TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐẶNG THỊ THẢO
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA ỚT KIỂNG GHÉP
ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học, với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA ỚT KIỂNG GHÉP ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013 Do sinh viên Đặng Thị Thảo thực hiện.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. Cần Thơ, ngày…. tháng…. năm 2013
Do sinh viên Đặng Thị Thảo thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá mức:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng
Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3
…………………… …………………. …………………….
DUYỆT KHOA
Trưng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
iv
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I. L lịch sơ lưc
Họ và tên: Đặng Thị Thảo Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 10/07/1990 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Xã Tân Lược, huyện Bình Tân, tnh Vĩnh Long.
Con ông: Đặng Thanh Bình
Và bà: Nguyễn Thị De
Chỗ hiện nay: Ấp Tân Lộc, xã Tân Lược, huyện Bình Tân, tnh Vĩnh Long.
II. Qu trnh hc tập
1. Tiểu học
Thời gian: 1999-2003
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học
Ứng dụng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn!
- Chị Lý Hương Thanh, Nguyễn Đức Toàn lớp Cao học Trồng trọt khóa 18
đã giúp tôi hoàn thành số liệu và chnh sửa luận văn.
- Chị Nương cng các bạn Nguyễn Hoàng Nam, Dương Hoàng Nam, Hồng,
Dung, Tài, Cường, Rẻ, Phát, Lâm và Thư đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Thân gửi về!
Các bạn lớp Nông Học khóa 36 những lời chúc sức khỏe và thành đạt trong
tương lai. Đặng Thị Thảo
vi
ĐẶNG THỊ THẢO. 2013. “Khảo sát sự sinh trưng và phát triển ớt Kiểng ghép
Đông Xuân 2012 - 2013”. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông học, khoa Nông nghiệp
và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần
Thị Ba và ThS. Võ Thị Bích Thủy.
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm xác định ảnh hưng của biện pháp ghép, ghép
kết hợp với ớt Cà, 2 giống ớt làm gốc ghép (ớt Hiểm Lai F1, ớt Đà Lạt) đến sinh
trưng, phát triển của ngọn ớt ghép Trắng Tam Giác và vị trí trưng bày ph hợp với
kích thước chậu trồng ớt Kiểng làm tăng giá trị thẩm mỹ.
* Thí nghiệm 1: Khảo sát sinh trưng và phát triển của ớt Kiểng ghép gồm có 4
nghiệm thức là (1) Trắng Tam Giác không ghép (Đối chứng-Trắng Tam Giác không
ghép) và 3 tổ hợp ghép của ngọn ớt Kiểng Trắng Tam Giác ghép, ghép kết hợp trên
2 loại gốc ớt Hiểm Lai F1 và ớt Đà Lạt: (2) Trắng Tam Giác / Hiểm Lai F1 (Tổ hợp
1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về cây ớt 2
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của cây ớt 2
1.1.2 Đặc tính thực vật của cây ớt 2
1.1.3 Điều kiện ngoại cảnh 3
1.1.4 Sâu bệnh hại chính trên cây ớt 4
1.2 Giống ớt 5
1.2.1 Ớt ăn 5
1.2.2 Ớt kiểng 6
1.3 Kỹ thuật ghép, nguyên lý ghép 6
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ s khoa học của việc ghép cây 6
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép 7
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép 7
1.3.4 Phương pháp ghép rau họ cà ớt 8
1.3.5 Ảnh hưng của gốc ghép lên sinh trưng của ngọn ghép 9
1.4 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng 9
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa, cây kiểng trên thế giới và Việt Nam 9
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng 10
2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHP 12
2.1 Phương tiện 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian 12 2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 12
2.2 Phương pháp 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 13
2.2.2 Kỹ thuật canh tác 14
2.2.3 Ch tiêu theo dõi 16
2.2.4 Xử lý số liệu 17
3 KT QUẢ VÀ THẢO LUN 18
3.2
Tỷ lệ sống sau ghép của 3 tổ hợp ghép trong vườn ươm, nhà lưới khoa
NN&SHƯD, trường ĐHCT (08/2012-03/2013)
20
3.3
Chiều cao cây, đường kính gốc và ngọn ớt trước khi ghép, nhà lưới
nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
21
3.4
Chiều cao cây của 3 tổ hợp ớt ghép và đôi chứng không ghép qua các
thời điểm khảo sát, nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD,
ĐHCT (08/2012-03/2013)
22
3.5
Tốc độ tăng trưng(cm/ngày) của 3 tổ hợp ớt ghép và đôi chứng không
ghép qua các thời điểm khảo sát, nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa
NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
22
3.6
Chiều cao gốc ghép (cm) của các tổ hợp ớt Trắng Tam Giác ghép và
không ghép các thời điểm khảo sát tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch
khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
23
3.7
Tốc độ tăng trưng chiều cao ngọn (cm/ngày) ngọn của 3 tổ hợp ớt ghép
qua các thời điểm khảo sát, nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa
NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
24
3.8
Đường kính gốc ghép (cm) của các tổ hợp ớt Trắng Tam Giác ghép các
NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
32
3.15
Tốc độ tăng trưng chiều cao cây trung bình (cm) của tổ hợp ớt Kiểng
ghép với 3 kích thước chậu qua các thời điểm khảo sát, nhà lưới nghiên
cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
33
3.16
Chiều cao gốc ghép trung bình (cm) của tổ hợp ớt Kiểng ghép với ba
kích thước chậu, các thời điểm khảo sát tại nhà lưới nghiên cứu rau
sạch khoa NN&SHƯD, trường ĐHCT (08/2012-03/2013)
33
3.17
Đường kính gốc ghép trung bình (cm) của tổ hợp ớt Kiểng ghép với ba
kích thước chậu, các thời điểm khảo sát tại nhà lưới nghiên cứu rau
sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
35
3.18
Tỷ số đường kính gốc/ngọn ghép của ớt Kiểng ghép với 3 kích thước
chậu, khảo sát tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch, khoa NN&SHƯD,
ĐHCT (08/2012-2013)
36
3.19
Đánh giá cảm quan về hình dáng kiểu cây của ớt Kiểng ghép với 3 kích
thước chậu trồng
40
3.20
Đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày của ớt Kiểng ghép với 3 kích
thước chậu trồng
Trang
2.1
Các tổ hợp ghép thí nghiệm (a), (b), (c), nhà lưới nghiên cứu rau sạch
khoa NN&SHƯD, trường ĐHCT (08/2012-03/2013)
13
3.1
Nhiệt độ và ẩm độ trung bình không khí trong và ngoài nhà lưới trong 3
ngày sau khi ghép, khoa NN&SHƯD, trường ĐHCT (08/2012-03/2013)
19
3.2
Chiều cao ngọn của 3 tổ hợp ớt ghép qua các thời điểm khảo sát, nhà lưới
nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
23
3.3
Đường kính trái (cm) của ớt Kiểng ghép thời điểm 70 NSKT, nhà lưới
nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
27
3.4
Số trái ớt Trắng Tam Giác và tổng số trái trên cây trái (cm) của ớt Kiểng
ghép lúc 50% trái chín, nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD,
ĐHCT (08/2012-03/2013)
28
3.5
Ớt Kiểng ghép (a) Trắng Tam Giác không ghép (Đối chứng); (b) Trắng
Tam Giác / Hiểm Lai F1; (c) Trắng Tam Giác + ớt Cà / Hiểm Lai F1; (d)
Trắng Tam Giác + Dài Tím / Đà Lạt thời điểm 50% trái chin, nhà lưới
nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (08/2012-03/2013)
29
3.6
Chiều cao ngọn trung bình của 3 tổ hợp ớt Kiểng ghép với 3 kích thước
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ĐHCT: Đại học Cần Thơ
NN&SHƯD: Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
NSKGh: Ngày sau khi ghép
NSKT: Ngày sau khi trồng
TTG + DT/ĐL: Trắng Tam Giác + Dài Tím / Đà Lạt
TTG + OC/HL: Trắng Tam Giác + ớt Cà / Hiểm Lai F1
TTG/HL: Trắng Tam Giác / Hiểm Lai F1
TTGKGh: Trắng Tam Giác không ghép
MỞ ĐẦU
Ngày nay, ớt là loại cây vừa được dùng làm rau tươi, vừa được dùng làm gia
vị có giá trị kinh tế cao và cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp
chế biến thực phẩm. Bên cạnh ớt còn dùng làm Kiểng vào dịp Tết. Nhưng ớt Kiểng
với một hình dáng cây, dạng trái, màu sắc đơn thuần chưa đáp ứng được nhu cầu
thẩm mỹ cao của người tiêu dùng hiện nay. Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Hoàng
Nam (2013) nhờ phương pháp ghép đã tạo ra trên cùng một gốc ớt, có sự kết hợp
giữa 3 ngọn ớt khác nhau, đa dạng về màu sắc trái (trắng, tm, xanh, cam, đ…),
nhiều hnh dạng trái (trái hnh tam giác, trái thon dài, trái to, trái nh, trái ch thiên,
trái ch địa), vào giai đoạn cho trái ớt Kiểng ghép độc đáo, đặc sắc, lạ mặt và khác
hẳn khác hẳn với cây ớt trồng bnh thường không ghép, tuy nhiên vẫn chưa có
nghiên cứu ảnh hưởng của ghép kết hợp, gốc ghép Hiểm Lai F1 và Đà Lạt đến sinh
trưởng, phát triển của ớt Kiểng làm ngọn ghép; kch thước chậu trồng lên sinh
trưởng cây ớt ghép.
Chính vì vaayj, đề tài “Kho st sự sinh trưng và pht trin của ớt king
ghép Đông Xuân 2012 - 2013” được thực hiện nhằm xác định khả năng tương
3
), là
một alkaloid có vị cay, gây cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu
hóa (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo Võ Văn Chi (2005), trong 100 g ớt, trung
bình có 94 g nước; 1,3 g protid; 5,7 g glucid; 1,4 g chất xơ; 250 mg vitamin C; 100
mg carotene và 29-30 calo. Ngoài việc dùng làm gia vị ớt còn được dùng làm thuốc,
chúng có tác dng là kích thích tiêu hóa, trị cảm lạnh, thấp khớp, sốt rét, lá ớt dùng
đắp trị mn nhọt (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007).
1.1.2 Đặc tính thực vật của cây ớt
* Rễ: Ớt có nhiều rễ tr, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành
rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Cây
ớt không chịu được úng, có thể chịu được nóng, nhưng chịu hạn trung bình, do bộ
rễ ăn nông (Mai Văn Quyền và ctv., 2007). Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn
(2005), rễ có nhiệm v chống đỡ, hút và vận chuyển nước, chất dinh dưỡng. Hình
dạng rễ do đặc tính di truyền quyết định và bị ảnh hưởng bởi môi trường đất. 3
* Thân: Ớt là cây bi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có thể gặp
các dạng thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5-1,5 m (Mai Thị Phương
Anh, 1999). Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi theo điều kiện canh tác và
giống (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
* Lá: Ớt có lá đơn mọc xoắn trên thân chính (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo
Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2007), lá có dạng hình thoi hơi dài về
phía ngọn, có cuốn. Lá nguyên có hình trứng đến bầu dc, phiến lá nhọn ở đầu, lá
màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
Theo Mai Thị Phương Anh (1999), lá thường mỏng, có kích thước trung bình 1,5-
12 cm x 0,5-7,5 cm. Chức năng chủ yếu của lá là quang hợp và thoát hơi nước (Lê
Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
* Hoa: Theo Lê Quang Long (2006), ớt ra hoa, trái hầu như quanh năm, nhiều nhất
C và trên 32
o
C cây sinh trưởng kém, hoa bị rng
nhiều, ít trái (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
4
* Ánh sáng: Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn. Nếu thời gian chiếu sáng trong 9-10
giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng sản phẩm khoảng 21-24% và tăng chất lượng
trái. Trời âm u sẽ hạn chế sự đậu trái, giảm năng suất (Mai Thị Phương Anh, 1999).
Trong quá trình sinh trưởng phát triển với cường độ ánh sáng từ 10.000-20.000 lux,
cây rau sẽ cho năng suất cao và chất lượng tốt (Tạ Thu Cúc, 2005). Theo Đường
Hồng Dật (2003), ớt cần nhiều ánh sáng cho sinh trưởng và phát triển, thiếu ánh
sáng nhất là vào thời điểm ra hoa cây sẽ bị giảm tỷ lệ đậu trái.
* Nước và ẩm độ: Tùy điều kiện đất đai cần đảm bảo nước tưới đầy đủ mỗi ngày
trong mùa nắng để ớt phát triển tốt, mùa mưa phải đảm bảo thoát nước tốt (Phạm
Hồng Cúc và ctv., 2001). Ớt là loại cây chịu hạn không chịu được ngập úng. Ẩm độ
thấp hơn 70% ở giai đoạn ra hoa, hình thành trái thì trái bị sần sùi, giảm giá trị
thương phẩm, 70-80% là ẩm độ thích hợp nhất, ẩm độ quá cao rễ sinh trưởng kém,
cây sẽ còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo nhận định của Trần Khắc Thi và
Nguyễn Công Hoan (2005), cũng cho rằng ở thời kỳ ra hoa và đậu trái, độ ẩm (đất
và không khí) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất
lượng trái.
* Đất và dinh dưỡng: Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2004), cây
ớt không kén đất nhưng tốt nhất là đất bãi hoặc đất trong đồng có độ màu mỡ khá,
thoát nước, giãi nắng. Theo Mai Thị Phương Anh (1999), đất phù hợp nhất để trồng
ớt là đất thịt nhẹ, giàu vôi, nó có thể sinh trưởng trên đất cát nhưng phải đảm bảo
tưới tiêu và bón phân đầy đủ. Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt phát
triển. Lượng phân bón cho cây ớt nên tùy thuộc vào điều kiện, độ màu mỡ của đất.
Theo khuyến cáo của Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001): 100-200 kg N, 70-150 kg
P
và Phạm Anh Cường, 2007). Cả ấu trùng và thành trùng đều sống ở ngọn và mặt
dưới lá, chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền
bệnh virus như rầy mềm (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Theo Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen (2011), biện pháp phòng trị dùng bẩy vàng để thu hút và bắt thành
trùng.
Bệnh hại chính
* Bệnh khm: Bệnh do virus, côn trùng chích hút như rầy mềm, bù lạch gây ra.
Bệnh thường làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên
giòn dễ gãy; bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ và rng, cây rất ít trái, trái nhỏ
và vặn vẹo; cuối cùng cây có thể bị chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
Nhổ bỏ những cây bệnh và diệt tác nhân truyền bệnh để ngừa bệnh virus (Trần Thị
Ba và ctv., 1999).
1.2 Giống ớt
1.2.1 Ớt ăn
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005) có 2 nhóm phổ biến là ớt
cay và ớt ngọt. Ớt ngọt (Sweet pepper) được trồng nhiều ở Châu Âu, Châu Mỹ và
một vài nước Châu Á và được dùng như một loại rau xanh hoặc dùng để chế biến.
Ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Châu Phi và các nước nhiệt đới khác, ở nước
ta ớt cay được trồng phổ biến từ Bắc chí Nam, ớt cay được sử dng làm gia vị, ớt
cay là cây có giá trị kinh tế (Đường Hồng Dật, 2003). Theo Phạm Thu Cúc và ctv.
(2001), giống trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ
Thiên, ớt Bún, ớt Hiểm, ở Miền Trung có giống Sừng Bò, Chìa Vôi. 6
1.2.2 Ớt Kiểng
Ớt Capsicum chinense - hay ớt Kiểng nhiều màu sắc thường dùng trang trí,
không cay. Thường có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn như cà hay hình giọt
nước ( Theo Eshbaugh (1993), một số loài ớt có
hình dạng trái độc đáo và màu sắc tươi sáng đã được sử dng rộng rãi như là cây
7
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép
Theo nhận định của Oda (1995), ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời đối
với cây ăn trái. Những năm 1900, phương pháp ghép rau được sử dng lần đầu tiên
trên cây dưa hấu nhằm hạn chế bệnh héo do Fusarium (Cary và Frank, 2006). Theo
Besri (2001) việc sử dng gốc ghép kháng bệnh trên cây rau đã được áp dng phổ
biến ở nhiều nước như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Ý, Đài Loan,… Nhật Bản, năm
1990 có đến 31,5% cà chua, 49,9% cà tím, 92% dưa hấu, 71,7% dưa leo và 43,8%
các loại dưa khác ứng dng trồng bằng kỹ thuật ghép gốc kháng bệnh (Oda, 1993
trích dẫn bởi Trần Thị Ba, 2010).
Việt Nam, ghép dưa hấu đã được áp dng từ năm 1968, chủ yếu là ở Sóc
Trăng nhằm mc đích kháng bệnh héo rũ và tăng kích thước trái (Trần Thị Ba,
2010). Việt Nam cũng đã bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật ghép cà chua năm 1999 tại
Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp Miền Nam năm 2000-2003 (Trần Thị Ba, 2010). Đến năm 2004, Viện
Nghiên cứu Cây Ăn Quả Miền Nam cũng có nghiên cứu về cà chua ghép áp dng
cho Đồng bằng sông Cửu Long. Tại Lâm Đồng, hiện nay, diện tích trồng cà chua
ghép đạt 1.500 ha, với hơn 30 trại sản xuất cây ghép có công suất lớn đảm bảo cung
cấp đủ nguồn giống (Ngô Quang Vinh và Nguyễn Xuân Chinh, 2004).
Nhờ phương pháp ghép cành cộng với sự khéo léo uốn tỉa, các nhà vườn
trồng hoa kiểng đã tạo ra những cây kiểng vừa nhỏ gọn, vừa có hình dạng lạ lẫm,
gây sự chú ý cho người xem. Một cây mai thấp nhỏ có thể mang được nhiều màu
sắc hoa như mai vàng, mai trắng, mai đỏ, mai xanh; có thứ mỗi đóa chỉ 5 cánh, có
thứ đến 12 cánh rồi 24 cánh (Việt Chương và Phúc Quyên, 2010). Trên một cây sứ
thái có được nhiều màu sắc hoa khác nhau (trắng, đỏ, hồng, vàng,…) từ nhiều giống
khác nhau (Huỳnh Văn Thới, 2004).
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép
Gốc và ngọn ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sự tiếp hợp và mối
liên hệ dẫn truyền của chúng quyết định, gốc và ngọn hình thành lớp tiếp hợp càng
- Dùng dao lam cắt ngọn ghép xiên 1 góc 30
0
so với phương thẳng đứng của
cây ở vị trí lá thật đầu tiên. Tương tự cắt ngọn ghép ở vị trí lá mầm cũng thành lát
xiên 1 góc 30
0
. Dùng ống cao su lồng vào ngọn ghép rồi lồng ống cao su có mang
theo ngọn ghép vào gốc ghép đã cắt vát sao cho vết cắt của ngọn và gốc ghép tiếp
xúc với nhau. Thao tác ghép cần nhanh, chính xác, được tiến hành ở nơi râm mát,
khuất gió, gần phòng phc hồi.
- Cây ghép cần chuyển ngay vào phòng phc hồi và điều chỉnh điều kiện
phòng ở nhiệt độ 27-29
0
C, độ ẩm không khí 90% (sao cho không có nước đọng trên
lá, cường độ ánh sáng yếu).
- Thời gian bảo quản là 7-10 ngày. Trong điều kiện phòng phc hồi đơn giản:
gồm vòm che bằng nilong trắng, lưới đen phía trên (3-5 lớp) giảm cường độ ánh
sáng, nền phòng được trải nilong để đựng nước tạo độ ẩm, giá đặt cây cần cao hơn
mặt nước.
Đường kính gốc ghép
Đường kính ngọn ghép
9
- Trong ngày đầu sau khi ghép, thường xuyên phun nước cho cây để cây luôn
tươi (chỉ phun mù, rất ít trên lá, không phun nhiều làm cho nước dính vào vết ghép).
Từ ngày thứ 2, thứ 3 trở đi tưới nước cho cây bằng bình bom có vòi phun nước mịn.
Trong 3 ngày đầu sau khi ghép, cây ghép phải được che mát để có ánh sáng nhẹ. Từ
ngày thứ 4 tăng dần ánh sáng, đến ngày thứ 7 cho cây sống trong điều kiện đủ sáng.
Khoảng 12-15 ngày sau khi ghép có thể đem cây đi trồng. Khi trồng cần chú ý
không vun đất quá cao giáp với vết ghép.
có gần 5.000 ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây Kiểng của nước ta là 72
triệu/ha/năm (Đặng Văn Đông, 2007). Theo nhận định của Nguyễn Xuân Linh và
Nguyễn Thị Kim Lý (2005), diện tích trồng hoa, cây Kiểng nước ta còn nhỏ, tập
trung ở các vùng truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nghỉ
mát như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Lạt, với tổng diện tích trồng hoa, cây Kiểng khoảng 3.500 ha. Năm 2003, giá trị
xuất khẩu hoa Kiểng đạt khoảng 30 triệu USD, thu nhập từ hoa Kiểng trong cả nước
ước tính đến 1.000 tỷ đồng (Đặng Phương Trâm, 2005).
Trong những năm gần đây, sản xuất hoa, cây Kiểng đã được mở rộng khắp
các tỉnh trên cả nước, các vùng sản xuất mới còn được đầu tư các loại hoa mới và
quy trình kỹ thuật tiên tiến nên năng suất và thu nhập trên đối với diện tích cao hơn
vùng truyền thống từ 2-3 lần (Đặng Văn Đông, 2008). Với phong trào chơi cây
Kiểng cổ th, bonsai thì các cây có trái đẹp, chín bền trên cây lại được các nhà trồng
cây ưa chuộng (Trần Hợp, 1998). Theo Phạm Văn Duệ (2005), một số nhà vườn ở
nước ta có sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái thành cây Kiểng lưỡng dng, vừa
có thể trang trí, vừa làm thực phẩm.
1.4.2 Giá trị của hoa và cây Kiểng
Hoa, Kiểng là loại cây nông nghiệp đặc biệt cung cấp cho con người các sản
phẩm mang tính nghệ thuật, khi cái ăn và cái mặc không còn là gánh nặng người ta
có nhu cầu thư giãn tinh thần (Đặng Phương Trâm, 2005).
* Giá trị tinh thần x hội: Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga 2007), hoa
là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống. Hoa và cây
Kiểng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của con người; ở nhiều nơi
trên thế giới, trong nghi thức lễ hội hoặc lễ nghi của quốc gia, hoa như một thông
điệp thể hiện tâm tư tình cảm của con người (Nguyễn Bảo Toàn, 2004). Hoa, Kiểng
làm cho con người hướng thiện, nhân hậu, dịu dàng. Sự thưởng thức cái đẹp của
hoa Kiểng làm cho người ta cảm thấy cuộc đời như đẹp tươi, phấn chấn hơn (Đặng
Phương Trâm, 2005).
* Giá trị thẩm mỹ: Sự có mặt của hoa, cây Kiểng có ý nghĩa rất cao về thẩm mỹ.
Trước hết vì hoa Kiểng đẹp là tinh túy và muôn hình muôn vẻ. Người ta yêu chuộng