Đề cương hành chính học đại cương1 - Pdf 30

Đề cương hành chính học đại cương
Chương 1:
Câu1:Chứng minh “quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt”.Phân biệt quản lý nhà nước
và hành chính nhà nước?.
1.Quản lý hành chính nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt:
1.1.Một số nhà nước và quản lý nhà nước
Nhà nước là một sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được và là một
sản phẩm của xã hội có giai cấp.Nhà nước CHXHCN Việt Nam ra đời là một tất yếu khách
quan của quá trình cách mạng Việt Nam.Quan điểm xuyên suốt thời kì xây dựng và phát triển
đất nước là xây dựng nhà nước của dân,do dân và vì dân;mọi quyền lực thuộc về nhân dân và
quyền lãnh đạo thuộc về Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người có nhiều quan điểm,học thuyết khác nhau về nhà
nước.Nhà nước theo chủ nghĩa Mác-Ăngghen và Lênin là sản phẩm của giai cấp tranh đấu và là
dụng cụ để đấu tranh và thống trị xã hội.
Trên cơ sở những quan điểm khác nhau về nhà nước và quyền lực nhà nước,vấn đề tổ chức bộ
máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng cơ bản của nhà nước cũng rất khác nhau giữa các
nước và khác nhau từng thời kì.
Tổ chức bộ máy nhà nước là sự phân công thực thi các loại quyền lực nhà nước.Quyền lực nhà
nước được phân chia thành 3 nhóm: lập pháp,hành pháp và tư pháp.Việc thực thi 3 quyền đó
tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể.Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam,quyền lực nhà nước là
thống nhất,tập trung,không phân chia nhưng có sự phân công phân phối thực thi 3 nhóm quyền
lực nhà nước.Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và quốc hội là cơ quan duy nhất
có quyền lập hiến và lập pháp;chính phủ và chính quyền địa phương các cấp và hệ thống các cơ
quan thực thi quyền hành pháp;hệ thống tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan
tư pháp.
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan quyền lực nhà
nước hay các cơ quan quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước cũng là một dạng của quản lý nói chung.Quản lý là sự tác động một cách có
tổ chức của chủ thể ( nhà quản lý,chủ thể quản lý ) vào một đối tượng nhất định nhằm điều
chỉnh các hành vi,hoạt động của con người,nhóm con người và tổ chức (đối tượng quản lý) để
duy trì trật tự ổn định và phát triển của tổ chức theo những mục tiêu trước đó đề ra.

các cấp chính quyền địa phương không có hệ thống lập pháp (trừ nhà nước liên bang).Đồng
thời hệ thống các cơ quan tư pháp là hệ thống độc lập không phụ thuộc vào cấp chính quyền địa
phương.Do đó hệ thống cơ quan hành pháp được xác định bao gồm:hệ thống các cơ quan đại
diện của cộng đồng nhân dân ở địa phương (hội đồng)và các cơ quan chấp hành của hội đồng).
Trong điều kiện thể chế nhà nước Việt Nam,thuật ngữ hành chính hẹp hơn thuật ngữ hành
pháp.
Theo Hiến pháp,luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân từ trước đến nay-Luật tổ
chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân 2003,có sự phân biệt giữa hệ thống thực thi quyền
hành pháp và hành chính. “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,đại
diện cho ý chí,nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân,do nhân dân địa phương bầu ra
,chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan cấp trên”.Trong khi đó ủy ban nhân
dân là do hội đồng nhân dân bầu,chịu trách nhiệm trước hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ
quan nhà nước cấp trên.
Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp,luật,văn bản các cơ quan nhà nước cấp
trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương,biện
pháp phát triển kinh tế-xã hội,củng cố quốc phòng an ninh và thực hiện các chính sách khác
trên địa bàn.
Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương,góp phần bảo đảm sự chỉ
đạo,quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.
Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng hội đồng nhân dân không có quyền hạn
lập pháp,mà chỉ căn cứ vào hiến pháp,luật và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
cấp trên để đưa ra các nghị quyết cụ thể triển khai các văn bản quy phạm pháp luật đó phù hợp
với địa phương.Hiến pháp,luật tổ chức chính phủ cũng xác định cách thức đối với chính
phủ.Theo hiến pháp,luật tổ chức chính phủ,chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất và cơ quan hành chính cao nhất.
2.Phân biệt quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,hành pháp và tư pháp
nhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước,ta thấy hoạt động quản lý nhà nước và hành
chính nhà nước có những điểm khác nhau sau đây:
*Về quản lý nhà nước:

đó là căn nguyên cắt nghĩa hiện tượng phân quyền tải quyền trong thực tiễn hcc ngày nay. mặt
khác, cp thực hiện nhiều loại công việc khác nhau trong đó không ít việc là phức tạp, có phạm
vi ảnh hưởng lớn. mọi sự sai phạm có thể đưa đến các hậu quả về chính trị kinh tế xã hội nên
hcc không thể do một cá nhân tiến hành mà phải do một tập thể đảm trách. đó là cơ sở để có
nền hcc hoạt động bền vững là tiền đề để có quyết định đúng. hcc không có mục đích tự thân.
hcc hoạt động trong ánh sáng rực rỡ của đời sống dân chúng. mọi quyết định của hcc chịu tác
động của áp lực xã hội và hướng đến thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân. nhưng việc đáp
ứng nhu cầu của dân chúng không phải hcc có thể tuỳ tiện thực hiện tổ chức mà trên cơ sở
chính sách chính trị. nói hcc là một giai đoạn của chu trình chính sách chính là nói đến tính lệ
thuộc của hcc vào chính trị hoạch định ra. chính sách do chính trị hoạch định ra có đi vào cuộc
sống hay không chính là phụ thuộc vào hiệu lực hiệu quả hoạt động của hcc.
Từ góc độ pháp lý mà tiếp cận , hcc được quan niệm là luật trong hành động, hcc là hoạt động
tập quy; hcc là “sự ban ơn của vua” và hcc là “kẻ ăn trộm”. do đặc thù pháp lý, hcc đã được
nhìn nhận ngay là nơi hiện thực hoá luật. hcc tổ chức quản lý đời sống trên cơ sở luật và để
thực hiện luật. các mục tiêu chính sách quốc gia không có hoạt động của hcc không trở thành
sản phẩm cụ thể trong đời sống xã hội. hcc đem đến sức sống cho chính sách pháp luật. tuy
nhiên, để thực hiện vai trò chức năng của mình hcc không thể bị động chỉ giản đơn thực hiện
các luật mà phải tiến hành các hoạt động lập quy ban hành các văn bản dưới luật. Hoạt động lập
quy vừa nhằm cụ thể hoá luật vừa có thể đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội khi chưa có luật điều
3
chỉnh các vấn đề mới nảy sinh trong đời sống quản lý. một điều đặc biệt trong cách tiếp cận
pháp lý về hcc là hcc có nghĩa tương đồng với sự ban ơn của vua và là kẻ ăn trộm. “sự ban ơn
của vua” chính là muốn nói đến hcc không có mục đích tự thân chỉ nhằm phục vụ xã hội. sự
ban ơn của vua có thể nhìn nhận trên cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. ở khía cạnh tích cực
đó là những phúc lợi công cộng mà hcc đưa lại cho người dân ở khía cạnh tiêu cực điều đó hàm
ý thái độ ban ơn bố thí của hcc đối với dân chúng tính thiếu chuẩn mực trong hoạt động của
hcc. hcc là “kẻ ăn trộm” cũng là cách nhìn về hoạt động hcc mang nhiều nghĩa tiêu cực. một
nền hcc rất có thể đánh cắp cơ hội phát triển của cá nhân, giai cấp cộng đồng và cả quốc gia,
đánh cắp quyền, lợi ích của công dân, sử dụng đóng góp của dân chúng không hợp pháp hợp lý
không đáp ứng được mong đợi của dân chúng đối với hcc.

pháp của nhà nước, là hoạt động chấp hành và điều hành trong khuôn khổ pháp luật do bộ máy
hcnn thực hiện để thực hiện chức năng nhiệm vụ nhà nước duy trì trật tự pháp luật và phát triển
cao các mối quan hệ xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ công
bằng văn minh.
Câu 3:Bằng các ví dụ cụ thể,anh/chị hãy cho thấy những điểm khác biệt giữa hành chính công
và hành chính tư.
4
Khái niệm hành chính công xuất hiện và được sử dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát
triển mạnh,nơi mà khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.Hành chính công là một khái niệm
dùng để phân biệt với “hành chính tư”.Sự khác nhau căn bản ở đây nằm ở hai khái niệm
“công”và “tư”,nhưng càng ngày hai khái niệm hành chính công mới đáp ứng được,hay hình
thức liên doanh ngày càng được áp dụng và nó đã đạt được hiệu quả cao nên việc phân biệt
hành chính công và hành chính tư ngày càng trở nên khó khăn.Tuy vậy,nó vẫn có những điểm
khác nhau mang tính nguyên tắc,đó là:
-Mục tiêu hoạt động:Đặc điểm bất kì một cơ quan hành chính công nào là hoạt động vì mục
đích công cộng,lợi ích của cộng đồng,trong khi đó mục tiêu chủ yếu của hành chính tư là lợi
nhuận,phục vụ mọi người vì mục tiêu lợi nhuận.
Ví dụ:Một chính phủ được thành lập ra,hoạt động vì mục đích quản lý chung cho xã hội,điều
hòa lợi ích của các cộng đồng,có nghĩa là chính phủ hoạt động vì lợi ích của cả đất nước chứ
không vì lợi ích của một tổ chức cá nhân nào.Nhưng một công ty do tư nhân lập ra,nó tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh,cung cấp dịch vụ cho cộng đồng người không vì lợi ích của
người tiêu dùng hay của cộng đồng mà là vì lợi nhuận do hoạt động này đem lại cho họ.
-Tính chính trị:Hành chính công vì tính chất chính trị của tổ chức,trong mọi hoạt động của
mình hành chính công luôn mang màu sắc chính trị và bị các mục tiêu chính trị cho phối,gây
ảnh hưởng.Nhưng hành chính tư lại không hề có màu sắc chính trị,nó hoạt động mà không hề bị
tác động bởi một động cơ chính trị nào.
Ví dụ:Chính phủ hoạt động trên những nguyên tắc,mục tiêu mà Đảng chính trị đã lập ra Chính
phủ,nghĩa là hoạt động của Chính phủ phải nằm trong khuôn khổ đường lối của Đảng đề ra và
luôn mang màu sắc chính trị.Ngược lại hành chính tư của một công ty chỉ bị chi phối bởi lợi
nhuận,họ không bị đường lối chính trị nào lôi kéo,họ đứng bên lề của các mục tiêu chính trị,họ

động tự có.
Ví dụ:Chi phí tài chính của hệ thống hành pháp Hoa Kỳ gấp 10 lần chi phí tài chính của 5 tập
đoàn lớn nhất ở Hoa Kỳ.
-Chủ thể và khách thể của hành chính công và hành chính tư khác nhau .Chủ thể của hành
chính công là các cơ quan,các cá nhân được ủy quyền và các chủ thể này có những đặc điểm là
mang tính quyền lực nhà nước,hoạt động rộng khắp trên các mặt của đời sống xã hội,quản lý
thông qua các quyết định hành chính và hành vi hành chính.Còn hành chính tư chủ thể có thể là
các cá nhân hay tổ chức đứng ra thành lập tổ chức đó,chủ thể này chỉ có quyền lực tổ chức,chỉ
có quyền quản lý trong phạm vi tổ chức,họ có thể quản lý tổ chức bằng nhiều biện pháp và hình
thức mà pháp luật cho phép.
Ví dụ:Chủ thể quản lý của hành chính công là cơ quan nhà nước,Chính phủ hoạt động trong tất
cả các mặt của đời sống xã hội,còn công ty chỉ quản lý mặ sản xuất kinh doanh mà mình đăng
kí,chủ thể là giám đốc công ty hay hội đồng quản trị.
-Yêu cầu đối với đội ngũ những người tham gia hoạt động :Kỹ năng cần có đối với hành chính
lớn hơn rất nhiều so với nhà điều hành doanh nghiệp.
Ví dụ:Trong nền hành chính công kỹ năng lãnh đạo coi là kỹ năng cốt yếu trong điều hành
doanh nghiệp lại là kỹ năng quản lý.
Câu 4:Anh/chị hãy phân tích những đặc trưng cơ bản của hành chính công.Liên hệ thực tiễn
hoạt động hành chính công ở Việt Nam để làm rõ những đặc trưng đó.
Những đặc trưng cơ bản nền hành chính nhà nước:
-Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị:Nền hành chính trước hết là phục vụ chính
trị,thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực nhà nước quyết định.Hành chính
nhà nước là trung tâm thực thi các quyết định của hệ thống chính trị.
Nền hành chính Việt Nam luôn thực hiện các nhiệm vụ do Đảng Cộng sản và nhà nước Việt
Nam đề ra,ở đây nền hành chính mang đầy đủ bản chất của nhà nước Việt Nam-Nhà nước của
dân,do dân và vì dân,hành chính nhà nước ở nước ta là yếu tố cấu thành hệ thống chính
trị.Trong hoạt động thực thi quản lý Nhà nước,hành chính nhà nước là yếu tố quan trọng quá
trình hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước cả hệ thống chính trị.
-Tính pháp quyền:Là phải đảm bảo nền hành chính hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật
nhà nước.Mọi hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật và hành chính là thực thi quyền lực nên

thuộc.Các cơ quan ở địa phương phải sự quản lý và kiểm tra của các cơ quan trung ương,bên
cạnh đó các cơ quan chuyên môn phải chịu sự quản lý song trùng.
-Tính không vụ lợi:Hành chính nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích công
dân.Mọi hoạt động trong bộ máy hành chính nhà nước đều mag tính chất phục vụ chứ không
theo đuổi mục đích lợi nhuận.Vì vậy hành chính phải hoạt động vô tư,tận tâm,trong sạch.
Tại Việt Nam nền hành chính phục vụ hết mình cho công dân,nó không hề vụ lợi và ngày nay
đang đấu tranh để làm cho nền hành chính Việt Nam ngày càng trong sạch và vì lợi ích cộng
đồng hơn nữa.
-Tính nhân đạo:Xuất phát từ bản chất nhân đạo của nhà nước xã hội chủ nghĩa.Vì vậy tất cả các
hoạt động của nền hành chính đều vì con người và phục vụ cộng đồng,tôn trọng quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân,không gây phiền hà cho nhân dân.Hoạt động quản lý mang tính
thuyết phục là chính,sự cưỡng bức chỉ là biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo để mọi vi phạm
phải được xử lí chứ không thể chỉ dùng nhằm trừng phạt.
Nhà nước Việt Nam có bản chất là nhà nước của nhân dân,do nhân dân và vì dân,vì vậy tôn
trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phát điểm của hệ thống luật,thể chế
quy tắc,thủ tục hành chính.Các công chức không được quan liêu.cửa quyền,hách dịch,gây phiền
hà cho dân khi thực hiện công vụ.Mặt khác hiện nay chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị
trường nên nền hành chính càng đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mặt trái của nền kinh
tế thị trường,thúc đẩy kinh tế-xã hội bền vững.
Câu 5:Nguyên tắc hoạt động của hành chính công được thể hiện trong điều kiện cụ thể ở Việt
Nam như thế nào?
Nguyên tắc hoạt động là những tư tưởng chỉ đạo nền tảng cơ bản của một tổ chức,trong hoạt
động quản lý các nhà quản lý đều phải tìm kiếm các nguyên tắc cần thiết nhằm đảm bảo hiệu
quả hoạt động của tổ chức.
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam,trong hoạt động quản lý nhà nước trên cơ sở nguyên tắc chỉ
đạo đã được khẳng định qua thực tiễn cách mạng Việt Nam là “Đảng lãnh đạo,nhân dân làm
7
chủ và nhà nước quản lý”và có sự nghiên cứu,áp dụng các thành tựu của hành chính học và
kinh nghiệm hoạt động của nhiều nền hành chính trên thế giới,có thể đúc kết và rút ra các
nguyên tắc sau đây của nền hành chính Việt Nam:

hành chính nói riêng không thực hiện chức năng kinh doanh và không can thiệp trực tiếp vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị.Nhưng bên cạnh đó bộ máy nhà nước vận dụng
sáng tạo và kết hợp đúng mức những nguyên tắc quản lý kinh doanh vào các hoạt động hành
chính nhà nước về dịch vụ công cộng.Và cũng là để nâng cao tính tự quản,khuyến khích các
đơn vị kinh doanh có hiệu quả,phát huy sáng tạo của công dân thì nên tách đơn vị này ra khỏi
nền hành chính.
-Nguyên tắc kết hợp chế độ làm việc tập thể với chế độ một thủ trưởng:ở nước ta hiện nay đang
tồn tại 2 loại hình cơ quan.Một là cơ quan thẩm quyền chung hoạt động theo chế độ tập thể,các
cơ quan này phải đảm bảo việc tập thể thực sự,tránh việc dân chủ và tập thể hình thức.Hai là cơ
quan thẩm quyền riêng hoạt động theo chế độ một thủ trưởng quyết định,đối với loại cơ quan
này thì thủ trưởng cơ quan phải biết phát huy sức mạnh tập thể và phong cách làm việc dân chủ.
Chương 2:
Câu 6:Thể chế hành chính nhà nước là gì?Các bộ phận cấu thành thể chế hành chính nhà nước.
8
-Khái niệm:
Thể chế nhà nước là toàn bộ các văn kiện,bộ luật, luật,văn bản dưới luật để tạo thành khuôn khổ
pháp luật để bộ máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với toàn xã hội để cá
nhân tổ chức sống và làm việc theo pháp luật.
- Các yếu tố cấu thành nền hành chính NHÀ NƯỚC .
* Hệ thống thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
- Theo nghĩa rộng: Là một cấu trúc tổng thể của các yếu tố tiến hành hoạt động của một tổ
chức bao gồm cả tổ chức bộ máy với những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, quy tắc
hoạt động buộc các thành viên trong tổ chức phải chấp hành và thậm chí cả hoạt động của các
thành viên của tổ chức. Như vậy, thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC bao gồm trong đó cả hệ
thống cơ quan NHÀ NƯỚC và cơ chế hoạt động của các cơ quan này.
- Theo nghĩa hẹp: Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC chỉ bao gồm các quy định, chế tài (có
thể được ban hành hoặc Không ban hành) tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động của 1 tổ
chức nào đó. Như vậy, thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là toàn bộ các quy định, quy tắc
do NHÀ NƯỚC ban hành để điều chỉnh các hoạt động Quản lý HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC,
tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các hoạt động của cơ quan quản lý HÀNH CHÍNH NHÀ

là tất cả những trang thiết bị vật chất bao gồm công sở, trang thiết bị làm việc và các nguồn lực
tài chính công khác cần thiết để tiến hành hoạt động quản lý HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
Như vậy, các yếu tố cấu thành nền hành chính NHÀ NƯỚC , giúp cho hoạt động quản lý, điều
hành bộ máy NHÀ NƯỚC một cách thông suốt, hiệu quả. Ngoài ra, để đạt hiệu quả cao thì các
bộ phận trên cần liên kết một cách khoa học, lôgíc.
Câu 7:Thể chế hành chính có vai trò như thế nào trong hoạt động quản lý nhà nước?
Vai trò của thể chế HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC.
1.Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của nền HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC.
Hoạt động quản lý của các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC là sự tác động của quyền lực
NHÀ NƯỚC đến các chủ thể trong xã hội: công dân và tổ chức, thể nhân hay pháp nhân, công
pháp hay tư pháp (công quyền) mang đặc trưng cưỡng bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục.
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC phải hợp pháp và đòi hỏi công dân, tổ chức xã hội phải thực hiện
pháp luật.
- Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC với một hệ thống pháp luật (bao gồm Luật, các văn bản
pháp quy dưới Luật) do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành chính là cơ sở pháp lý
cho các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, các cấp thực hiện quản lý, bảo đảm thống nhất
quản lý Nhà nước trên phạm vi quốc gia.
- Hệ thống văn bản luật ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, hoàn thiện. Nhà nước ngày càng
hướng đến một Nhà nước dân chủ hiện đại, pháp quyền với ý nghĩa đầy đủ của nó thì tính hiệu
lực của các thể chế Nhà nước và các thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ngày càng được
nâng cao.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực của pháp luật là một yếu tố đảm bảo cho hệ
thống HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC quản lý tốt đất nước theo hướng Nhà nước quản lý Nhà
nước bằng pháp luật và mọi công dân, mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hội bình đẳng
trước pháp luật.
2.Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC là cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy
quản lý Nhà nước.
Một trong những vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý hành chínhNHÀ NƯỚC ở mọi quốc
gia là vấn đề quyền lực và sự phân chia, phân công thực thi quyền lực đó giữa các cơ quan
NHÀ NƯỚC cũng như giữa các cấp chính quyền NHÀ NƯỚC .

NHÀ NƯỚC để huy động cao nhất mọi khả năng của các chủ thể trong hoạt động quản lý là
một trong những vấn đề và là nội dung quan trọng của thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
3.Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC là cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC.
Yếu tố con người trong các tổ chức nói chung và trong các cơ quan HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Con người trong bộ máy đó có thể được đặt
vào các vị trí khác nhau.Về cơ bản có 3 loại:
- Những người có quyền ban hành các quyết định quản lý (các văn bản pháp luật) bắt buộc XÃ
HỘI , cộng đồng phải chấp nhận và thực hiện (công quyền).
- Những người trong bộ máy thực hiện chức năng tư vấn giúp cho những nhà lãnh đạo ban hành
quyết định (tham mưu, giúp việc).
- Những người thực thi các văn bản pháp luật, các thể chế, các thủ tục của nền hành chính (công
lực).
Nếu như chức năng, nhiệm vụ không được xác định một cách rõ ràng, khoa học thì khó có thể
bố trí hợp lý được từng người vào các chức vụ cụ thể. Thể chế HÀNH CHÍNH không cụ thể,
khoa học sẽ không thể bố trí được cán bộ, công chức hành chính vào đúng vị trí, những người
có năng lực, có trình độ không được bố trí đúng vị trí trong khi đó có thể bày ra quá nhiều đơn
vị với chức năng, nhiệm vụ chồng chéo hoặc quá vụn vặt để có đủ chỗ bố trí cán bộ một cách
lãng phí.
Thể chế HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC được hiểu rõ, quy định cụ thể chức năng quản lý hành
chính và quyền ban hành và giải quyết các đề nghị yêu cầu, khiếu nại tố cáo của công dân từ đó
có thể xác định rõ hệ thống các hoạt động cụ thể: Ai phải làm cái gì, được trao quyền gì và phải
làm như thế nào, do đó có thể bố trí được đội ngũ nhân sự hợp lý.
• 4.Thể chế hành chính nhà nước là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa nhà nước với công
dân và tổ chức trong xã hội;
• Nhà nước hiểu theo nghĩa hiện đại không có nghĩa chỉ thực hiện chức năng cai trị mà
ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò dịch vụ. Công chức trong bộ máy HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC không chỉ là người có quyền mệnh lệnh mà còn là “công bộc” của dân, người đầy tớ
của dân. Các tổ chức và công dân đòi hỏi NHÀ NƯỚC ban hành các quyết định, tổ chức thực
hiện các quyết định để đáp ứng các loại yêu cầu của dân.

quan hệ giữa công dân, các tổ chức xã hội đối với Nhà nước.
-Cải cách việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân với cán bộ, công chức trong bộ
máy HÀNH CHÍNH NHÀ Nước và các tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.
-Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế mới đặc biệt là các thể chế về tài chính.
-Đổi mới quy trình lập pháp lập quy ban hành các văn bản pháp luật Nhà nước.
-Nâng cao kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật
Cải cách hệ thống thể chế của nền hành chính là một công việc khó khăn, phức tạp vì nó động
chạm đến hệ thống thể chế HÀNH CHÍNH cũ, tức là động chạm đến lợi ích cục bộ, bản vị của
cá nhân, của cơ quan Quản lý HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC với cung cách quản lý điều hành
của cơ chế bao cấp, thiếu kỷ luật, kỷ cương. Nhưng công cuộc đổi mới của đất nước ta đang đặt
ra những đòi hỏi phải cải cách hệ thống HÀNH CHÍNH NHÀNƯỚC trong đó cải cách thể chế
là một bộ phận cơ bản nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội của sự phát triển nền kinh tế thị
trường, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của sự hoàn thiện nền dân chủ XÃHỘI
HÀNH CHÍNH , của đòi hỏi về sự hội nhập khu vực và quốc tế.
Câu 8:Khi xây dựng tổ chức bộ máy hành chính cần tính đến những yếu tố cơ bản nào?
thể chế hcnn có tính bao quát các mặt chính trị kinh tế, xã hội…. bản thân hệ thống hcnn là một
bộ phận của thể chế nhà nước. xét trên quan điểm triết học thể chế hcnn là một bộ thành tố của
kiến thức thượng tầng. và như vậy, thể chế hcnn tất yếu chịu sự chi phối, quyết định của thể chế
12
cơ sở hạ tầng và có mối liên hệ tác động qua lại đối với các thành tố khác của kiến trúc thượng
tầng. trong điều kiện việt nam xây dựng thể chế hcnn cần quan tâm đến các yếu tố cơ bản .
1.chế độ chính trị
trong xã hội hiện đại không một nhà nước nào không dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị.
quan điểm các quyết sách của đảng cầm quyền có ý nghĩa quyết định trong tổ chức bộ máy nhà
nước và bản chất của hệ thống pháp luật. chế độ chính trị được thể hiện trong hệ thống chính trị
xhcn . do đó việc xây dựng thể chế hcnn phải thể hiện đầy đủ vai trò của các yếu tố cấu thành
hệ thống chính trị .
2.trình độ phát triển của xã hội
thể chế hcnn là cơ sở pháp lý của hoạt động qlnn . thể chế hcnn hoàn thiện có vai trò quan trọng
đối với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước . nhưng muốn có thể chế hcnn hoàn thiện thì trong

năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau, quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể
13
thống nhất, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, qua đó thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ chung của Nhà nước.
Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của Bộ máy nhà nước, có thể là một tập thể
người (QH, HĐND, UBND ) 1 người (Chủ tịch nước), được thành lập và hoạt động theo quy
định pháp luật nhằm tham gia thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của nhà nước.
2.Đặc trưng của bộ máy hành chính nhà nước:
Gồm nhiều bộ phận (là tổng thể các cơ quan nhà nước), tác động lẫn nhau và phối
hợp vận hành:
 Cơ quan quyền lực nhà nước (QH, HĐND): Lập pháp, lập qui, quyết định các
vấn đề quan trọng nhất
 Cơ quan hành pháp (CP, UBND các cấp) là CQ chấp hành và điều hành.
 Cơ quan hành pháp, tư pháp: được bầu ra, báo cáo công tác trước QH,
HĐND, chịu sự giám sát …
Dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực, chức năng, nhiệm vụ để tạo ra sự đồng bộ,
hài hòa (quyền lực nhà nước là thống nhất, có phân công, phối hợp hài hòa giữa các cơ
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Việc tổng kết thi hành HP 1992 và dự thảo HP mới đặt
ra việc kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan, chống lợi ích nhóm )
Để thực hiện các chức năng của nhà nước: đối nội, đối ngoại, kinh tế-xã hội,
quốc phòng-an ninh
Quyền lực nhà nước:
Quyền lực Nhà nước:
• Hoạt động của các cơ quan nhà nước mang tính công quyền (QH, HĐND, CP, VKS,
TAND)
• Thể hiện:
• Ban hành luật, VPQPPL có tính bắt buộc chung
• Tổ chức thực hiện (hành chính nhà nước, chấp hành - điều hành theo nguyên tắc
mệnh lệnh – phục tùng, quan hệ bất binh đẳng);
• Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các VB QPPL; thành lập đoàn thanh tra, KT việc

trọng trong bộ máy nhà nước, trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các cơ quan
nhà nước trung ương; thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của nhà nước, giám
sát việc tuân theo hiến pháp và pháp luật qua việc nghe báo cáo của các cơ quan tối cao nhà
nước, thông qua hoạt động của các cơ quan quốc hội, đại biểu quốc hội, thông qua hình thức
chất vấn của đại biểu quốc hội với những đối tượng xác định trong bộ máy nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm:
Ủy ban thường vụ quốc hội: cơ quan thường trực của quốc hội, gồm có Chủ tịch quốc hội, các
phó chủ tịch quốc hội, các ủy viên thường vụ quốc hội được bầu tại kì họp thứ nhất mỗi khóa
quốc hội. Ủy ban thường vụ quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như sau: Ban hành pháp
lệnh về các vấn đề được quốc hội trao trong chương trình làm luật của Quốc hội, giải thích hiến
pháp, luật, pháp lệnh; thực hiện giám sát thi hành hiến pháp, luật, nghị quyết, hoạt động của
chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, việt kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ thi hành các văn bản
của Chính phủ, thủ tướng chính phủ, tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân trái với hiến
pháp. luật, nghị quyết của quốc hội và trình quốc hội quyết định việc hủy bỏ; giám sát, hướng
dẫn hoạt động của hội đồng nhân dân, bãi bỏ các nghị quyết sai trái của hội đồng nhân dân cấp
tỉnh, giải tán hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi
ích của nhân dân; quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn
cấp trong phạm vi cả nước hoặc từng địa phương; thực hiện quan hệ đối ngoại của quốc hội; tổ
chức trưng cầu ý kiến nhân dân theo quyết định của quốc hội; ngoài ra còn một số quyền hạn
15
khác như quyết định vấn đề nhân sự của chính phủ theo đề nghị của thủ tướng chính phủ, tuyên
bố tình trạng chiến tranh khi đất nước bị xâm lược…
Hội đồng dân tộc: được lập ra để đảm bảo sự phát triển bình đẳng, đồng đều của các dân tộc
Việt Nam, để giải quyết có hiệu quả các vấn đề dân tộc. Có nhiệm vụ: nghiên cứu, kiến
nghị với quốc hội các vấn đề dân tộc; giám sát thi hành các chính sách dân tộc, các chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số; thẩm
tra các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác liên quan đến vấn đề dân tộc; kiến nghị về luật,
pháp lệnh, chương trình làm luật của quốc hội…
Ủy ban của quốc hội: được lập ra để theo dõi các lĩnh vực hoạt động của quốc hội nhằm giúp
quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các ủy ban

cao; căn cứ vào nghị quyết của quốc hội để bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các phó thủ
tướng và các thành viên khác của chính phủ.
16
+ Trong lĩnh vực an ninh quốc gia: thống lĩnh các lực lượng vũ trang và giữ chức chủ tịch hội
đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao và các hàm, cấp khác
trong lĩnh vực khác…
+ Các lĩnh vực khác: ngoại giao, thôi, nhập quốc tịch, đặc xá…
- Cơ quan thực hiện quyền hành pháp gồm: Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã và các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân.
+ Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội, chấp
hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
quốc hội; lệnh, quyết định của chủ tịch nước. Trong hoạt động, chính phủ phải chịu trách nhiệm
và báo cáo trước quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội và chủ tịch nước. Các quy định trên là
nhằm đảm bảo sự thống nhất của quyền lực nhà nước vào cơ quan quyền lực cao nhất là quốc
hội.
Chính phủ có chức năng thống nhất quản lí mọi lĩnh vực của đời sống xã hội:lãnh đạo thống
nhất bộ máy hành chính từ trung ương tới cơ sở về tổ chức cán bộ, đảm bảo thi hành hiến pháp
và pháp luật; quản lí xây dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc
gia, quản lí y tế, giáo dục, quản lí ngân sách nhà nước, thi hành các biện pháp cần thiết để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, quản lí công tác đối ngoại, thực hiện chính sách xã
hội… của Nhà nước. Khi thực hiện các chức năng này, Chính phủ chỉ tuân theo Hiến pháp,
luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước. Chính phủ có toàn quyền giải
quyết công việc với tính sáng tạo, chủ động, linh hoạt trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn đã được pháp luật quy định… Chính phủ có quyền tham gia vào hoạt động lập pháp bằng
quyền trình dự án luật trước quốc hội, dự án pháp lệnh trước ủy ban thường vụ quốc hội, trình
quốc hội các dự án kế hoạch, ngân sách nhà nước và các dự án khác.
Chính phủ gồm có Thủ tướng chính phủ, các phó thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ
quan ngang bộ do thủ tướng chính phủ lựa chọn, không nhất thiết phải là đại biểu quốc hội, và
đề nghị quốc hội phê chuẩn. Chính phủ không tổ chức ra cơ quan thường trực, thay vào đó là

dân. Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ quản lí nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau của đời
sống địa phương, thực hiện tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân
cùng cấp tại các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, đảm bảo an
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc
phòng toàn dân, quản lí hộ khẩu, hộ tịch, quản lí công tác tổ chức biên chế, lao động tiền lương,
tổ chức thu chi ngân sách của địa phương theo quy định của pháp luật.
Thành phần ủy ban nhân dân có Chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên.
Các cơ quan hành chính nhà nước được quản lí theo các nguyên tắc:
+ Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành với quản lí theo lãnh thổ
+ Nguyên tắc phân định và kết hợp tốt chức năng quản lí nhà nước về kinh tế với chức năng
quản lí kinh doanh của các tổ chức kinh tế
+ Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
+ Nguyên tắc công khai
- Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là những khâu trọng yếu, cơ bản thuộc hệ thống
các cơ quan tư pháp, thực hiện quyền tư pháp. Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan
này có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm của công dân. Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân giải quyết các
vụ việc cụ thể bằng những hình thức khác nhau.
+ Tòa án nhân dân: thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Đây là
chức năng riêng có của tòa án. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân có các đặc điểm:
- Nhân danh nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ vào pháp luật của nhà nước
đưa ra phán xét, quyết định cuối cùng nhằm kết thúc vụ án.
- Xét xử là kiểm tra hành vi pháp lí của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức trong bộ
máy nhà nước trong quá trình giải quyết các vụ việc có liên quan đến việc bảo vệ các quyền, tự
do, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
18

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án
hình sự
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia
đình, hành chính, kinh tế. lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành bản án, quyết định của tòa án nhân dân.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, quản lí, giáo dục người chấp hành
án phạt tù.
19
Các Viện kiểm sát được phân thành Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân
tỉnh, thành trực thuộc trung ương, viện kiểm sát nhân dân thuộc huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh, các viện kiểm sát quân sự. Các viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo.
Tóm lại, các cơ quan nhà nước hoạt động trong một thể thống nhất, đồng bộ, có liên kết hữu cơ
với nhau và có các đặc điểm:
- Các cơ quan nhà nước được thành lập theo trình tự nhất định được quy định trong pháp luật
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định
- Hoạt động của cơ quan nhà nước mang tính quyền lực và được đảm bảo bằng quyền lực nhà
nước, hoạt động đó được tuân theo thủ tục do pháp luật quy định.
- Những người đảm nhiệm chức trách trong các cơ quan nhà nước phải là công dân Việt Nam.
Câu 11:Ở Việt Nam những ai được gọi là cán bộ,công chức?Có những cách phân loại cán
bộ,công chức nào ở Việt Nam?
1.Cán bộ,công chức ở Việt Nam.
*Công chức:
Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước
[1]
, đó là những người được
tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào
các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu
nhập từ ngân sách nhà nước
[2]
. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người cóquốc

công lập.
*Cán bộ:
Cán bộ trong tiếng Việt thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và
thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
[1]
.
Thuật ngữ Cán bộ còn chỉ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những
quyền hạn nhất định. Thuật ngữ cán bộ cũng thường được những tù nhân trong trại giam gọi
những người quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam. Cán bộ cũng là danh xưng thường
được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán
bộ quản lý, cán bộ nguồn ), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân.
2.Cách phân loại cán bộ,công chức:
a.Cách phân loại cán bộ
-Cán bộ cấp xã là những công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kì trong
thường trực hội đồng nhân dân,ủy ban nhân dân,bí thư,phó bí thư đảng ủy người đứng đầu tổ
chức chính trị hưởng lương từ ngân sách nhà nước.Bao gồm:
+Bí thư đảng ủy,phó bí thư đảng ủy
+Chủ tịch,phó chủ tịch hội đồng nhân dân
+Chủ tịch,phó chủ tịch ủy ban nhân dân
+Chủ tịch MTTQ
+Bí thư đoàn
+Chủ tịch liên hiệp phụ nữ
+Chủ tịch hội nông dân
+Chủ tịch hội cựu chiến binh.
-Cán bộ bán chuyên trách:
+Trưởng ban tổ chức Đảng
+Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng
+Trưởng ban tuyên giáo
+Cán bộ kế hoạch giao thông-thủy lợi,nông-lâm-ngư nghiệp

2. Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài chính. Con
người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị. Khi đó, tài chính được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối.
- Khái niệm
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho
những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những
mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội.
Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Thông qua
chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng theo
những mục đích nhất định.
Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu cơ sở, đó
là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (là phân phối
cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất mà chỉ nhằm đảm bảo hoạt động
bình thường của xã hội).
Tuy nhiên, thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm:
+ Phân phối có hoàn lại có thời hạn. Ví dụ: Tín dụng
+ Phân phối không hoàn lại. Ví dụ: Ngân sách nhà nước
+ Phân phối hoàn lại có điều kiện. Ví dụ: Bảo hiểm
22
- Đối tượng phân phối
Đối tượng phân phối là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có
trong xã hội.
Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính bao gồm các bộ phận:
+ Bộ phận của cải xã hội mới được tạo ra trong kỳ - Tổng sản phẩm trong nước GDP;
+ Bộ phận của cải xã hội còn lại từ kỳ trước - Phần tích lũy quá khứ của xã hội và dân cư;
+ Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra
nước ngoài;
+ Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn.
Xét về mặt hình thức tồn tại, nguồn tài chính tồn tại dưới dạng:

lao động. quyền lực nhà nước về chuyên môn hoá lao động của các cơ quan hcnn được thực thi
từng thời kỳ nhất định. thông qua các chức năng hc phản ánh vai trò hoạt động của các cơ quan
23
thực thi quyền hành pháp đối với đời sống xã hội.
Quyền hành pháp đối với xã hội được thực hiện qua các hoạt động hành hcính . hoạt động hc đa
dạng và phức tạp nhưng có thể hiện phân chia thành các nhóm hoạt động chuyên biệt có cùng
tính chất chuyên môn việc phân chia hoạt động hc thành các nhóm chuyên biệt gọi là chuyên
môn hoá lao động trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp của nhà nước và kết quả là hình
thành các chức năng hc.
chức năng hc là một loại hình hoạt động chuyên biệt của hoạt động hc, sản phẩm của quá trình
phân công chuyên môn hoá lao động trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp của nhà nước.
Nghiên cứu về chức năng hc, thì việc phân loại có vai trò đặc biệt quan trọng. phân loại chức
năng hành chính bảo đảm quá trình hc được tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn hoàn chỉnh
đối với từng cơ quan từng chức vụ, từng cấp hc trong các ngành các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội. điều này có ý nghĩa thiết thực và trực tiếp đến thiết kế bộ máy, thiết lập các mối
quan hệ phối hợp ngành, cấp; cơ cấu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, và xây dựng phong cách chế
độ làm việc của đội ngũ cán bộ công chức cho từng cấp hành chính.
Phân loại chức năng hc tạo cơ sở khách quan cho việc xác định khối lượng công việc theo từng
chức năng xây dựng mô hình tổ chức cho từng loại cơ quan hc.
mặt khác phân loại chức năng hc là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sưj ăn khớp phù hợp
giữa các chức năng, cơ cấu bộ máy hành chính giữa các cấp, các ngành phòng ngừa và sửa chữa
có hiệu quả sự trùng hợp, chồng chéo, bỏ trống, giành giật đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan
hcnn.
Chức năng hcnn có thể phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
1.căn cứ vào phạm vi thực hiện chức năng chia ra chức năng đối nội và chức năng đốingoại.
2.phân loại theo các chức năng hành chính cơ bản nhất chia ra chức năng chính trị, chức năng
kinh tế, chức năng văn hoá và chức năng xã hội.
3.phân loại theo đối tượng tác động hcnn.
-chức năng đối với dân
-chức năng đối với nền kinh tế thị trường

tục, là tiền đề phát triển bền vững công sở .
xét theo góc độ vận hành chức năng hoạch định giúp cơ quan định hình được vị trí vai trò của
mình trong hệ thống chủ thể quản lý trong hoạt động quản lý tương lai. chức năng hoạch định
có các nội dung :
xác lập hệ thống mục tiêu xác định tốc độ phát triển cơ cấu và các cân đối lớn; các chính sách,
giải pháp để dẫn dắt đất nước phát triển theo định hướng kế hoạch .
tiến hành dự báo, dự toán, mô hình hoá; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, lập các
chương trình dự án cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực, kế hoạch 5 năm là chính song có
phân ra hàng năm.
việc quy hoạch và kế hoạch phải bao quát các ngành các vùng, các lĩnh vực và các thành phần
kinh tế phù hợp với cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế mới ở nước ta .
2.chức năng tổ chức bộmáy hcnn.
chức năng tổ chức bộ máy là một tiến trình quản lý mà thông qua đó nhà quản lý duy trì sự ổn
định của tổ chức loại bỏ những mâu thuẫn giữa con người với công việc hoặc trách nhiệm phát
triển môi trường làm việc tập thể.
chức năng tổ chức bao gồm những công việc:
phân loại và phân công công việc cho các cá nhân, bộ phận.
uỷ quyền cho các cá nhân, bộ phận
quy định mối quan hệ giữa các cá nhân bộ phận trên cơ sở quyền hành và chức năng.
3.chức năng nhân sự
chức năng nhân sự tồn tại là sự bố trí vào các chức vụ khác nhau của cơ cấu tổ chức những con
người có đủ năng lực và tiêu chuẩn.
chức năng này từ xưa đến nay đã quan trọng và từ nay về sau còn quan trọng hơn , vì việc nâng
cao dân trí, đào tạo nhân tài là quốc sách hàng đầu, là nguyên nhân cội nguồn của sự hưng thịnh
của một quốc gia. quản lý con người và xã hội tối ưu hoá nguồn nhân lực đòi hỏi nhiều hoạt
động hành chính cụ thể;
4.chức năng ra quyết định.
các quyết định hc đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các cơ quan hcnn với
tính chất là mệnh lệnh điều hành quyết định hc trực tiếp phản ánh ý chí củann. thông qua các
quyết định được ban hành theo luật định , các cơ quan nhà nước thực hiện thẩm quyền của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status