HÀNH CHÍNH HỌC ĐẠI CƯƠNG - Pdf 19

HÀNH CHÍNH HỌC ĐẠI CƯƠNGChương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I. Tìm hiểu một số khái niệm cơ bản:
1. Hành chính là gì:
- Hành chính theo nghĩa rộng là chỉ những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến
những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trước (VD: Mục tiêu phát
triển nông nghiệp là sử dụng triệt để các loại đất đai (đặc biệt là đồi núi trọc), Chính phủ đề ra
mục tiêu trồng rừng phủ xanh đồi trọc, giao đất, giao rừng cho nhân dân. Để đạt mục tiêu dó,
Chính phủ thực hiện các biện pháp như giao đất, giao rừng cho nhân dân, cho vay vốn và
những hoạt động đó là các hoạt động hành chính, chỉ có cơ quan nhà nước mới thực hiện được).
Khi có từ 2 người trở lên cùng làm việc với nhau, thì lúc đó xuất hiện một hình thức thô sơ của
quản lý. Dạng quản lý này chính là hoạt động hành chính, hay nói cách khác, hành chính chính là
một dạng của quản lý (quản lý có nghĩa rộng hơn hành chính, nói hành chính nghĩa là đã bao
hàm cả quản lý).
Hành chính như là một loại hoạt động chung nhất của các nhóm người hợp tác với nhau để hoàn
thành các mục tiêu mà họ muốn hướng tới. Như vậy, hành chính chính là những biện pháp tổ
chức các nhóm người hợp tác trong hoạt động với nhau để thực hiện những mục tiêu mà cả nhóm
người đó muốn hướng tới.
- Theo nghĩa hẹp, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước và như
vậy, hành chính xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước (khi nhà nước ra đời thì cũng xuất
hiện ngay hoạt động hành chính, nó cũng tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển
của nhà nước).
2. Hành chính và quản lý:
- Như trên đã nói, hành chính là một dạng quản lý đặc biệt nhất, nhất la dạng quản lý nhà nước.
Hành chính theo nguồn gốc từ cổ (la-tinh) có 2 nghĩa:
+ Hành chính là sự giúp đỡ, hỗ trợ, hay là phục vụ của một người, một nhóm người đối với một
người hoặc một nhóm người khác.

- Hành chính là để thực thi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Nhà nước thiết lập ra nhằm thực
hiện mục tiêu chính trị của quốc gia đó. Như vậy nền hành chính của một quốc gia được xây
dựng nên chính là để thực hiện nhiệm vụ chính trị của quốc gia.
- Nhà nước là một tổ chức công quyền nắm pháp quyền, và đó là công cụ có tính chất cưỡng bức.
- Nhà nước đại diện cho lợi ích của toàn XH, bảo vệ lợi ích của XH và lợi ích chính đáng của
công dân.
- Hành chính mang tính kỹ thuật tương đối độc lập, vì vậy khi có sự thay đổi về chế độ chính trị
thì phần lớn những kỹ thuật nghiệp vụ hành chính vẫn được tiếp thu và sử dụng cho việc quản lý
đất nước.
Như vậy, nền hành chính của bất kỳ quốc gia nào cũng đều phục vụ mục tiêu chính trị của quốc
gia đó thông qua bộ máy nhà nước của quốc gia đó, và nó tồn tại qua các thời kỳ tương đối độc
lập.
c.Hành chính và pháp luật:
- Nhà nước quản lý XH bằng pháp luật thông qua hệ thống các cơ quan hành chính được thiết lập
ra.
- Các quốc gia hiện nay cơ bản đều theo xu hướng phát triển chung là xây dựng nhà nước pháp
quyền, tức là mọt nhà nước được điều hành, chỉ huy bằng một hệ thống pháp luật thống nhất, và
hệ thống pháp luật này được các cơ quan hành chính nhà nước cụ thể hoá bằng những quy phạm
dưới luật và bằng các thủ tục hành chính cụ thể (VD: thực hiện Luật Quốc tịch thì hành chính
phải quy định đăng ký hộ khẩu thường trú, phải có các công đoạn xác minh về con người, nhà
ở ).
- Hành chính còn mang tính thuyết phục, giáo dục, động viên và tổ chức quần chúng thực hiện
pháp luật (bởi vì pháp luật chỉ được thực hiện nghiêm khi người dân hiểu và nó phải hợp lý).
d. Hành chính và kinh tế:
- Hành chính thuộc về thượng tầng kiến trúc, trong khi đó kinh tế là hạ tầng cơ sở. Do đó nó có
mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Kinh tế chỉ có thể phát triển trong điều kiện môi trường pháp
lý thuận lợi - môi trường pháp lý đó chính là những quyết định hành chính (VD: Để phát triển
kinh tế nước ta, nhà nước phải ban hành hàng loạt các đạo luật như Luật Đầu tư, Liên doanh, luật
Thuế do đó đã làm nảy sinh hàng loạt các văn bản hành chính hướng dẫn thi hành).
- Hành chính giữ vai trò điều phối, ảnh hưởng và tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân

1. Hành chính công (hành chính nhà nước):
- Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, học giả hành chính học thì họ cho rằng, hành
chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế để điều tiết hoạt động quyền
hành pháp.
- Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hành chính cũng như mối quan hệ mà
trong đó các công chức làm việc.
- Hành chính công còn bao gồm những đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong bộ máy hành
chính công quyền. Những người này là người có trách nhiệm thực thi cong vụ nhà nước họ được
giao.
Ba yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể quan niệm yếu tố này quan trọng
hơn yếu tố kia. Do đó, có thể đi đến ĐN chung vê hành chính công như sau:
* Hành chính công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các
quá trình XH và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ
TW đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các
mối quan hệ XH, duy trì trật tự an ninh, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân.
2. Hành chính công và hành chính tư:
- Hành chính công và hành chính tư đều thuộc về lĩnh vực hành chính và có những cơ sở giống
nhau, đồng thời có một số điểm khác nhau về nguyên tắc, sự khác nhau đó là:
+ Hành chính công nhằm phục vụ lợi ích công cộng (VD: NQ13 của Chính phủ về đảm bảo trật
tự an toàn giao thong thì nhằm phục vụ lợi ích công cộng).
+ Bộ máy của Chính phủ là một bộ máy đặc biệt, nó có phạm vi điều chỉnh toàn quốc. Còn hành
chính tư thì phạm vi điều chỉnh hẹp (VD: trong 1 công ty TNHH thì hành chính tư trong doanh
nghiệp này chỉ trong phạm vi công ty đó mà thôi).
+ Hành chính công luôn bị điều tiết rất chặt chẽ trong khuôn khổ hệ thống pháp luật, nói cách
khác, hành chính công dựa trên luật pháp nhà nước đề điều chỉnh các mối quan hệ.
+ Hành chính công thì kỹ năng của nó rất đa dạng, rộng lớn so với hành chính tư, nhưng hành
chính công thường cồng kềnh, kém hiệu quả ở một số khâu (VD: khi quyết định một vấn đề nào
đó thì phải xin ý kiến, hội họp nhiều bộ, ngành, cho nên thời gian lâu; còn hành chính tư nhỏ, có
thể quyết định ngay được vấn đề).
3. Hành chính nhà nước trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước:

được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vị trí của yếu tố này rất quan trọng, nếu không có yếu
tố này thì bộ máy không có người điều hành, cho nên không thể vận hành được.
Ba yếu tố trên có quan hệ chặt chẽ, không thể thiếu yếu tố nào.
2. Những đặc tính chủ yếu của bộ máy nhà nước:
- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị, vì: Hệ thống hành chính được thiết lập ra để
quản lý XH, làm cho XH phát triển một cách trật tự, lành mạnh theo mục tiêu chính trị mà được
nhà nước đó xác lập. Đối với mỗi quốc gia, nhiệm vụ chính trị đó thường do đảng cầm quyền
định ra và lãnh đạo thống nhất (hệ thống chính trị nước ta có 3 bộ phận: Đảng CSVN, bộ máy
nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH khác).
- Tính pháp quyền: Theo xu hướng phát triển chung của nhà nước thì tất cả các quốc gia trên thế
giới đều phải tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền, tức là nhà nước hoạt động dựa trên nền
tảng luật pháp.
- Tính liên tục, tính ổn định và tính thích ứng: Quản lý nhà nước chính là quản lý XH, mà XH
phát triển liên tục, do đó nó phải thích ứng (VD: thời đại ngày nay KHKT phát triển, ứng dụng
nhiều công nghệ mới, do đó cán bộ phải biết, phải học, phải thích ứng).
- Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao theo ngạch-bậc.
- Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ. Bởi vì trong hệ thống hành chính được tổ chức thành từng cấp
(cấp TW quản lý gì, cấp tỉnh quản lý gì, mỗi cấp được quyền quyết định những vấn đề gì, phạm
vi đến đâu ).
- Tính không vụ lợi, tính vô tư, công tâm, trong sạch vì: bộ máy hành chính là công cụ do nhân
dân lập ra để quản lý XH, là chỗ dựa tin cậy của nhân dân.
- Tính nhân đạo: là công cụ phục vụ nhân dân, không phải là đối lập với nhân dân, cho nên nó là
chỗ dựa cho nhân dân.
Tóm lại, bộ máy hành chính nhà nước chính là do nhân dân lập nên và phục vụ nhân dân, cho
nên nhân dân chính là chỗ dựa cho bộ máy hành chính nhà nước, có nhân dân thì nó mới phát
triển.
3. Nguyên tắc hoạt động của nền hành chính nhà nước Việt Nam :
- Đối với nền hành chính nhà nước Việt Nam, một trong những nguyên tắc quan trọng được xác
định từ ngay sau cách mạng tháng 8 thành công, đó là nguyên tắc dựa vào dân, tập hợp dân để
xây dựng nhà nước, lấy dân làm chỗ dựa cơ bản cho nhà nước.

nước phát sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý, nhằm thực hiện có
hiệu quả các mục tiêu đã đặt ra.
Chương II:
CHỨC NĂNG HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I. Khái niệm và ý nghĩa:
1. KN:
- Để hiểu rõ chức năng hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, chúng ta cần làm rõ vị trí của nó
trong hệ thống chính trị của quốc gia, trong tổng thể mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản, giữa Nhà
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và các tổ chức đoàn thể quần chúng được tập hợp trong MTTQ
Việt Nam. Các bộ phận này hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm đảm bảo cho quyền lực
nhà nước thực sự thuộc về nhân dân như quy định trong Hiến pháp nước ta.
- Chức năng hành chính là một hoạt động hành chính được tách ra trong quá trình phân công lao
động của XH.
(Sơ đồ)
* Quyền lập quy: ở cấp TW do bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện; ban hành các văn bản quy phạm
dưới luật (VD: NĐ của Chính phủ, Thông tư của các bộ )
* Quyền hành chính: là quyền xây dựng, tổ chức, vận hành bộ máy hành chính (VD: Chính phủ
nghiên cứu tổ chức bộ máy hành chính của các tỉnh mới tách, thành lập một số cơ quan ).
2. ý nghĩa:
- Việc làm rõ chức năng hành chính nhà nước để chúng ta hình dung rõ các quá trình hoạt động
hành chính diễn ra trong đời sống XH, để từ đó có những điều chỉnh, bổ sung để làm cho nền
hành chính ngày càng đáp ứng được sự phát triển đa dạng của nền kinh tế.
- Việc làm rõ chức năng hành chính nhà nước để chúng ta có thể phát triển theo kịp sự phát triển

sách
- Vấn đề điều hành, hướng dẫn, phối hợp việc thi hành các chủ trương của nhà nước.
- Nội dung liên quan đến việc tổ chức quản lý tài chính: đây là nguồn tài chính mà nhà nước
phân bổ cho các bộ, ngành, cơ quan, địa phương. Vì vậy, vấn đề quản lý và sử dụng hợp lý phải
được đặc biệt quan tâm.
III. Phương tiện cơ bản để thực hiện chức năng hành chính nhà nước:

(Sơ đồ)
- Muốn thực hiện chức năng hành chính nhà nước thì phải có địa vị pháp lý. Địa vị pháp lý có ở
cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền riêng. Từ đó xác đinh được phải làm gì và ai
làm; trong quá trình thực thi nhiệm vụ, cần có gì để thực hiện và kết quả công việc được thể hiện
ở các quyết định hành chính.

Chương III
THỂ CHẾ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I. Thể chế và thể chế nền hành chính nhà nước:
1. Thể chế là gì?
- Thể chế có thể hiểu là những quy tắc, những quy định, những quy chế, những nội dung được
ban hành chính thức bằng văn bản hoặc không chính thức để điều chỉnh, can thiệp vào mọi mối
quan hệ XH. (chính trị, kinh tế, văn hoá-XH ) nhằm bảo đảm cho những mối quan hệ đó phát
triển theo những chủ đích đã định trước.
- Thể chế trong hệ thống bộ máy nhà nước là hệ thống những quy định luật lệ của một chế độ
XH nhất định buộc mọi người phải tuân theo. Như vậy, thể chế gắn liền với sự ra đời của nhà
nước (VD: thời PK những quy định cho người từ 18 tuổi trở lên phải nộp thuế thân mà nó bắt

nhà nước với các tổ chức XH (VD: cá thủ tục đăng ký hộ khẩu gồm những loại giấy tờ gì, ai
làm ).
5 yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau, có yếu tố mang tính vĩ mô, có yếu tố mang tính cụ
thể tổng hợp nên nền hành chính nhà nước.
II. Vai trò của thể chế nền hành chính nhà nước:
1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của nền hành chính nhà nước:
Như ta đã biết, thể chế nền hành chính nhà nước bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, tạo nên một
khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh để làm căn cứ cho các cơ quan trong quá trình hoạt động của
mình (VD: đối với cơ quan xuất, nhập cảnh phải có một loạt văn bản quy định về chức năng,
nhiệm vụ, có thẩm quyền gì trong quản lý xuất, nhập cảnh, quy định các thủ tục để cơ đó thực
thi).
2. Cơ sở pháp lý để xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
Việc bố trí nhân sự trong bộ máy hành chính nhà nước tuỳ thuộc vào vị trí của từng cấp hành
chính (VD: UBND Hà Nội phải bố trí số lượng đại biểu HĐND, các chức danh nhiều hơn một số
tỉnh khác do Hà Nội có vị trí quan trọng, dân số nhiều ; hoặc Chủ tịch UBND Tp Hà Nội có
hàm tương đương bộ trưởng mà một số tỉnh khác lại không được như vậy).
4. Cơ sở để xây dựng mối quan hệ cụ thể giữa nhà nước và công dân, nhà nước và các tổ
chức XH khác:
Trong XH ta hiện nay, các tổ chức XH ngày càng phát triển, do đó xây dựng mối quan hệ cụ thể
sẽ giúp nhà nước tiến hành quản lý, điều hành có hiệu quả hơn, chặt chẽ hơn.
III. Nội dung cơ bản của thể chế nền hành chính nhà nước:
1. Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế: gồm các vấn đề chính sau:
- Quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô (trách nhiệm này thuộc cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là
Chính phủ) như định hướng vùng, miền, xây dựng các khung công nghiệp, đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng
- Ngăn ngừa (chủ yếu bằng cơ chế chính sách) các hoạt động bất hợp pháp làm ảnh hưởng đến
nền kinh tế (VD: cấm nhập khẩu một số mặt hàng hoặc tạm thời hạn chế, đánh thuế cao đối với
một số mặt hàng để điều tiết sản xuất trong những, khuyến khích sản xuất trong nước).
2. Quản lý hành chính nhà nước về tiền tệ:
- Quản lý tài sản, tài nguyên của quốc gia.

rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách, các
định hướng phát triển, chứ không làm thay, bao biện.
+ Phải làm rõ quyền quản lý, điều hành bộ máy nhà nước, đặc biệt là bộ máy hành chính nhà
nước.
+ Đề cao vai trò tổ chức, vận động các tổ chức chính trị-XH và các tổ chức của MTTQ Việt
Nam.
- Sắp xếp bộ máy nhà nước một cách hợp lý và bố trí biên chế phù hợp với bộ máy đó (các cơ
quan sự nghiệp hiện nay tăng hợp đồng để giảm biên chế).
- Hiện đại hoá các phương pháp và phương thức quản lý nhà nước, tiến tới xây dựng Chính phủ
điện tử.
- Tạo sức mạnh cho nền hành chính trong nền kinh tế thị trường phát triển theo nhiều thành phần,
trên cơ sở định hướng XHCN mà Đảng ta đã xác định (nền hành chính không thực hiện chức
năng cai trị, mà phải tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, là dịch vụ cho nền kinh
tế).
Chương IV
TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I. Nguyên tắc chung về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
1. Thống nhất chỉ huy và hệ thống thứ bậc:
Đối với bất kỳ nền hành chính của quốc gia nào cũng đều được chia theo thứ bậc tuỳ theo đặc
điểm lịch sử của mỗi quốc gia (VD: với những quốc gia liên bang thì chia theo: bang-khu-tỉnh ;
hoặc như nước ta từ TW đến địa phương có 3 cấp). Trong hệ thống thứ bậc này, đều chịu sự chỉ
huy thống nhất của bộ máy nhà nước ở TW.
2. Nguyên tắc quyền lực và trách nhiệm gắn liền với nhau:
Mỗi một cấp hành chính của một quốc gia đều được trao những quyền hạn nhất định, quyền hạn
đó được khẳng định trong các văn bản luật (VD như trong Hiến pháp hoặc Luật Tổ chức nền
hành chính nhà nước đó). Đồng thời với các quyền hạn đó, thì các cấp cũng có trách nhiệm rất
lớn trong quản lý điều hành nền hành chính nhà nước. Nguyên tắc quyền hạn và trách nhiệm gắn
liền với nhau, tạo mối quan hệ hài hoà trong thực thi quyền lực mà nhà nước giao cho (chúng
chính là 2 mặt của một vấn đề, có cái này thì phải có cái kia).

2. Những nguyên tắc khoa học về tổ chức nền hành chính nhà nước:
- Nguyên tắc nền nghiên cứu phải phù hợp với những yêu cầu của chức năng hành pháp, mà
trong đó chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống hành pháp đó.
- Nguyên tắc hoàn chỉnh và thống nhất của nền hành chính (thể hiện ở chỗ, nền hành chính được
tổ chức từ TW tới địa phương, thống nhất trong phạm vi cả nước. Ở những ta, hệ thống hành
chính từ TW đến địa phương là 4 cấp hoàn chỉnh và thống nhất: Chính phủ-tỉnh (thành) - huyện
(thị) - xã (phường).
- Nguyên tắc phân định thẩm quyền quản lý hợp lý cho tất cả các cấp, các ngành. Đối với nước
ta, nguyên tắc này càng ngày càng được làm rõ, có nhiều văn bản QPPL để điều chỉnh rõ quyền
phân cấp quản lý của mỗi cấp.
- Nguyên tắc phân định phạm vi quản lý và hệ thống các cấp quản lý cho phù hợp.
- Nguyên tắc phân định thẩm quyền và trách nhiệm (tránh tình trạng lạm dụng hoặc bỏ sót
quyền).
- Ngoài ra, người ta còn quan tâm đến nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; nhân dân tham gia vào quá
trình quản lý để phát huy tính tích cực của người dân (tiết kiệm là vấn đề được Chính phủ đặt ra
từ lâu, làm tốt khâu này sẽ tiết kiệm được cho ngân sách để dùng vào việc phát triển kinh tế đất
nước).
3. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
a. Ở Trung ương:
- Nguyên thủ quốc gia: Là người đứng đầu của quốc gia, do QH bầu ra tại kỳ họp đầu tiên của
mỗi khoá QH. Nguyên thủ quốc gia đại diện cho đất nước về 2 phương diện: đối nội và đối
ngoại. Về phương diện đối nội, nguyên thủ quốc gia thực thi chức năng lập pháp bằng việc công
bố các văn bản luật do QH và UBTVQH thông qua. Về chức năng hành pháp, nguyên thủ quốc
gia là thống lĩnh các lực lượng vũ trang, quyết định những vấn đề như phong tặng các danh hiệu
nhà nước, quyết định đặc xá, ân xá, quyết định bổ nhiệm đại sứ và các đại diện ngoại giao của ta
ra nước ngoài và tiếp nhận các đại diện ngoại giao các nước.
- Chính phủ: Là cơ quan hành chính cao nhất của nhà nước, là cơ quan quyền lực cao nhất, do
QH bầu ra trong kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
là quản lý, điều hành toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, an ninh-quốc phòng,
đối ngoại của nước ta. Thành phần của Chính phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ, các phó Thủ

hoá-XH, quốc phòng-an ninh, trật tự trị an ). UBND thông thường 1 tháng họp 1 lần, Thường
trực UBND có nhiệm vụ triệu tập các phiên họp UBND.
Tóm lại, tổ chức bộ máy chính quyền ở cấp TW và địa phương là một trong những chủ thể cơ
bản và là một bộ phận quan trọng cấu thành nền hành chính nhà nước ở nước ta.
Chương V
CÔNG VỤ VÀ CÔNG CHỨC

I. Công vụ:
1. KN: Công vụ là một loại lao động đặc thù thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước để thi hành
luật pháp, đưa luật pháp vào đời sống, đồng thời cũng để quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản
chung (công sản) và ngân sách nhà nước nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của quốc gia.
Đặc điểm rút ra từ KN trên:
- Lao động đặc thù: Vì lao động này mang tính trừu tượng, khó đong đếm hiệu quả bằng con số
cụ thể (VD: TTg ra quyết định khoán 10, 100 làm cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta phát
triển, người nông dân đủ ăn, tình hình kinh tế-XH phát triển rõ rệt, đảm bảo lương thực cho XH
và xuất khẩu , do đó khó có thể đánh giá được hiệu quả quyết định trên). Hoạt động công vụ
này phải dựa trên cơ sở sử dụng các quyền lực nhà nước, thể hiện ở trong các văn bản luật và các
văn bản quy phạm dưới luật.
- Hoạt động này do đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện.
2. Nguyên tắc của công vụ:
- Nguyên tắc chung: Những quan điểm, những tư tưởng, những quy định chung nhằm thực hiện
một cách có hiệu quả công việc quản lý nhà nước (VD: về quan điểm của nhà nước ta là do dân,
vì dân, cho nên mọi tư tưởng, quan điểm phải hướng về nhân dân).
- Nguyên tắc cụ thể:
+ Công cụ thể hiện ý chí và đáp ứng lợi ích của nhân dân và nhà nước.
+ Nó được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ (quyền lực tập trung theo đa số, cá nhân
phụ trách).
+ Được hình thành và phát triển theo kế hoạch, định hướng nhất định.
+ Nguyên tắc công vụ này phải tuân thủ pháp luật,bảo đảm pháp chế, thực hiện đúng thẩm
quyền, không lạm quyền, nhưng cũng không bỏ sót quyền lực.

lâm ).
- Công chức hành chính: là những người thừa hành nhiệm vụ do người lãnh đạo giao phó.
Tùy mỗi loại công chức nói trên, người ta chia thành các ngạch, bậc khác nhau.
3. Quyền hạn và nghĩa vụ của công chức:
Đối với tất cả các công chức đều được thể hiện ở các trạng thái chính sau đây:
- Trạng thái đương nhiệm (làm việc tại công sở hoặc biệt phái, đang nghỉ vì các lý do khác
nhau).
- Trạng thái chấm dứt ở nhiệm sở, thể hiện ở 3 dạng:
+ Chấm dứt tự nguyện
+ Chấm dứt do bị thải hồi hoặc bị kỷ luật (bắt buộc).
+ Chấm dứt do hết tuổi làm việc, nghỉ hưu theo chế độ quy định.
* Công chức có các quyền hạn:
- Thẩm quyền của công chức có 2 loại:
+ Thẩm quyền của người lãnh đạo (thể hiện trong các văn bản quy phạm quy định).
+ Thẩm quyền của người thi hành công vụ (cũng được ghi trong các văn bản QPPL) tuỳ theo vị
trí của cán bộ công chức đó).
- Về quyền lợi: bất kể một cán bộ công chức nào cũng có 2 loại quyền lợi:
+ Về mặt tinh thần: có quyền tham gia các hoạt động chính trị-XH theo quy định của luật pháp.
+ Về mặt vật chất: tất cả các công chức hoàn thành nhiệm vụ đều được hưởng lương theo ngạch,
bậc và các chế độ phúc lợi khác mà cơ quan có (khen thưởng, nghỉ phép, tham quan ).
- Nghĩa vụ của công chức:
+ Phải làm tròn bổn phận theo chức trách được giao.
+ Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế, pháp luật của nhà nước.
+ Mọi công chức đều có nghĩa vụ giữ gìn bí mật cơ quan, nhà nước.
+ Đối với bất kỳ công chức nào đều phải có trách nhiệm công vụ khi thi hành nhiệm vụ được
giao.
+ Tất cả các công chức khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đều được khen thưởng, vi phạm sẽ bị
kỷ luật theo quy định.

Chương 6

1. Phân loại quyết định hành chính theo tính chất pháp lý và nội dung của nó: Dựa theo cách
phân loại này thì quyết định hành chính có các loại sau:
- Quyết định hành chính quy phạm (quyết định hành chính mang tính lập quy): là những quyết
định mang tính chủ đạo, nó đề ra những chính sách, những chủ trương, những chế độ để thực
hiện trong một thời gian nhất định. Những quyết định hành chính này là công cụ chủ yếu của
hoạt động quản lý hành chính nhà nước (lấy VD về một NĐ của Chính phủ).
- Quyết định hành chính cá biệt: là loại quyết định điều chỉnh các đối tượng cụ thể (VD: TTg ra
quyết định khen thưởng cho 1 đơn vị, 1 cá nhân nào đó; hoặc quyết định của TTg bổ nhiệm hay
bãi nhiệm một cá nhân nào đó ).
2. Phân loại quyết định hành chính theo tính chất mệnh lệnh của nó: Theo cách phân loại này, có
quyết định hành chính cho phép, có quyết định hành chính cấm làm một việc gì đó, hoặc quyết
định hành chính điều chỉnh, sửa đổi mọt quyết định hành chính đã ban hành nào đó.
3. Phân loại quyết định hành chính theo thẩm quyền ban hành: Dựa theo cách phân loại này, tuỳ
theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà các cơ quan được quyền ban hành các quyết định
hành chính phù hợp (VD: CP được ban hành NQ, NĐ; Bộ trưởng được ban hành QĐ, CT, TT ).
4. Phân loại quyết định theo thời gian có hiệu lực: Dựa vào cách phân loại này, có quyết định
hành chính thời gian thi hành dài, nhưng có quyết định hành chính thi hành trong thời gian nhất
định.
5. Phân loại quyết định hành chính theo hình thức thể hiện: Quyết định hành chính tuyệt đại đa
số được ban hành dưới dạng văn bản, nhưng cũng có một số quyết định hành chính được ban
hành bằng lời, trường hợp này được thực hiện trong những trường hợp cấp bách cần được giải
quyết, xử lý ngay để đảm bảo tính kịp thời của các quyết định hành chính (hoả hoạn, lũ lụt, chiến
tranh ).
III. Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính:
1. Tính hợp pháp:
Tất cả các quyết định hành chính được ban hành đều phải đảm bảo các yêu cầu của tính hợp
pháp. Những yêu cầu này thể hiện ở những điểm chính sau đây:
- Quyết định hành chính phải phù hợp với nội dung, mục đích của các văn bản luật và các văn
bản quy phạm của cấp trên.
- Các quyết định hành chính ban hành phải trong phạm vi thẩm quyền cho phép (VD: UBND

- Sau khi các quyết định đã được thông qua thì cần thông tin quyết định hành chính kịp thời tới
các đối tượng thực hiện.
- Tổ chức lực lượng thực hiện các quyết định hành chính nhưng cần lưu ý: Đối với các quyết
định hành chính có nội dung phức tạp thì việc thực hiện thường được tiến hành theo 2 bước:
+ Tổ chức thực hiện thí điểm để xem xét, rút kinh nghiệm trước khi thực hiện đại trà.
+ Sau khi thực hiện thí điểm để rút kinh nghiệm rồi thì mới thực hiện đại trà.
- Xử lý các thông tin phản hồi điều chỉnh kịp thời những điều bất hợp lý.
- Kiểm tra kết quả thực hiện, tổng kết đánh giá việc thực hiện quyết định hành chính đó. Khi
kiểm tra tổng kết đánh giá ta phải tuân thủ 3 yêu cầu: trung thực, khách quan và nghiêm túc.
3. Đình chỉ hoặc bãi bỏ quyết định hành chính:
Trong thực tế có một số quyết định hành chính có dấu hiệu bất hợp pháp hoặc có những dấu hiệu
nghi ngờ về tính hợp pháp của nó. Gặp những trường hợp nói trên, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ra quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Có những quyết định hành chính được ban hành nhưng vì lý do này hoặc lý do khác mà bị đình
chỉ thi hành, nhưng khi xem xét kỹ thì việc đình chỉ, bãi bỏ đó là không chính đáng. Trong
trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định khôi phục lại toàn bộ hay một
phần quyết định hành chính đó.
Tuỳ theo tình hình mà cơ quan nhà nước xem xét để truy cứu trách nhiệm đối với những người
có những lỗi, sai lầm ra quyết định hành chính đó.
Chương VII
KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ HÀNH CHÍNH

I. Quan niệm chung về kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính:
1. KN: Kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính được hiểu là những kỹ năng làm việc, là những biện
pháp có tính công nghệ mà những người quản lý hành chính có thể vận dụng một cách linh hoạt
trong quá trình điều hành bộ máy hành chính giải quyết những việc có liên quan đến những vấn
đề về hành chính.
2. Những yếu tố cơ bản liên quan đến kỹ thuật nghiệp vụ hành chính:
- Phương tiện làm việc của cơ quan.
- Kỹ thuật thu thập, bảo quản và xử lý các nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý như:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status