XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8 - Pdf 28

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA SINH HỌC

TIỂU LUẬN
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY
THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8
Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:
PGS,TS. Phan Đức Duy Nguyễn Thị Hải Lý
Lớp LL&PPDHBM Sinh học K22
HUẾ, 11/ 2014
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 1
MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện một số kĩ năng tư duy thực
nghiệm trong dạy học sinh học 8 .
I.1. Bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng phân tích thí nghiệm
I.2. Bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm
I. 3. Bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng so sánh.
I.4. Bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng phán đoán – suy luận.
I.5. Bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng thiết kế thí nghiệm.
II. Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện một số kĩ năng tư duy thực
nghiệm trong dạy học Sinh học 8.
II.1. Qui trình chung.
II.2. Ví dụ.

hướng đến điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo. Dựa trên cái cũ đã
biết, cần đặt ra cho học sinh những nhiệm vụ tìm tòi, những mâu thuẫn, những
vấn đề, những mối liên hệ mới… cần phát hiện. Trên cơ sở đó mà tăng cường các
hoạt động nhận thức và tư duy của học sinh.
Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình giảng dạy các môn khoa học thực nghiệm
nói chung và môn Sinh học nói riêng ở trường phổ thông hiện nay vẫn còn áp
dụng phương pháp dạy học cổ truyền: thông báo, nhồi nhét kiến thức, lí thuyết
chưa gắn với thực hành. Học sinh không được tạo điều kiện để bồi dưỡng phương
pháp nhận thức, rèn luyện tư duy khoa học, phát triển năng lực tự giải quyết vấn
đề. Việc rèn luyện các kỹ năng tư duy thực nghiệm cho học sinh cũng chưa được
chú trọng…Hậu quả của các tồn tại trong dạy học nói trên đã dẫn đến hạn chế sự
phát triển tư duy của học sinh, dần dần mất đi những hiểu biết sáng tạo vô cùng lí
thú của bộ môn khoa học thực nghiệm này.
Do đó đổi mới phương pháp dạy học và tập trung vào vấn đề rèn luyện kỹ
năng cho học sinh là một vấn đề cấp bách, nhằm tạo ra những con người mới
năng động, sáng tạo đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, phục vụ công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Một trong những hướng hiện nay đang được các nhà khoa học giáo dục
quan tâm là học tập thông qua vấn đề: Dạy học tình huống. Từ việc giải quyết các
tình huống, một mặt các em được trang bị, củng cố tri thức, mặt khác rèn luyện
cho các em một số kỹ năng tư duy. Đặc biệt là các kỹ năng tư duy thực nghiệm
khi giải quyết các tình huống thực hành.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 3
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Xây dựng bài tập tình
huống để rèn luyện một số kỹ năng tư duy thực nghiệm trong dạy- học Sinh
học 8”.
NỘI DUNG
I. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT
SỐ KỸ NĂNG TƯ DUY THỰC NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC SINH HỌC.

+ Ống nghiệm 2 và 3: Hồng cầu không bị kết dính.
Bạn Tuấn cho rằng: Nhóm máu của người đem cho là nhóm máu B.
Theo em, ý kiến của bạn Tuấn có đúng không? Dựa vào đâu để xác định nhóm
máu của người cho thuộc nhóm máu gì?
Nếu lấy hồng cầu của người đó cho vào huyết tương của người có nhóm máu O
thì hiện tượng gì sẽ xảy ra? Giải thích vì sao?
( Để củng cố phần “Các nguyên tắc truyền máu”, Sinh học 8).
Bài tập 3:
Có một nhóm học sinh tiến hành làm thí nghiệm như sau:
- Bước 1: Mổ cung đốt sống của ếch để tìm rễ tủy.
- Bước 2: Cắt rễ trước liên quan đến dây thần kinh đi đến chi sau bên phải.
Kích thích bằng dung dịch HCl 1% vào chi sau bên phải.
- Bước 3: Cắt rễ sau liên quan đế dây thần kinh đi đến chi sau bên trái. Kích
thích bằng dung dịch HCl 1% vào chi sau bên trái.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 5

Hiện tượng: Khi kích thích vào chi sau bên phải, chi đó không co nhưng tất
cả các chi còn lại co. Khi kích thích vào chi sau bên trái thì không có chi nào co.
Bạn Lan cho rằng: Rễ sau dẫn truyền xung cảm giác. Rễ trước dẫn truyền
xung vận động.
Theo em, ý kiến của bạn Lan đúng không? Tại sao?
Thí nghiệm trên nhằm mục đích gì?
(Để dạy, củng cố phần “Chức năng của dây thần kinh tủy”, Sinh học 8)
I.2. Bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng thực hành thí nghiệm.
Bài tập 1:
Trong giờ học thể dục, bạn Nam đang thực hiện động tác nhảy cao, không
may bị ngã và gãy xương cẳng tay trái.
Nhóm bạn thứ nhất cho rằng nên cõng Nam chạy thật nhanh vào phòng y tế
của trường để sơ cứu và băng bó.
Nhóm bạn thứ hai khuyên nên để bạn nằm yên, dùng gạc (khăn) sạch nhẹ

Để kiểm tra rễ nào còn hay bị đứt, bạn ấy đã làm thí nghiệm như sau: Kích
thích dung dịch HCl 1% vào lần lượt các chi. Kết quả:
+ Nếu khi bị kích thích, chi đó không co còn các chi còn lại co -> Chứng tỏ rễ
trước (rễ vận động) của chi đó bị đứt.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 7
+ Nếu khi bị kích thích, không có chi nào co chứng tỏ rễ sau (rễ cảm giác) của chi
đó bị đứt.
Có ý kiến cho rằng: bạn Quang nên kích thích vào tất cả các chi của ếch
mới kiểm tra được rễ nào còn hay đã bị đứt.
Em có đồng ý với ý kiến trên không? Tại sao?
(Để dạy, củng cố phần “Chức năng của dây thần kinh tủy”, Sinh học 8.
I.3. Bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh.
Bài tập 1:
Chuẩn bị: 4 ống nghiệm, ống nhỏ giọt, chậu thủy tinh 4-5 lít, dung
dịch hồ tinh bột, dung dịch iôt 1%, dung dịch HCl 2%, dung dịch nước bọt, nước
lã, đèn cồn, nhiệt kế, ống đong chia độ (10ml), cuộn giấy đo pH, phếu nhỏ và
bông lọc.
Ống 1: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước lã
Ống 2: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt
Ống 3: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt đã đun sôi
Ống 4: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt + vài giọt ddHCl 2%.
- Dùng giấy đo pH của các dung dịch trong ống nghiệm.
- Cho 4 ống nghiệm trên vào chậu thủy tinh chứa nước và đun đến 37
0
C
- Thêm vào mỗi ống nghiệm vài giọt dd iot 1%.
Hãy so sánh kết quả của các ống nghiệm? Giải thích sự khác nhau của các
ống nghiệm. Từ đó rút ra kết luận gì?
(Dùng để dạy, củng cố phần “Hoạt động của enzim amilaza trong nước
bọt”, Sinh học 8).

HCl 3%, ống nhỏ giọt, giá treo, bông, khăn lau.
Một nhóm bạn tiến hành thí nghiệm như sau:
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 9
- TN1: Kích thích lần lượt các ddHCl 0,3%, HCl 1% và HCl 3% vào chi sau
bên phải thấy tất cả các chi đều co.
- TN2: Cắt ngang tủy rồi kích thích rất mạnh vào chi trước rồi đến chi sau
bằng HCl 3% . Hiện tượng: Khi kích thích chi trước chỉ có hai chi trước
co. Kích thích vào chi sau chỉ có hai chi sau co.
- TN3: Hủy tủy ở trên vết cắt ngang, kích thích rất mạnh vào chi trước bằng
HCl 3% . Hai chi trước đều không co.
Bạn Nam dự đoán: “Vì tủy sống có các căn cứ thần kinh điều khiển hoạt động
của các chi. Do đó, mặc dù ếch đã bị hủy não nhưng khi bị kích thích ếch vẫn
co chi”.
Theo em, bạn Nam dự đoán chính xác chưa? Giải thích?
(Dạy Chức năng của tủy sống, Sinh học 8).
Bài tập 3:
Chuẩn bị: 4 ống nghiệm đựng 4 nhóm máu O, A, B, AB. Trước khi làm thí
nghiệm, bạn Tuấn dự đoán: “Lấy máu nhóm A cho vào 3 ống nghiệm còn lại thì
sẽ có 2 ống nghệm xảy ra hiện tượng kết dính hồng cầu”.
Theo em, dự đoán của bạn Tuấn có chính xác không? Em hay làm thí
nghiệm để chứng minh ý kiến của em và giải thích hiện tượng xảy ra. Bằng cách
nào để nhận biết được ống nghiệm nào chứa nhóm máu gì?
(Để củng cố phần “Các nguyên tắc truyền máu”, Sinh học 8.
Bài tập 4:
Chuẩn bị một mẫu bánh mì. Trước khi làm thí nghiệm nhai bánh mì, bạn
Mai dự đoán: “Khi nhai bánh mì, nước bọt sẽ tiết ra và làm cho tinh bột trong
bánh mì chuyển thành đường giúp ta cảm giác có vị ngọt”.
Dự đoán của em có giống với bạn Mai không? Giải thích dự đoán của em?
Chất nào có trong nước bọt đã làm biến đổi tinh bột thành đường? Khi bị sốt cao,
em nhai bánh mì có cảm thấy vị ngọt không? Vì sao?

Mẫu vật: Một con ếch còn sống.
Hóa chất: Dung dịch HCl nông độ: 0,3%; 1%; 3%.
Hãy thiết kế thí nghiệm tìm hiểu chức năng của tủy sống liên quan đến cấu tạo.
Làm thế nào để thí nghiệm được chính xác?
(Dành cho HS giỏi, dạy phần chức năng liên quan đến cấu tạo của tủy sống)
II. QUY TRÌNH SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ
NĂNG TƯ DUY THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8.
II.1. Qui trình chung:
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 12
Giới thiệu tình huống
Học sinh tự lực làm việc
Thảo luận toàn lớp
Kết luận, chính xác hóa kiến thức, xác
định hướng giải quyết hợp lí, học sinh
tự hoàn thiện kĩ năng
* Bước 1: Giáo viên giới thiệu tình huống.
Giáo viên cần nêu rõ các giả thiết và yêu cầu của tình huống.
Đối với tình huống thực hành cần có đầy đủ các thiết bị và phương tiện để
tiến hành thực hành. Khi giới thiệu giáo viên có thể kiểmr tra học sinh chuẩn bị
các dụng cụ thí nghiệm trước (nếu có).
* Bước 2: Học sinh nghiên cứu giải quyết tình huống.
Tùy theo tình huống dài hay ngắn, phức tạp hay đơn giản, thời gian, quy
mô lớp học hay mục tiêu dạy học mà giáo viên có thể ttỏ chức cho học sinh giải
quyết tình huống bằng cách làm việc độc lập từng cá nhân, từng đôi, từng nhóm.
Nếu tổ chức làm việc theo nhóm cần chú ý:
+ Nêu rõ nhiệm vụ, thời gian và cáh thức làm việc của nhóm.
+ Nhiệm vụ của từng học sinh khi làm việc trong nhóm.
+ Trong thời gian học sinh làm việc, giáo viên phải đi đến từng nhóm để
theo dõi, điều chỉnh, giúp đỡ khi cần thiết (nếu tình huống thực hiện trên lớp học).
* Bước 3: Tổ chức thảo luận toàn lớp.

(Dùng để dạy, củng cố phần “Thành phần hóa học và tính chất của xương”, Sinh
học 8).
Bước 2: Học sinh tự lực làm việc.
Với tình huống này có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm 4
người.
Bước 3: Thảo luận cả lớp.
Trên cơ sở phân tích các điều kiện thí nghiệm và kết quả thí nghiệm học
sinh có thể rút ra được kết luận.
Giáo viên có thể nêu ra các câu hỏi gợi ý:
+ Hiện tượng sủi bọt khí chứng tỏ trong thành phần hóa học của xương có chứa
chất gì? Thành phần nào bị hòa tan vào axit?
+ Thành phần hóa học nào của xương đã bị cháy có mùi khét?
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 14
+ Thành phần nào tạo nên tính cứng chắc, thành phần nào tạo nên tính mềm dẻo
của xương?
Bước 4: Giáo viên kết luận.
- Thành phần hóa học của xương gồm chất hữu cơ (chất cốt giao) và chất
vô cơ.
- Chất hữu cơ làm cho xương mềm dẻo, đàn hồi. Chất vô cơ tạo nên tính
cứng chắc cho xương.
Học sinh nghiên cứu phần giải quyết tình huống của giáo viên, đối chiếu
cách phân tích tổng hợp của bản thân. Phân tích điểm đạt, điểm chưa đạt để hoàn
thiện kĩ năng.
II.2.2. Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng thực hành thí nghiệm.
Tình huống để dạy, củng cố kĩ năng thực hành thí nghiệm phần “Thực hành: Tập
sơ cứu và băng bó cho người bị gãy xương”, Sinh học 8.
Bước 1: Giới thiệu tình huống.
Trong giờ học thể dục, bạn Nam đang thực hiện động tác nhảy cao, không
may bị ngã và gãy xương cẳng tay trái.
Nhóm bạn thứ nhất cho rằng nên cõng Nam chạy thật nhanh vào phòng y tế

Ống 3: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt đã đun sôi
Ống 4: 2ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt + vài giọt ddHCl 2%.
- Dùng giấy đo pH của các dung dịch trong ống nghiệm.
- Cho 4 ống nghiệm trên vào chậu thủy tinh chứa nước và đun đến 37
0
C
- Thêm vào mỗi ống nghiệm vài giọt dd iot 1%.
Hãy so sánh kết quả của các ống nghiệm? Giải thích sự khác nhau của các
ống nghiệm. Từ đó rút ra kết luận gì?
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 16
Nếu thay dd iot bằng dd strome thì hiện tượng gì sẽ xảy ra ở các ống nghiệm?
Dựa vào hiện tượng này có thể rút ra kết luận: dưới tác dụng của enzim amilaza
(ở 37
0
C, pH = 7,2) dd hồ tinh bột bị biến đổi thành đường mantozơ được không?
Giải thích?
Bước 2: Học sinh tự lực làm việc.
Với tình huống này có thể cho học sinh làm việc theo nhóm 4 người.
Bước 3: Tổ chức thảo luận cả lớp.
Trên cơ sở phân tích các điều kiện thí nghiệm, so sánh các điều kiện thí
nghiệm của 4 ống nghiệm, học sinh có thể xác định các điểm giống nhau và khác
nhau của thí nghiệm; Giải thích được sự khác biệt về kết quả của ống nghiệm 2.
Bước 4: Giáo viên kết luận:
- Enzim amilaza trong nước bọt có tác dụng biến đổi tinh bột thành đường
mantozơ.
- Enzim amilaza hoạt động tốt nhất ở điều kiện 37
0
C (nhiệt độ cơ thể người)
và pH ≈ 7,2.
Học sinh nghiên cứu phần giải quyết tình huống của giáo viên, đối chiếu

Bước 4: Giáo viên kết luận.
Dự đoán của bạn Nam chưa đầy đủ.
- Trong tủy sống có nhiều căn cứ (trung khu) thần kinh điều khiển sự vận
động của các chi.
- Các căn cứ đó có sự liên hệ với nhau theo các đường liên hệ dọc.
II.2.5. Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kĩ năng thiết kế thí nghiệm.
Tình huống ôn tập, củng cố phần “Sự hình thành và ức chế phản xạ có điều kiện”,
Sinh học 8.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 18
Bước 1: Giới thiệu tình huống.
Có bạn nói rằng: “ Phản xạ có điều kiện dễ thành lập, dễ thay đổi, tạo điều
kiện cho cơ thể thích nghi với điều kiện sống mới. Phản xạ có điều kiện dễ mất
nếu không được thường xuyên củng cố”.
Bằng thí nghiệm, em hãy chứng minh sự thành lập và ức chế phản xạ có
điều kiện nói trên với dụng cụ, mẫu vật là một con chó, thức ăn, mõ gõ.
Bước 2: Học sinh tự lực làm việc.
Tình huống này có thể tổ chức cho học sinh thực hiện theo nhóm thực
hành.
Bước 3: Tổ chức thảo luận cả lớp.
Trong chương trình sinh học 8 không có bài thực hành thành lập và ức chế
phản xạ có điều kiện. Trên cơ sở học sinh hiểu biết về khái niệm phản xạ và thí
nghiệm thành lập phản xạ có điều kiện tiết nước bọt bằng ánh đèn của Pavlov, HS
có thể tự mình thiết kế các thí nghiệm theo các cách mà các em biết. Học sinh tự
thảo luận để đưa ra thí nghiệm đúng.
Bước 4: Giáo viên kết luận.
Đối với dạng bài tập này, giáo viên không nên cứng nhắc một phương án
nào đó, hãy để học sinh phát huy tính sáng tạo. Giáo viên chỉ là người cố vấn và
bổ sung để thí nghiệm của học sinh thiết kế được chính xác.
Học sinh dựa vào các ý kiến góp ý của giáo viên và các nhóm khác, tự nhận
định điểm nào mình đạt, điểm nào chưa đạt, tự điều chỉnh và hoàn thiện kĩ năng.

3. Hà Lệ Chi (2003), Sử dụng tình huống để rèn luyện một số kỹ năng
nhận thức cho học sinh trong dạy học sinh học ở trường trung học phổ
thông” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm,
Huế.
4. Nguyễn Cương và cs (2001), Phương pháp dạy học hóa học tập 1, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Dung (2006) “ Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ
thực hành củng cố Môn sinh học ở phổ thông”, Tạp chí Khoa học Giáo
dục, (6), tr19-22.
6. Cao Cự Giác (2004), “Phát triển khả năng tư duy và thực hành thí
nghiệm qua các bài tập hóa học thực nghiệm”, Tạp chí Giáo dục, (88),
tr. 34-35.
7. Trịnh Nguyên Giao, (2004), “Về hoạt động độc lập của học sinh trong
dạy học sinh học”, Tạp chí Giáo dục, (78), tr40-41.
8. Nguyễn Thị Liên, (2004), Khai thác, sử dụng bài tập thí nghiệm nhằm
phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong dạy học phần quang
học lớp 7 THCS, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học
Sư phạm, Huế.
9. Đào Như Phú (1998), Thí nghiệm thực hành sinh học ở trường trung
học phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Học viên: Nguyễn Thị Hải Lý – Lớp LL & PPDHBM Sinh học – K22 21
10.Hồ Thị Kim Phụng, (2005), Hệ thống kỹ năng cần rèn luyện cho học
sinh qua câu hỏi bài tập hóa đại cương và vô cơ ở trường THPT, Luận
văn thạc sỹ.
11.Nguyễn Văn Quang, Võ Thành Phước, (2004), “ Rèn luyện thói quen dự
đoán, mày mò, phân tích tổng hợp- một biện pháp hình thành, phát triển
tư duy sáng tạo cho học sinh”, Tạp chí Giáo dục số 88, tháng 6, Tr30-
31.
12.Trần Sinh Thành, Đặng Quang Khoa (2003), “ Hình thành kỹ năng phán
đoán cho sinh viên sư phạm kĩ thuật thông qua dạy học thực hành”, Tạp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status