức ép lớn lên khu vực đầu nguồn vùng ĐBSCL. Nhất là cuối tháng 8 đến đầu
tháng 10 lũ uy hiếp liên tục, làm nên trận lũ hai đỉnh thuộc loại đặc biệt lớn và ít
gặp ở ĐBSCL. Nước lên rất nhanh vào đầu tháng 7 và giữa tháng 8, lớn nhất tới 25
cm/ngày ở vùng đầu nguồn, nhiều ngày lũ lên 30 - 35 cm/ngày, thậm chí có ngày
lên tới 0,43 m tại Tân Châu đầu tháng 7 là trường hợp hiếm thấy lần ở ĐBSCL.
 Đỉnh lũ thứ nhất tại Tân Châu là 4,6 m vào ngày 29/8 và tại Châu Đốc là
4,17 m vào ngày 1/9; đỉnh thứ hai tại Tân Châu là 4,82 m ngày 30/9, tại Châu Đốc
là 4,42 m vào ngày 23/9. Đỉnh lũ ở vùng nội đồng xuất hiện vào cuối tháng 9, đầu

15
kỳ triều cường (trong đó tại Vũng Tàu, đỉnh triều là 4,27 mét, ngày 8/10 - thuộc loại
đặc biệt cao), nên nước lũ lụt khó thoát hơn, gây ngập sâu và diện rộng hơn, nhất là
vùng cuối nguồn: Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Lức, Mỹ Tho, Bến Tre.
 Đánh giá vai trò hệ thống kênh ngang và dọc ở ĐBSCL trong trận lũ năm
2002:
- Trong vùng TGLX, các kênh dọc và ngang đều đóng vai trò tích cực: hiệu
quả dẫn nước trong, ít phù sa từ biên giới thoát nhanh ra Biển Tây tăng lên nhiều
(lớn nhất kênh T5, Trà Sư, Tha La, sau đó là kênh T6, T4, T3, ) bởi các kênh dọc.
Cùng với quá trình đó là sự gia tăng lượng nước sông Hậu nhiều phù sa theo các
kênh ngang trên đoạn Châu Đốc - Long Xuyên.
- Trong vùng Đồng Tháp Mười, các kênh dọc đưa nước từ Campuchia vào
đồng và ra sông Vàm Cỏ, trong khi các kênh ngang khi lũ lên cao cũng chảy ra sông
Tiền (hướng thống trị từ giữa tháng 8 là chảy ra sông Tiền, khác với hướng dẫn
nước vào đồng như trước đây). Nước thoát mạnh nhất là qua cầu Phong Mỹ, Cần
Lố, Đốc Vàng Hạ, Trà Lọt, Cổ Cò và nhiều kênh khác cắt qua QL 1A. Các kênh
ngang cũng có tác dụng dẫn nước lũ sang phía Vàm Cỏ.
- Mức độ dẫn nước vào Đồng Tháp Mười và TGLX và thoát nước ra trong lũ
sớm và lũ chính vụ nhìn chung tương tự như trong lũ năm 2000.
 Yếu tố triều tác động mạnh hơn và thường tạo đỉnh lớn nhất năm khi lũ bắt
đầu rút lại gặp triều đang cao. Quá trình mực nước có dạng dao động triều khá rõ.
Biên độ dao động từ 2,5 - 3,0 m ở vùng ven biển, giảm còn 0,4 - 0,6 m ở khu giáp
vùng lũ - triều. Ven biển, triều hoàn toàn chiếm ưu thế và mực nước cao nhất thuần
tuý do triều. Chênh lệch mực nước giữa các nơi không nhiều. Mực nước cao nhất
trong vùng đạt từ 1,7 - 2,2 m. Do hệ thống kênh rạch phát triển, triều đã ảnh hưởng
mạnh hơn đến vùng thứ 2, tác động nhất định đến quá trình nước rút.
2.2.2.2 Phân vùng ngập lụt ở ĐBSCL
Vùng ngập, độ sâu và thời gian ngập lụt là những đặc trưng chính phản ánh
tình trạng ngập lụt ở ĐBSCL. Ngập lụt tại ĐBSCL do nhiều yếu tố (lũ thượng
nguồn, điều tiết của Biển Hồ, cơ sở hạ tầng, thủy triều và các biện pháp công trình

và do triều là chính. Những vùng ngập do mưa là các vùng đất thấp, nằm giáp ranh
giữa vùng ngập do lũ và vùng bị tác động của triều, cao trình mặt đất thường chỉ từ
0,2 m đến 0,6 m, tiêu thoát nước kém. Ngay giữa mùa mưa lũ, gặp triều cường và
mưa lớn kéo dài, diện tích ngập có thể lên đến 700 ngàn ha, gồm cuối vùng Cái Sắn
- Xà No, trung tâm bán đảo Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ, hạ lưu ven Vàm
Cỏ Tây như Bo Bo, Bắc Đông, Bà Bèo, ven Vàm Cỏ Đông như Đức Hoà, Xuân
Khánh, Nơi có biên độ triều ngay trong mùa mưa lũ chỉ vào khoảng 0,3 - 0,5 m
nên tiêu thoát nước rất khó khăn.
 Vùng ngập do triều nằm rải rác ven bờ Biển Đông, là các vùng trũng thấp
xen kẽ các giồng cát cao ven biển hay các vùng đất mới lấn ra biển, cao độ dưới 0,4
m, như các vùng cửa sông Vàm Cỏ, ven biển Trà Vinh, vùng cửa sông Mỹ Thanh,
Gành Hào, vùng mũi Cà Mau, cửa sông Ông Đốc, Thường bị ngập vào kỳ triều
cường, ngập sâu hơn khi có mưa lớn nội đồng vào cuối mùa (tháng 10 - 11). Diện
tích ngập triều ở ĐBSCL vào khoảng 200 - 300 ngàn ha.
Theo thời gian ngập lụt có thể phân ĐBSCL làm 4 vùng ngập chính:
 Vùng ngập lâu và ngập rất sâu: Ngập lũ trên 2,0 m, kéo dài từ 3 - 5 tháng,
trung bình là 3,5 - 4,0 tháng liên tục, từ tháng 8 - 11. Ranh giới vùng ngập sâu, ngập
lâu ở Đồng Tháp Mười là biên giới, bờ sông Tiền, kênh Đồng Tiền và kênh Phước 17
Xuyên; vùng kẹp giữa hai sông Tiền - Hậu trên Vàm Nao; ở TGLX là vùng từ biên
giới về bờ sông Hậu và kênh Mạc Cần Dưng.
 Vùng ngập lâu và ngập sâu trung bình: Ngập sâu từ 1,0 - 2,0 m, kéo dài 3 - 4
tháng, từ tháng 8 - 11, một số vùng thấp từ tháng 9 - 12. Vùng ngập lâu và ngập sâu
trung bình giới hạn ở phía trên là vùng ngập rất sâu, phía dưới là kênh Nguyễn Văn
Tiếp, kênh 12 và sông Vàm Cỏ Tây ở Đồng Tháp Mười; là rạch Cái Tàu Thượng ở
vùng kẹp giữa hai sông; là tuyến đường Long Xuyên - Thoại Sơn - Tri Tôn
ở TGLX.
 Vùng ngập lâu nhưng ngập nông: Ngập sâu từ 0,5 m đến 1,0 m, thường kéo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status