1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng phát huy tính tích cực học tập của
học sinh (HS) là yêu cầu của thời đại, đồng thời là yêu cầu cấp bách cho sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đổi mới và hiện đại hóa phương
pháp giáo dục theo hướng chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy
giảng, trò ghi chép sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình
tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin
một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực
của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS trong quá trình
học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội là
một vấn đề cấp bách của giáo dục trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Kiến thức Sinh học ngày càng phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sự phát
triển của Công nghệ sinh học và ứng dụng của Công nghệ sinh học vào thực
tiễn. Vì vậy, việc rèn luyện năng lực tự học cho HS là rất cần thiết.
Một trong những biện pháp có thể giải quyết tốt nhiệm vụ nêu trên là sử
dụng bài tập tình huống (BTTH) để giảng dạy kiến thức. BTTH được sử dụng
trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, từ khâu nghiên cứu tài liệu mới,
củng cố hoàn thiện cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của HS. Sử dụng BTTH
trong dạy học còn rèn luyện cho HS những thao tác tư duy đặc biệt là thao tác
phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, vận dụng các kiến thức đó
vào đời sống và thực tiễn sản xuất. Dạy học theo phương pháp sử dụng BTTH
giúp cho HS có thể lĩnh hội tri thức vững vàng hơn, tạo hứng thú học tập tốt
hơn. Sử dụng BTTH là biện pháp quan trọng để tổ chức HS tự lực nghiên cứu
sách giáo khoa (SGK) gắn việc học với thực hành lí thuyết đã học vào giải
quyết các tình huống đặt ra.
Mặt khác, thực tế dạy học Sinh học 10 ở trường phổ thông hiện nay vẫn
còn mang nặng tính chất thông báo, tái hiện. Đồng thời do nhu cầu và động cơ
học tập của HS đối với môn Sinh học 10 chưa đúng đắn, nên HS học tập một
cách thụ động, gò ép. Do đó, giáo viên (GV) cần phải có phương pháp dạy học
5.4. Phân tích logic nội dung kiến thức cơ bản của Sinh học 10 để làm cơ
sở cho việc xây dựng các BTTH.
5.5. Đề xuất nguyên tắc, quy trình xây dựng BTTH và vận dụng nó vào
xây dựng các BTTH trong nội dung Sinh học 10.
5.6. Xây dựng nguyên tắc và quy trình sử dụng BTTH trong dạy học Sinh
học 10 vào quá trình dạy học, đặc biệt trong khâu nghiên cứu tài liệu mới.
5.7. Thiết kế các giáo án bài lên lớp dạy học Sinh học 10 ở trường THPT
theo hướng sử dụng BTTH.
5.8. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lí thuyết
6.2. Điều tra thực trạng
6.3. Phương pháp chuyên gia
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.5. Phương pháp thống kê toán học
7. Đóng góp mới của luận án
7.1. Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận về bản chất, vai trò và ý nghĩa của
BTTH trong dạy học nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng để vận
dụng vào quá trình dạy học Sinh học 10.
7.2. Điều tra thực trạng về khả năng nhận thức của GV về BTTH và mức
độ sử dụng BTTH trong dạy học Sinh học nói chung và Sinh học 10 nói riêng,
qua đó đã xác định được các nguyên nhân gây ra thực trạng.
7.3. Đề xuất được các nguyên tắc, quy trình xây dựng BTTH và xây dựng
được hệ thống BTTH gồm 67 BTTH để dạy học các kiến thức Sinh học 10.
3
7.4. Xác định được nguyên tắc và quy trình dạy học bằng BTTH trong dạy
học Sinh học 10.
7.5. Bước đầu xây dựng được các tiêu chí để đánh giá các kĩ năng phát
hiện, giải quyết các tình huống đặt ra trong BTTH của HS trong dạy học Sinh
học 10.
GV kĩ thuật xây dựng, sử dụng câu hỏi, bài tập để tổ chức bài học bộ môn.
Quy trình tổ chức rèn luyện những kĩ năng đó thông qua các bài tập
phương pháp là:
- GV đặt các bài tập phương pháp.
- Tổ chức thảo luận, phân tích về kiến thức cơ bản, giá trị giáo dục, giáo
dưỡng của kiến thức đó.
4
- Sinh viên, GV thực hiện bài tập yêu cầu xác định kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo cần hình thành cho HS khi dạy một bài cụ thể ở SGK, chẩn đoán những khó
khăn mà HS có thể gặp phải khi học kiến thức đó và xác định cách tổ chức để
HS vượt qua khó khăn đó.
- Thiết kế và nêu phương án sử dụng câu hỏi, bài tập để tổ chức quá trình
dạy học đạt được các yêu cầu trên.
- Bài tập phương pháp là một dạng của bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng
và sử dụng câu hỏi, bài tập cho sinh viên và GV trong quá trình tổ chức dạy
học, là một trong những định hướng tốt giúp luận án có cơ sở xác định quy trình
xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học các môn học ở trường phổ
thông.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học ở
Việt Nam
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) trong quá trình nghiên
cứu đã đưa ra các dạng bài tập rèn luyện kĩ năng, trong đó có bài toán tình
huống mô phỏng.
Trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu và các tài
liệu bồi dưỡng về lĩnh vực rèn luyện kĩ năng dạy học thông qua bài tập thực
hành giáo dục, BTTH cho sinh viên thuộc các ngành học khác nhau. Trong tài
liệu “Thực hành về Giáo dục học” các tác giả Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình
Chỉnh (1989) đã khẳng định vai trò của việc rèn nghề thông qua bài tập và đã
đưa ra một hệ thống các bài tập thực hành giáo dục theo những chủ đề đã giảng
vào dạy cho sinh viên sư phạm Sinh học cách giải bài tập, cách sử dụng nó vào
các khâu của quá trình dạy học.
Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 - 2000 cho GV THPT: “Dạy
học giải quyết vấn đề trong bộ môn Sinh học” của các tác giả: Nguyễn Văn
Duệ, Trần Văn Kiên, Dương Tiến Sỹ, đã xác định được nhiều tình huống dạy
học điển hình trong các phân môn: Sinh học 10, Di truyền học 11, Sinh thái học
11. Các tác giả đã thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong chương
trình Sinh học THPT làm phương tiện để giúp HS tự phát hiện và xác định
những tình huống học tập. Trên cơ sở đó, giúp GV tổ chức hoạt động nhận thức
cho HS theo tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề.
Những nghiên cứu trên đây tuy đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về
lí luận cũng như việc sử dụng câu hỏi, bài tập theo hướng tích cực trong dạy
học. Nhưng việc nghiên cứu có tính hệ thống từ những cơ sở lí luận đến việc đề
xuất các nguyên tắc và xác lập một quy trình hợp lí thiết kế và sử dụng BTTH
(trong đó thể hiện rõ những kĩ thuật thiết kế và sử dụng), để từ đó giúp GV có
những định hướng về phương pháp và kĩ năng thiết kế câu hỏi, bài tập nhằm tổ
chức hoạt động nhận thức cho HS theo hướng phát huy cao độ tính tích cực học
tập còn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ.
Vì vậy, luận án sẽ tập trung vào việc nghiên cứu xác định các nguyên tắc,
quy trình thiết kế và sử dụng BTTH như một phương tiện, phương pháp để tổ
chức hướng dẫn HS tự lực phát hiện kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng
dạy học Sinh học 10.
1.1.2. Xây dựng và sử dụng BTTH trong dạy học
1.1.2.1. Xây dựng và sử dụng BTTH trong dạy học trên thế giới
Ở phương Tây, Mĩ là nước sớm nhất nghiên cứu và áp dụng tình huống
trong giáo dục, đào tạo. Trong các lĩnh vực khác nhau, các tác giả Grahame
Feletti (1997); Dolmans (1994), Woods (1994), Gramham Gibbs & Alan
Jenkirs (1997), Robert J. Marzano (1992), Kiriacou (1991) đã khẳng định tính
hiệu quả của việc sử dụng tình huống trong dạy học, chẳng hạn:
Trong đào tạo sĩ quan lái máy bay, những sĩ quan lái máy bay cựu chiến
Tóm lại, tình huống đã được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng rộng rãi
trong công tác giáo dục đào tạo ở nhiều nước phát triển với vai trò như là một
PPDH tích cực. Trong đó, hai dạng dạy học sử dụng tình huống được đề cập là
dạy học nêu vấn đề, dạy học giải quyết vấn đề và học tập trên vấn đề, học tập
định hướng tới vấn đề. Các tác giả cũng khẳng định được tính hiệu quả của việc
sử dụng tình huống trong dạy học và cũng đã nêu được quy trình sử dụng tình
huống trong dạy học. Đây là vấn đề chúng tôi sử dụng làm cơ sở xây dựng quy
trình dạy học bằng BTTH.
1.1.2.2. Xây dựng và sử dụng BTTH trong dạy học ở Việt Nam
- BTTH trong lĩnh vực quản lí giáo dục của Nguyễn Đình Chỉnh (1995) đã
đưa ra quy trình rèn luyện kĩ năng giải quyết BTTH giáo dục.
- BTTH trong lĩnh vực tâm lí học quản trị kinh doanh của Nguyễn Đình
Chỉnh (1996). Ở đây, tác giả đã xây dựng được những BTTH rất hữu ích đối
với nhà quản lí dù đã thâm niên hay mới vào nghề, vì nó cung cấp cho học viên
7
những câu trả lời thiết thực qua các tình huống giả định, mô phỏng,… để giúp
họ thành công trong công tác lãnh đạo.
- BTTH trong lĩnh vực Sinh học của Phan Đức Duy (1999), với đề tài “Sử
dụng BTTH để rèn luyện cho sinh viên kĩ năng dạy học Sinh học”, nêu được
bản chất của BTTH, cơ sở phân loại BTTH, quy trình thiết kế và sử dụng
BTTH để rèn luyện kĩ năng tích hợp tổ chức bài lên lớp.
- BTTH trong lĩnh vực Hóa học của Đặng Thị Oanh (1995) với công trình
“Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện kĩ năng thiết kế công nghệ bài
nghiên cứu tài liệu mới cho sinh viên Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư
phạm”, nêu được khái niệm bài toán mô phỏng là gì? Biên soạn hệ thống các
BTTH mô phỏng rèn luyện kĩ năng thiết kế công nghệ bài hóa học nghiên cứu
tài liệu mới cho sinh viên sư phạm.
Qua tìm hiểu và phân tích những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi
nhận thấy hầu hết các công trình nghiên cứu đã khẳng định sự cần thiết của việc
sử dụng BTTH trong quá trình dạy học. Các tác giả khẳng định BTTH giúp HS
1.2.1.1. Bài tập
Bài tập bao gồm là các thông tin xác định, những điều kiện và những yêu
cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học tạo ra một lời giải
đáp, qua đó nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng.
1.2.1.2. Tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lí của chủ thể nhận thức khi
vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó khăn
đó vượt ra khỏi giới hạn của tri thức đã có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó
chưa biết, đòi hỏi một sự tìm tòi tích cực, sáng tạo.
1.2.1.3. BTTH trong dạy học
Theo chúng tôi, BTTH trong dạy học là bài tập chứa đựng các tình huống
khác nhau, chứa đựng các mâu thuẫn nhận thức tạo ra động lực thúc đẩy sự tìm
tòi, sáng tạo của HS góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. BTTH có mâu
thuẫn, có vấn đề, đòi hỏi HS phải nhận thức được và cảm thấy có nhu cầu giải
đáp bằng cách huy động vốn tri thức, kinh nghiệm sáng tạo của họ để giải quyết
theo những nguyên tắc và quy trình hợp lí, qua đó HS có thể nắm vững tri thức,
hình thành kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo.
1.2.1.4. Vai trò của BTTH trong dạy học
- BTTH góp phần giúp HS lĩnh hội kiến thức mới và củng cố kiến thức.
- BTTH góp phần phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, giải quyết vấn đề
của HS.
- BTTH góp phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
1.2.2. Phương pháp dạy học bằng BTTH
1.2.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với
sự tương tác lẫn nhau. Trong đó, phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn
phương pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp
dạy. Nên có thể hiểu: “Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có
chủ đích theo một trình tự nhất định của GV để tổ chức hoạt động nhận thức và
hoạt động thực hành của HS, nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học
xảo và các phẩm chất nhân cách cần thiết.
* Đặc trưng của phương pháp dạy học tình huống
Khi sử dụng PPDH tình huống, người GV làm nhiệm vụ “ủy thác”, nghĩa
là không bắt người học làm theo ý mình một cách miễn cưỡng mà làm cho họ
tự giác, tích cực, biến ý đồ của GV thành nhiệm vụ học tập của mình và người
học tự đảm nhận lấy việc học của mình để chiếm lĩnh tri thức. GV chỉ đưa
người học vào tình huống dạy học và gợi mở những vấn đề để tự họ tìm ra lời
giải đáp.
GV tạo ra một môi trường sư phạm lí tưởng cho HS tổ chức các hoạt động
học tập của mình. Trong môi trường đó, HS được trực tiếp làm việc với đối
tượng học tập, tự mình “bóc tách” nội dung học tập được ngầm ẩn trong tình
huống.
Phương pháp tình huống làm giảm khoảng cách giữa kiến thức sách vở với
thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, khi phân tích các tình huống trong quá trình
học tập sẽ giúp người học nhận ra giá trị đích thực của những tri thức lí thuyết
có thể vận dụng được vào thực tiễn.
Phương pháp tình huống chú trọng đến mặt ứng dụng tri thức vào việc giải
quyết những vấn đề thực tiễn hơn là việc giải quyết vấn đề có tính chất lí luận.
* Vai trò của phương pháp dạy học tình huống
HS không phải được đặt trước những kiến thức có sẵn trong SGK hay là
bài giảng giải áp đặt của GV mà tự đặt mình vào các tình huống, vấn đề thực tế,
cụ thể và sinh động của cuộc sống để tìm cách giải quyết chúng một cách ổn
thỏa.
10
HS được gợi mở, tranh luận về những tình huống có thật và cụ thể, sau khi
đã biết được những nguyên lí cơ bản, là phương tiện sắc bén để phát huy tính
tích cực sáng tạo của HS, thúc đẩy HS động não, phát huy được óc phê phán, óc
sáng tạo, rèn luyện phương pháp tư duy và trí tưởng tượng sáng tạo của người
học.
Phương pháp dạy học tình huống mang đến không khí lớp học sôi nổi, HS
chưa phân định rõ các bước của người hướng dẫn với các bước của người giải
quyết tình huống, chẳng hạn bước 1 là công việc của GV; còn bước 2, 3 và 4 là
công việc của HS.
Tóm lại, các giai đoạn, các bước tổ chức giải quyết tình huống là cơ sở để
chúng tôi xem xét đưa ra quy trình giải quyết BTTH được xây dựng từ SGK
Sinh học 10.
11
Phương pháp tình huống có nhiều ưu điểm phát huy tính tích cực, độc lập,
sáng tạo của người học, nên có thể vận dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Trong luận án chúng tôi sử dụng BTTH chủ yếu ở khâu nghiên cứu tài liệu
mới:
Sử dụng BTTH để gợi mở việc lĩnh hội tri thức: BTTH trong trường hợp
này thường được sử dụng để đặt vấn đề và bao giờ cũng được sử dụng kết hợp
với các PPDH khác.
Sử dụng BTTH để giúp HS lĩnh hội tri thức mới: BTTH chứa đựng tri thức
mới cần lĩnh hội. HS giải quyết BTTH sẽ lĩnh hội được kiến thức cho mình.
Như vậy, BTTH được xem như một phương tiện giúp HS lĩnh hội kiến thức tốt
nhất.
HS giải quyết BTTH và chỉ ra những tri thức chứa đựng trong các BTTH
đó hoặc vận dụng tri thức đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn.
* Điều kiện cần có để dạy học theo phương pháp tình huống
- Tình huống chứa đựng trong nó một hay một số mâu thuẫn.
- Dạy bằng tình huống không phải dạy bằng “ngẫu hứng” hoặc liên hệ cho
xong chuyện. Nó đòi hỏi người dạy phải có sự chuẩn bị công phu, có bản lĩnh
sư phạm để khi phát động, khi HS nêu ra tình huống thì hệ thống có thể chọn
lọc được ngay cái nào là “đắt giá” mang ra thảo luận.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Điều tra sự hứng thú và ý thức học tập môn Sinh học 10 của HS
Chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát trên 378 HS thuộc 3 trường THPT
kết quả thu được ở bảng 1.1 (xem ở luận án) cho thấy mong muốn của HS trong
trò BTTH, cách xây dựng và sử dụng BTTH để tổ chức dạy học.
Chương 2. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BTTH TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC 10 THPT
2.1. Phân tích nội dung chương trình Sinh học 10 THPT làm cơ sở xây
dựng các BTTH
Đề tài đã phân tích nội dung Sinh học 10 và đã chỉ ra được những nội dung
ở từng bài học có thể xây dựng BTTH vào dạy học (xem bảng 2.1 ở luận án).
2.2. Xây dựng BTTH trong chương trình Sinh học 10 THPT để dạy học
2.2.1. Thiết kế quy trình xây dựng BTTH để dạy học Sinh học 10 THPT
2.2.1.1. Các nguyên tắc xây dựng BTTH để dạy học Sinh học 10 THPT
BTTH phải chứa mâu thuẫn nhận thức; BTTH phải gây ra nhu cầu cần
nhận thức cho HS; BTTH phải phù hợp với trình độ, đối tượng HS;
2.2.1.2. Quy trình xây dựng BTTH để dạy học Sinh học 10 THPT
Bước 1. Xác định mục tiêu bài học
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình xây dựng BTTH
Bước 2. Phân tích lôgic nội dung bài học
Bước 3. Xác định nội dung bài học có thể xây dựng
BTTH
Bước 4.Tìm các tài liệu có liên quan với nội dung
kiến thức bài học dự định xây dựng BTTH
Bước 5. Diễn đạt khả năng đó thành BTTH
Bước 6. Kiểm tra, đánh giá BTTH đã xây dựng, từ
đó điều chỉnh hệ thống BTTH
13
2.2.2. Hệ thống các BTTH trong chương trình Sinh học 10 THPT
2.2.2.1. Phân loại các BTTH trong chương trình Sinh học 10 THPT
- Dựa vào đặc điểm, tính chất của mâu thuẫn chia BTTH thành 4 loại:
+ BTTH tạo ra từ mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới;
+ BTTH tạo ra từ mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn;
+ BTTH tạo ra từ mâu thuẫn xuất hiện bởi sự lựa chọn;
học
tế
bào
Chương
I. Thành
phần
hóa học
của tế
bào
3 Các nguyên tố hóa học và nước 3
4 Cacbohiđrat và lipit 3
5 Prôtêin 3
6 Axit nuclêic 5
Chương
II. Cấu
trúc của
tế bào
7 Tế bào nhân sơ 3
8, 9,
10
Tế bào nhân thực 6
11
Vận chuyển các chất qua màng
sinh chất
6
Chương 13 Khái quát về năng lượng và 2
14
Phần Chương Bài Tên bài dạy
Số lượng
các
I.
Chuyển
hóa vật
chất và
năng
lượng ở
VSV
22
Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất
và năng lượng ở VSV
2
23
Quá trình tổng hợp và phân giải
các chất ở VSV
2
Chương
II. Sinh
trưởng
và sinh
sản của
VSV
25 Sinh trưởng của VSV 2
26 Sinh sản của VSV 2
27
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh
trưởng của VSV
2
Chương
III.
Virut và
- Sử dụng BTTH cần phù hợp với các hình thức tổ chức dạy học.
- Sử dụng BTTH gắn liền PP kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
- Sử dụng BTTH thường xuyên và mang tính hệ thống.
- Sử dụng BTTH phải tạo được hứng thú.
b. Quy trình dạy học bằng BTTH
Bước 1. Đặt vấn đề
a. Tạo BTTH;
b. Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh;
c. Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
Bước 2. Giải quyết vấn đề
a. Đề xuất các giả thuyết;
b. Lập kế hoạch giải;
c. Thực hiện kế hoạch giải.
Bước 3. Báo cáo và kiểm định kết quả
a. Thảo luận kết quả (khẳng định hay bác bỏ
giả thuyết đã nêu) và đánh giá;
b. Phát biểu kết luận;
c. Đề xuất vấn đề mới.
Hình 2.3. Sơ đồ quy trình dạy học bằng BTTH
16
2.3.2. Các mức độ dạy học Sinh học 10 THPT bằng BTTH
Bảng 2.3. Các mức độ dạy học bằng BTTH cho từng bài trong Sinh học 10
Phần Chương Bài Tên bài dạy
Mức độ dạy
học bằng
BTTH
1 2 3 4
Phần
I.
Giới
9 Tế bào nhân thực (tiếp theo) + +
10 Tế bào nhân thực (tiếp theo) + +
11
Vận chuyển các chất qua màng sinh
chất
+ + + +
Chương
III.
Chuyển
hóa vật
chất và
năng
lượng
trong tế
bào
13
Khái quát về năng lượng và chuyển
hóa vật chất
+ +
14
Enzim và vai trò của enzim trong quá
trình chuyển hóa vật chất
+ +
16 Hô hấp tế bào + +
17 Quang hợp + +
Chương 18 Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân + +
17
Phần Chương Bài Tên bài dạy
Mức độ dạy
học bằng
trưởng
và sinh
sản của
VSV
25 Sinh trưởng của VSV + + +
26 Sinh sản của VSV + + +
27
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
của VSV
+ + +
Chương
III.
Virut và
bệnh
truyền
nhiễm
29 Cấu trúc các loại virut + +
30 Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ + + +
31 Virut gây bệnh. Ứng dụng của virut
trong thực tiễn
+ + +
32 Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch + + +
2.3.3. Các biện pháp sử dụng BTTH để tổ chức dạy học Sinh học 10
2.3.3.1. Sử dụng BTTH trong phương pháp thuyết trình
2.3.3.2. Sử dụng BTTH trong phương pháp hỏi đáp
2.3.3.3. Sử dụng BTTH để tăng cường làm việc cá nhân theo hướng tự học,
tự nghiên cứu
2.3.3.4. Sử dụng BTTH trong phương pháp thảo luận nhóm
2.3.4. Sử dụng BTTH để xây dựng các bài lên lớp trong dạy học Sinh học
10 THPT
lớp TN).
- Chúng tôi chọn lớp TN và lớp ĐC tại mỗi trường có số lượng, điều kiện,
kết quả học tập, trình độ, năng lực nhận thức của HS tương đương nhau. Tổng
số HS nhóm đối chứng là 188, nhóm thực nghiệm là 190.
3.3.2. Bố trí thực nghiệm
- Ở lớp ĐC: giáo án được thiết kế theo hướng dẫn của sách GV.
- Ở lớp TN: giáo án được thiết kế theo PP sử dụng BTTH đã đề xuất.
- Các lớp TN và ĐC có cùng GV giảng dạy, đồng đều về thời gian, nội
dung kiến thức và hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá.
- Sau mỗi chương, chúng tôi tiến hành kiểm tra chất lượng lĩnh hội kiến
thức của HS ở cả hai nhóm TN và ĐC với cùng thời gian và cùng đề kiểm tra (8
bài kiểm tra xem ở phụ lục 2 của luận án).
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm và biện luận
3.4.1. Kết quả phần kiểm tra trình độ lĩnh hội kiến thức của HS
Để đánh giá kết quả học tập thông qua việc nắm vững nội dung kiến thức
bài học thể hiện ở chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS, chúng tôi tiến hành
19
thiết kế và sử dụng tám đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS ở cả hai
lớp TN và ĐC bằng các câu hỏi tự luận và trắc nghiệm. Các lớp TN và ĐC
được sử dụng cùng loại đề như nhau ( đề kiểm tra trình bày ở phụ lục 3 của luận
án).
Các bài kiểm tra ở lớp TN và lớp ĐC được chấm theo thang điểm 10 và
chấm cùng một thời điểm. Cuối cùng phân tích kết quả thu được để đánh giá về
mặt định lượng và định tính.
3.4.1.1 Phân tích định lượng
Từ tổng số bài, điểm số ở lớp TN và ĐC tại 3 Trường THPT: Trung học
Thực hành thuộc Trường Đại học Sư phạm TP. HCM, Nguyễn Hiền, Lương
Thế Vinh, chúng tôi đã tiến hành lập bảng phân phối tần suất điểm, đồ thị
đường lũy tích, phân loại năng lực và các tham số đặc trưng của nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm, kết quả được trình bày ở bảng 3.2, 3.3, 3.4, 3.5 và
Kém (0-2) Yếu (3-4) TB (5-6) Khá (7-8) Giỏi (9-10)
TN
Tần
suất
0,53 8,51 25,51 39,55 25,90
ĐC 0,73 12,54 42,09 29,82 14,82
Bảng 3.5. Các tham số đặc trưng ở của nhóm lớp TN và ĐC tổng hợp 8 lần
kiểm tra
Lớp
Các tham số đặc trưng
± m
S
2
S C
v
(%)
t
d
TN 7,14 ± 0,05 3,32 1,82 25,29
11,29
ĐC 6,35 ± 0,05 3,26 1,81 28,50
Các đề kiểm tra được xây dựng và thống nhất đáp án chấm điểm. Qua
chấm bài, chúng tôi dễ dàng phân loại các mức độ kết quả học tập của HS.
Điểm kiểm tra
Tần suất lũy tích (%)
21
Kết quả xử lí bằng thống kê xác suất các đặc trưng thống kê giữa TN và
ĐC được tổng hợp của 8 bài kiểm tra cho thấy, hiệu quả của dạy học bằng
BTTH ở khối lớp TN luôn cao hơn so với lớp ĐC.
- Điểm trung bình của lớp TN là 7,14 cao hơn lớp ĐC là 6,35; hệ số biến
- Các BTTH nêu ra đã kích thích tính tích cực sáng tạo, tìm tòi của HS. HS
luôn được đặt trong trạng thái có vấn đề nên các em không còn thụ động tiếp
thu bài học mà trở thành người chủ động tham gia giải quyết tình huống để lĩnh
hội tri thức mới.
- Khi được hỏi về phương pháp học tập đang thực nghiệm, đa số HS ở lớp
TN cho rằng: việc sử dụng các BTTH trong dạy học môn Sinh học 10 giúp các
em dễ tiếp nhận kiến thức mới và ghi nhớ sâu sắc hơn. Nhưng điều làm các em
thỏa mãn hơn chính là có được sự hứng thú trong học tập. Các em nhận thấy
những nội dung của vấn đề được giải quyết rất cần thiết và có tính thực tiễn
cao. Do đó, bài học trở nên gần gũi với các em hơn. Một số HS khác còn cho
rằng khi GV tổ chức dạy học bằng BTTH, HS nhận thấy bản thân học được
nhiều điều hơn như: cách giải quyết một vấn đề khi gặp phải trong học tập, cách
khai thác nguồn thông tin để giải thích vấn đề, cách trình bày vấn đề,…
Chất lượng định tính bài làm của HS bộc lộ được khả năng giải quyết vấn
đề ở các câu hỏi vận dụng. HS sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, so
sánh, tổng hợp, khái quát hóa để trả lời câu hỏi.
22
3.4.2. Kết quả bước đầu đánh giá các kĩ năng đạt được từ việc học bằng
BTTH của HS
Trong thực nghiệm dạy học bằng BTTH, chúng tôi đã cố gắng tìm cách
đánh giá các kĩ năng đạt được từ việc học bằng BTTH của HS nhóm lớp TN
thông qua 3 kĩ năng cơ bản đã được nghiên cứu. Việc đánh giá được thực hiện
qua 8 bài kiểm tra bằng hệ thống các câu hỏi có chứa đựng nội dung cần hỏi
liên quan đến 3 kĩ năng. Thực nghiệm trên 190 HS trong 26 bài dạy học kiến
thức mới ở chương chương trình Sinh học 10 và qua 8 bài kiểm tra trong cả quá
trình thực nghiệm. Kết quả bảng 3.6 (xem ở luận án) cho thấy:
- Về kĩ năng phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh từ BTTH: Số HS phát
hiện và nhận dạng được đầy đủ yêu cầu của BTTH nhưng chưa biết lí giải, phát
hiện và nhận dạng được đầy đủ yêu cầu của BTTH và biết lí giải một số cơ sở
khoa học, phát hiện và nhận dạng được đầy đủ yêu cầu của BTTH và biết lí giải
- Về vai trò, tác dụng của việc sử dụng BTTH: Hầu hết HS cảm thấy rất
thích và thích học theo cách thức này (có tới 94,74 % rất thích và thích, chỉ có
5,26 % HS không thích). Qua trao đổi trực tiếp, HS cho rằng theo cách học
mới, cường độ học tập cao hơn, bản thân đã tự tin với suy nghĩ của mình để giải
quyết các BTTH nêu ra, trước đây trong giờ học môn Sinh học, HS cảm thấy
quá lâu hết giờ vì phải nghe GV giảng bài, bây giờ trong khi học có sử dụng
BTTH, HS cảm thấy thời gian trôi nhanh, luôn băn khoăn suy nghĩ, muốn hỏi,
muốn biết,
- Về tác dụng của dạy học bằng BTTH đối với HS là giúp HS lĩnh hội kiến
thức mới chiếm 92,63 %, phát triển tính tích cực và tư duy sáng tạo của HS
trong việc tìm kiếm kiến thức mới chiếm 97,37 %, vận dụng kiến thức đã học
để giải quyết BTTH chiếm 87,89 %, giúp HS tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội
kiến thức của bản thân chiếm 73,68 %. Trong quá trình giải quyết BTTH, HS
có dịp trao đổi, tranh luận về nội dung kiến thức cơ bản, thể hiện vốn hiểu biết,
kinh nghiệm của mình.
- Về thái độ học tập của HS khi dạy học có sử dụng BTTH:
+ 96,32 % HS hứng thú học tập.
+ 94,74 % HS tập trung chú ý nghe giảng.
+ 78,95 % HS kiên trì giải quyết BTTH.
+ 73,68 % HS tranh luận sôi nổi.
+ 4,21 % HS không tham gia giải quyết BTTH.
Đại đa số HS cho rằng việc giải quyết BTTH đã làm cho họ không còn tiếp
thu kiến thức lí thuyết một chiều, họ phải tự lực tìm tòi khám phá tri thức chính
trong các BTTH, do đó hoạt động nhận thức của họ tích cực, chủ động hơn. Có
thể nói rằng, sử dụng BTTH trong dạy học đã thực sự giúp HS phát huy vai trò
chủ thể tích cực, chủ động trong học tập, nghiên cứu để chiếm lĩnh kiến thức,
rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.
Tóm lại, việc sử dụng BTTH để tổ chức dạy học Sinh học 10 bằng BTTH
đã bước đầu đem lại hiệu quả. Vì vậy, nếu xây dựng được hệ thống các BTTH
có chất lượng kết hợp với phương pháp sử dụng chúng phù hợp thì sẽ đem lại
2.1. Đề tài chỉ mới đề xuất sử dụng BTTH tổ chức dạy học 26 bài môn
Sinh học 10. Cần triển khai nghiên cứu sử dụng BTTH các bài còn lại và cả các
nội dung Sinh học 11, Sinh học 12 THPT.
2.2. Việc sử dụng BTTH đem lại hiệu quả cao trong dạy học. Tuy nhiên,
đây là PPDH đòi hỏi người GV có nhiều kinh nghiệm, năng lực và phải đầu tư
nhiều công sức, thời gian. Vì vậy, các cấp lãnh đạo trong nhà trường phổ thông
cần có hình thức khuyến khích, bồi dưỡng GV tăng cường sử dụng PPDH này
trong việc xây dựng chương trình tự chủ của nhà trường theo chủ trương của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.