1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN TRUNG HẬU
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
BA GIỐNG CÀ CHUA QUA HAI KIỂU TRỒNG
DÙNG LÀM KIỂNG
Lun văn tt nghip
Ngnh: TRỒNG TRỌT Cn b hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
PGS.TS. TRẦN THỊ BA
TRẦN TRUNG HẬU
ThS. VÕ THỊ BÍCH THỦY
MSSV: 3103399
LỚP: TRỒNG TRỌT- KHÓA 36
Cần Thơ – 2013 i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt, với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
BA GIỐNG CÀ CHUA QUA HAI KIỂU TRỒNG
Tác giả luận văn Trần Trung Hậu iii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành
Trồng Trọt với đề tài:
KHẢO SÁT SƯ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
BA GIỐNG CÀ CHUA QUA HAI KIỂU TRỒNG
DÙNG LÀM KIỂNG Do sinh viên Trần Trung Hu thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá mức:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
2. Trung học Cơ s
Thời gian: 2003 – 2007
Trường: Trung học cơ s Tân An
Địa chỉ: xã Tân An, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
3. Trung học Phổ thông
Thời gian: 2007 – 2010
Trường: Trung học phổ thông Nguyễn Quang Diêu
Địa chỉ: xã Tân An, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
4. Đại học
Thời gian: 2010 – 2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.
Chuyên ngành: Trồng Trọt (Khóa 36)
Ngày….tháng….năm 2013
Trần Trung Hậu
v
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người.
Xin t lng bit ơn sâu sc đn
- PGS.TS. Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý
và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt
luận văn này.
- Thầy Bùi Văn Tùng đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
này.
- ThS. Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Khái quát về cà chua 2
1.1.1 Nguồn gốc cà chua 2
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng 2
1.1.3 Đặc điểm thực vật của cà chua 2
1.1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cà chua 4
1.2 Sản xuất rau trong nhà lưới 5
1.3 Ghép cà chua 6
1.3.1 Cơ s khoa học của việc ghép 6
1.3.2 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép 7
1.3.3 Tình hình ghép cà chua trên thế giới và Việt Nam 7
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về cà chua 9
1.5 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng 9
1.5.1 Ở thế giới 9
1.5.2 Ở Việt Nam 10
1.5.3 Giá trị kinh tế 11
1.5.4 Giá trị thẩm mỹ 11
1.5.5 Giá trị tinh thần xã hội 11
1.5.6 Hoa, cây kiểng và sự cải thiện môi trường 12
1.6 Cơ s khoa học của quang hướng động và địa hướng động 12
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 13
2.1 Phương tiện 13
2.1.1 Địa điểm và thời gian 13
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn 13
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 13
2.2 Phương pháp 14
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 14
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 17
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 17
PHỤ CHƯƠNG
viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
2.1
Tình hình khí tượng thủy văn từ 11/2011 – 1/2012 (Đài khí tượng thủy
văn TP. Cần Thơ, 2011 – 2012)
13
2.2
Tổ hợp các nghiệm thức của thí nghiệm Khảo sát sự sinh trưng của ba
giống cà chua ghép dùng làm kiểng qua hai kiểu trồng chậu được đặt
dưới đất
15
2.3
Thang đánh giá cảm quan về đặc điểm trái trên cây, hình dạng và màu
sắc trái của 3 giống cà chua làm kiểng
18
2.4
Thang đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày thí nghiệm chậu đặt dưới
3.7
Chiều cao gốc ghép (cm) của 2 kiểu trồng và 4 tổ hợp giống cà kiểng
chậu được treo qua các thời điểm khảo sát
26
3.8
Chiều cao cây (cm) của 2 kiểu trồng 4 tổ hợp giống cà kiểng chậu được
treo qua các thời điểm khảo sát
27
3.9
Số lá của 2 kiểu trồng và 4 tổ hợp giống cà kiểng thời điểm 60 NSKT
chậu được treo
28
3.10
Tổng số chùm hoa/chậu của 2 kiểu trồng 4 tổ hợp giống cà kiểng chậu
được treo
29
3.11
Tổng số trái/chậu của 2 kiểu trồng và 4 tổ hợp giống cà kiểng chậu
được treo
30
ix
3.12
Tổng trọng lượng trái/chậu (kg) của 2 kiểu trồng và 4 tổ hợp giống cà
kiểng chậu được treo
31
3.13
Đánh giá cảm quan về đặc điểm trái trên cây, hình dạng và màu sắc trái
của 3 giống cà chua làm kiểng chậu đặt dưới đất và chậu treo
32
Ruby + Rulow – trồng tách, (c) Ruby + Savior – trồng chụm, (d) Ruby
+ Savior – trồng tách, (e) Rulow + Savior – trồng chụm, (f) Rulow +
Savior – trồng tách, (g) Ruby + Rulow + Savior – trồng chụm, (h) Ruby
+ Rulow + Savior – trồng tách
36 xi
TRẦN TRUNG HẬU. 2013. “Khảo st sự sinh trưởng v pht triển ba ging c
chua qua hai kiểu trồng dùng lm kiểng”. Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành
Trồng Trọt, khoa Nông Nghiệp & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ.
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần Thị Ba và ThS. Võ Thị Bích Thủy.
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện trong nhà lưới Nghiên cứu rau sạch, khoa Nông nghiệp
và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ, từ tháng 11/2011 - 1/2012 nhằm xác định
các giống cà chua ghép thích hợp trồng chung và kiểu trồng chụm hay tách để cây
cà kiểng ghép sinh trưng, phát triển tốt; tạo ra một chậu cà kiểng đẹp mắt và hấp
dẫn. Hai thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nhân tố,
5 lặp lại, nhân tố 1 là 2 kiểu trồng: (1) chụm: trồng các gốc cà chua chụm lại với
nhau trên cùng 1 chậu và (2) tách: trồng các gốc cà chua xa nhau trên cùng 1 chậu
và nhân tố 2 là 4 tổ hợp giống cà chua/chậu: (1) Ruby + Rulow, (2) Ruby + Savior,
(3) Rulow + Savior, (4) Ruby + Rulow + Savior. Thí nghiệm 1: tổ hợp các giống cà
chua kiểng được trồng trong chậu đặt dưới đất và Thí nghiệm 2: tổ hợp các giống cà
chua kiểng được trồng trong chậu treo lên cao.
Kết quả cho thấy đối với 2 kiểu trồng chụm và tách cây cà kiểng trồng trong
chậu đặt dưới đất và chậu treo đều cho sinh trưng và phát triển như nhau. Đối với
4 tổ hợp giống, (1) cà kiểng trồng trong chậu đặt dưới đất: tổ hợp giống Ruby +
Rulow luôn phát triển chiều dài thân chính vượt trội (105,00 cm), tổng số trái/chậu
(79,20 trái/chậu) và trọng lượng trái/chậu đạt cao nhất tổ hợp giống Ruby +
Nhưng chưa có nghiên cứu về trồng các giống cà chua/chậu theo kiểu trồng chụm
hay tách. Vì vậy, đề tài “Khảo st sự sinh trưởng v pht triển ba ging cà chua
qua hai kiểu trồng dùng lm kiểng” nhằm xác định tổ hợp giống cà chua và kiểu
trồng thích hợp cho ra một chậu cà kiểng đẹp đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
2
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Khái quát v cây cà chua
1.1.1 Nguồn gc cà chua
Cà chua có tên khoa học là Lycopersicon esculentum Mill, tên tiếng anh là
Tomato thuộc họ cà (Solanaceae). Cà chua có nguồn gốc vùng Trung và Nam
châu Mỹ, các nước Pêru, Bôlivia, Equador (Tạ Thu Cúc, 2005 và Phạm Hồng
Cúc, 2007). Cà chua được trồng phổ biến vào Trung Quốc và các nước Đông Nam
Á khoảng thế kỷ XVII (Phạm Hồng Cúc, 2007). Theo Tạ Thu Cúc (2004), năm
1750 cà chua được dùng làm thực phẩm nước Anh. Đến thế kỷ XIX (1830) trái cà
chua tr thành loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn thường ngày. Năm 1860
cà chua tr thành cây trồng chính của nước Pháp. Người Mehico có lịch sử trồng cà
chua lâu đời nhất (Đường Hồng Dật, 2003). Ở Việt Nam cà chua được trồng khoảng
trên 100 năm nay (Tạ Thu Cúc, 2004).
1.1.2 Giá tr dinh dưỡng
Cà chua là loại rau ăn trái có giá trị dinh dưỡng cao, trong trái chín có nhiều
chi phối bi nhiệt độ, đặc tính lá thể hiện đầy đủ khi cây có chùm hoa đầu tiên
(Phạm Hồng Cúc, 2007). Năng suất cà chua cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng lá
và kích thước lá trên cây bi vì lá giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp
và cung cấp dinh dưỡng để nuôi trái (Chu Thị Thơm và ctv., 2005 và Lê Văn Hòa
và ctv., 2001).
* Hoa: theo Tạ Thu Cúc (2005), hoa cà chua là loại hoa hoàn chỉnh (bao gồm
lá đài, cành hoa, nhị và nhụy). Cà chua tự thụ phấn là chủ yếu do đặc điểm cấu tạo
của hoa, tuy nhiên hiện tượng thụ phấn chéo cũng xảy ra. Số chùm hoa trên cây từ 4
– 20, số lượng hoa trên chùm dao động từ 2 – 26 hoa, đôi khi có 30 – 100 hoa
(Phạm Hồng Cúc, 2007). Theo Tạ Thu Cúc (2004), số chùm hoa trên cây phụ thuộc
vào giống và điều kiện ngoại cảnh. Ngoài ra thân, lá sinh trưng mạnh mẽ sẽ làm
chậm sự hình thành mầm hoa và ngược lại sự hình thành mầm hoa, trái sẽ làm chậm
và ngưng sinh trưng của cơ quan dinh dưỡng (Tạ Thu Cúc, 2005). Cây cà chua có
khả năng cho rất nhiều hoa nhưng tỉ lệ rụng hoa lớn. nguyên nhân dẫn đến sự rụng
hoa rất phức tạp, nguyên nhân cơ bản là do điều kiện ngoại cảnh bất lợi, sâu bệnh
hại và kỹ thuật trồng trọt (Tạ Thu Cúc, 2005).
* Trái: thuộc loại trái mộng nhiều nước, có số lượng ô khác nhau, hình dáng
quả thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài, màu sắc và số trái khác nhau phụ thuộc vào
giống, điều kiện nhiệt độ (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003). Trọng lượng
trái thay đổi từ 20 gam cà cherry đến 300 gam cà chua trái lớn, trong trái xanh
có chứa một lượng chất độc là tomatine, lượng chất này giảm dần theo mức độ chín
của quả (Phạm Hồng Cúc, 2007).
* Hạt: cà chua nhỏ, dẹp, nhọn, cuống hạt màu vàng sáng, vàng tối hay vàng
nhạt; hạt khô có màu vàng bao phủ lông tơ, 1 gam chứa 300 – 350 hạt, một quả
chứa 50 – 350 hạt, sức nảy mầm của hạt mạnh có thể dự trữ 4 – 5 năm (Nguyễn Văn
Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003). 4
1.1.4 Yêu cầu điu kin ngoại cảnh của c chua
C và quả chín nhiệt độ 24 – 30
0
C, khi trái chín nhiệt độ cao trong thời gian dài
sẽ bị mềm, trên 35
0
C sắc tố màu đỏ bị phân giải (Tạ Thu Cúc, 2004). Theo Trần Thị
Ba và ctv. (1999), nhiệt độ trên 35
0
C sự tăng trưng của cà chua bị giảm, hạt phấn
tr nên bất thụ, hoa chóng tàn và không kết trái.
* Ánh sáng: trong từng loại rau khác nhau thì yêu cầu về cường độ sáng cũng
khác nhau. Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999), cà chua là cây ưa ánh sáng mạnh,
cường độ ánh sáng tối thiểu để cây tăng trưng là 2000 – 3000 lux, cường độ tối
hảo để cây cà chua phát triển tốt là 20.000 hay cao hơn và 80.000 – 100.000 lux
cây bị héo, trái và lá bị cháy nắng. Cà chua thích ánh sáng trực tiếp, tuy nhiên nắng
gay gắt vào buổi trưa có thể làm cây héo, lá và trái bị cháy nắng, trơi âm u nhiều
mây mù cà chua sinh trưng kém, phẩm chất giảm (Phạm Hồng Cúc, 2007), nếu
trồng cây trong điều kiện thiếu ánh sáng dẫn đến cây yếu ớt, lá nhỏ, mỏng, lóng
vươn dài, ra hoa chậm, năng suất và chất lượng giảm, hương vị kém.
* Ẩm độ: ẩm độ ảnh hưng nhiều đến sinh trưng và phát triển của cây
trồng, ẩm độ thích hợp cây sinh trưng tốt, ít sâu bệnh. Theo Phạm Hồng Cúc
(2007), ẩm độ không khí ảnh hưng đến sự phát triển của cà chua, ẩm độ không khí
tốt nhất cho cây phát triển là 45 – 60%. Khi ẩm độ không khí trên 65% cây dễ bị
bệnh (Tạ Thu Cúc, 2004). Nhiệt độ và ẩm độ cao của vùng nhiệt đới gây tr ngại
cho việc thụ phấn nên cà chua khó đậu trái. Trong điều kiện ẩm và lạnh hàm lượng
vitamin tích lũy nhiều hơn trong điều kiện nóng ẩm.
* Nước: chế độ nước trong cây là yếu tố quan trọng ảnh hưng đến cường độ
của các quá trình sinh lý cơ bản như: quang hợp, sinh trưng và phát triển (Tạ Thu
Cúc, 2002). Cà chua là cây ưa ẩm, chịu hạn nhưng không chịu úng. Đất quá ẩm bộ
5.000 m
2
, tại Biên Hòa đã đạt 20.000 m
2
. Riêng nhà lưới trồng rau ĐBSCL gồm
các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng cũng đạt khoảng
20.000 m
2
.
Ở Việt Nam, nhà kính và nhà lưới tiên tiến chỉ được sử dụng với diện tích
nhỏ các viện, trường, trung tâm nghiên cứu nông nghiệp để nhằm phục vụ nghiên
cứu do giá thành chi phí rất cao, đồng thời đòi hỏi người quản lý có trình độ chuyên
môn cao. Tuy nhiên nhiều địa phương nông dân đang sử dụng các dạng nhà lưới
tự tạo đơn giản, chi phí thấp nhưng đạt hiệu quả khá cao. Theo Trần Thị Ba (2010),
6
trồng cây trong nhà lưới có nhiều ưu điểm hơn so với trồng tự nhiên ngoài đồng như
chủ động được trong sản xuất, cây có thể trồng trên đất khó canh tác bình thường,
loại trừ độc từ đất, sâu, bệnh hại. Việc xây dựng nhà kính, nhà lưới đòi hỏi phải có
chi phí đầu tư ban đầu rất lớn đặc biệt là hệ thống nhà lưới tự động được trang bị
đầy đủ phương tiện như hệ thống tưới, kiểm soát và điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ bên
trong nhà lưới, chi phí đầu tư xây dựng, bảo hành và sử dụng rất cao.
Đối với hệ thống tưới nhỏ giọt, đây là hệ thống phức tạp và quan trọng nhất
trong nhà lưới. Hệ thống này phải tỉ mỉ và có độ chính xác cao để đảm bảo điều
kiện tốt nhất cho cây trồng, nếu bị lỗi trong việc đo lường có thể gây nguy hiểm cho
cây trồng (Papadopoulos, 1991).
Thuận lợi của hệ thống tưới nhỏ giọt là tiết kiệm lượng nước tưới, giảm mất
phân và tiết kiệm 15 – 40% chi phí cho tưới nước so với viếc áp dụng các kiểu tưới
khác. Theo Hồ Hữu An (2005), việc tưới bằng hệ thống tưới nhỏ giọt còn cho phép
điều chỉnh chính xác độ pH, EC và nồng độ dinh dưỡng cung cấp cho cây.
sinh trưng càng tốt, tuổi thọ càng dài.
Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép được thể hiện sức tiếp hợp giữa gốc và
ngọn ghép được đánh giá bằng tỉ số tiếp hợp T:
T = Đường kính gốc ghép/đường kính ngọn ghép
T = 1, cây ghép sinh trưng và phát triển bình thường là do thế sinh trưng
của ngọn ghép tương đương thế sinh trưng của gốc ghép.
T > 1, cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn
sinh trưng bình thường, tuy nhiên, T càng gần 1 thì càng tốt hơn T càng xa 1. T
càng xa 1, thế sinh trưng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi
cằn cỗi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều.
T < 1, cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân). Thế sinh
trưng của ngọn mạnh hơn gốc. Phần ngọn bị nứt vỏ nhiều hơn phần gốc, cây ghép
sinh trưng kém dần, tuổi thọ ngắn (Phạm Văn Côn, 2007).
1.3.3 Tnh hnh ghép c chua trên th giới v ở Vit Nam
Theo một số tài liệu cho thấy rằng phương pháp ghép cà chua đã được sử
dụng Trung Quốc từ 1000 năm trước công nguyên (TCN), còn châu Âu được ghi
nhận từ những năm 384 – 237 TCN (Oda, 1993; trích dẫn Lý Hương Thanh, 2011).
Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những quốc gia đã đi đầu trong việc ghép cà chua
trên gốc cà tím hay cà chua khác để làm tăng khả năng kháng bệnh và chống chịu
tốt với môi trường bất lợi chịu úng trong mùa mưa.
Việc trồng cây ghép thực sự tr thành công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
được tiến hành Nhật Bản và Hàn Quốc vào cuối thập niên 20 với gốc ghép đầu
tiên là cho cây dưa hấu sử dụng họ bầu bí làm gốc ghép. Đến năm 1950 thì cà tím
được nghiên cứu làm gốc ghép cho cây cà chua. Sau đó lần lượt các cây trồng khác
cũng được ứng dụng rộng rãi như dưa leo vào những năm 60 và cà chua vào những
năm 70 của thế kỷ 20 (Oda, 1995).
8
Các nhà khoa học Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển rau Á châu
(AVRDC) đã khuyến cáo dùng giống cà tím EG203 làm gốc ghép cho cà chua để
năng suất và phẩm chất trái cà chua Redcrow 250 tại Huyện Phụng Hiệp, Hậu
Giang vụ Hè Thu 2007 và kết quả của Nguyễn Hồng Vường Quang (2010) cho thấy
cà chua Savior F1 ghép trên gốc cà tím EG203 không bị bệnh héo xanh có trọng
lượng trái 62,12 g, 45 trái/cây và năng xuất 80,27 tấn/ha hay nghiên cứu của
Nguyễn Văn Tạo (2011), Khảo sát sự sinh trưng, năng suất và chất lượng của 11
9
giống cà chua nhập nội trong nhà lưới được ghép trên gốc cà tim EG203 100%
không bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum.
1.4 Mt s kt quả nghiên cứu v c chua
Kết quả Lê Thị Ái (2009), So sánh 5 giống cà chua nhập nội tại trại thực
nghiệm Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ cho kết quả giống cherry Ruby
(Thúy Hồng) cho năng suất cao nhất (25,16 tấn/ha) với trọng lượng trung bình trái
6,6 g/trái và trọng lượng trái trên cây 1,11 kg/cây; cà chua cherry Ruby cũng cho
năng suất cao nhất trong nhóm cà cherry trong thí nghiệm so với 5 giống cà chua
nhập nội tại trại thực nghiệm khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ của Sơn
Bông Sen (2010) kế đến là cherry Rulow, cà chua Ruby năng suất 23,62 tấn/ha,
trọng lượng trái trên cây 1,35 kg/cây; cà chua Rulow năng suất 21,87 tấn/ha, kết quả
này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Võ Thành Nhơn (2009), So sánh 9
giống cà chua F1 thương phẩm tại trại thực nghiệm Nông nghiệp, trường Đại học
Cần Thơ nhận thấy cà cherry Ruby tốt nhất, thấp cây (214,88 cm), ít bệnh, năng
suất thực tế (27 tấn/ha) và cũng cùng kết quả 2 giống cà cherry Ruby và cherry
Rulow có số chùm hoa trên thân chính nhiều nhất (12,00 – 12,25 hoa/cây) trong thí
nghiệm của Võ Thanh Sơn (2011), Khảo sát sinh trưng, năng suất và phẩm chất
trái 10 giống cà chua cherry nhập nội, trong nhà lưới; theo nghiên cứu trong nhà
lưới của Trần Thị Ba và Võ Thị Bích Thủy (2006) kết luận nhóm trái lớn giống cà
chua Redcrown 250 và TN148 có triển vọng nhất với nằng suất thương phẩm 45,5 –
50,5 tấn/ha, đạt trên 80% tổng năng suất; nhóm trái nhỏ giống TN359 có năng suất
thương phẩm 31,5 tấn/ha, đạt 90% tổng năng suất.
Nghiên cứu của Trần Viết Vương (2011) về cà chua làm kiểng cho kết quả
nước, các vùng mới còn được đầu tư các loại hoa mới và quy trình kỹ thuật tiên tiến
nên năng xuất và thu nhập trên đơn vị diện tích cao hơn vùng truyền thống từ 2 – 3
lần (Đặng Văn Đông, 2008). Tại Tp. HCM; diện tích trồng hoa, cây kiểng năm 2007
khoảng 1.192 hecta; cây kiểng chủ yếu xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu (Dương Hoa
Xô, 2008). Ngày nay, nhờ chính sách m cửa của Nhà nước nên nghề trồng hoa có
nhiều công ty nước ngoài đầu tư như Hasfam (Hà Lan), Chánh Đài Loan, Nhật
Việt,… đã mang lại những kỹ thuật tiên tiến như trồng hoa trong nhà lưới, plactis và
nhiều giống hoa mới được du nhập vào (Nguyễn Bảo Toàn, 2004 và Đặng Phường
Trâm, 2005). Hiện nay một số nhà vườn sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái
thành cây cảnh lưỡng dụng, vừa có thể trang trí vừa dùng làm thực phẩm (Phạm
Văn Duệ, 2005).
Theo Đặng Văn Đông (2008), định hướng phát triển ngành trồng hoa cây
cảnh Việt Nam là tiếp tục đầu tư m rộng sản xuất, dự kiến năm 2015 sẽ phát
triển 20.000 ha hoa cây cảnh các loại, giá trị sản lượng đạt 3.600 tỷ đồng/h/năm.
Tập trung đầu tư xây dựng một số vùng chuyên canh sản xuất hoa, cây cảnh Đà
Lạt (Lâm Đồng), Mộc Châu, Ngọc Chiến (Sơn La), Đồng bằng sông Hồng, các tỉnh
miền núi phía Bắc, các tỉnh ven TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long có điều kiện sinh thái phù hợp.
11
Với phong trào chơi cây kiểng cổ thụ, bonsai thì các cây cho trái đẹp, chín
bền trên cây lại được nhà trồng cây ưa chuộng (Trần Hợp, 1998). Hiện nay, một số
nhà vườn nước ta có sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái thành cây kiểng
lưỡng dụng, vừa có thể trang trí vừa làm thực phẩm (Phạm Văn Duệ, 2005). Hoa
kiểng là loại cây nông nghiệp cung cấp cho con người các sản phẩm mang tính nghệ
thuật (Đặng Phương Trâm, 2005).
1.5.3 Giá tr kinh t
Việc trồng hoa kiểng từ lâu đã tr thành thú vui tao nhã của người dân thành
phố. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Hoa, cây kiểng không chỉ là
nhu cầu tinh thần của người dân mà còn là một ngành sản xuất nông nghiệp đặc thù
1.5.6 Hoa, cây kiểng v sự cải thin môi trường
Hoa kiểng không chỉ mang lại cái đẹp cho cuộc sống mà còn mang lại ý
nghĩa quan trọng trong sự cải thiện môi trường. Ngày nay các thành phố lớn mật độ
dân số rất cao, sự có mặt của hoa, cây kiểng trong khuôn viên, ngoài đường phố góp
phần làm dịu bầu không khí, điều hòa sự khắc nghiệt của thiên nhiên trong những
ngày nắng nóng oi bức. Trong các cao ốc, hoa kiểng ngoài mục đích trang trí còn
giữ vai trò tạo bầu không khí trong sạch, giúp người ta cảm thấy gần gũi với thiên
nhiên hơn (Đặng Phương Trâm, 2005).
1.6 Cơ sở khoa hc của quang hướng đng v đa hướng đng
Quang hướng động là hiện tượng thực vật hướng về phía có ánh sáng, hiện
tượng này rất rõ đối với những cây mà sự chiếu sáng không đều. Các ảnh hưng của
ánh sáng làm thân uốn cong về phía có ánh sáng là do sự khác biệt về tăng trưng
không đều hai bên thân (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
Địa hướng động là hiện tượng mà rễ luôn luôn cong xuống dưới, sự uốn cong
của rễ và thân, lá do sự phát triển của hai nhóm tế bào dãn dài nhiều làm mất cân
đối về mặt cấu tạo dẫn đến thân uốn cong xuống (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo
Toàn, 2005).