khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của ba tổ hợp ớt kiểng ghép trên gốc ớt hiểm xanh - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

VÕ THÀNH TÀI

KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP
TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: TRỒNG TRỌT

Cần Thơ, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: TRỒNG TRỌT

Tên đề tài:

KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP
TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH

Cán bộ hướng dẫn:
PGS. TS. Trần Thị Ba
ThS. Võ Thị Bích Thủy


quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận
văn nào trước đây.

Tác giả luận văn

Võ Thành Tài

ii


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-----------------------------------------------------------------------------------------------------

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành
Trồng trọt với đề tài:

KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA BA TỔ HỢP ỚT KIỂNG GHÉP
TRÊN GỐC ỚT HIỂM XANH

Do sinh viên Võ Thành Tài thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: .....................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức: .............................................
Cần Thơ, ngày….. tháng….. năm 2013
Thành viên Hội đồng


Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
2. Trung học Cơ sở
Thời gian: 2003-2007
Trường: Trung học Cơ sở Long Phú
Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
3. Trung học Phổ thông
Thời gian: 2007-2010
Trường: Trung học Phổ thông Long Phú
Địa chỉ: Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
4. Đại học
Thời gian: 2010-2014
Trường: Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, phường Xuân Khánh, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Chuyên ngành: Trồng trọt (Khóa 36)

iv


LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi nấng, dạy dỗ con khôn lớn nên người.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- PGS.TS. Trần Thị Ba đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, góp ý
và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành tốt luận
văn này.
- ThS. Võ Thị Bích Thủy đã đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn
chỉnh luận văn.
- Cố vấn học tập Lê Vĩnh Thúc và Võ Thị Bích Thủy đã quan tâm và dìu dắt
lớp tôi hoàn thành tốt khóa học.
- Quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học

1.2.1 Ớt ăn ...................................................................................................... 6
1.2.2 Ớt Kiểng................................................................................................ 6
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về giống ớt............................................... 6
1.3 Kỹ thuật ghép, nguyên lý ghép..................................................................7
1.3.1 Khái niệm ghép và cơ sở khoa học của việc ghép cây ...................... 7
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép ......................... 8
1.3.3 Mối quan hệ giữa gốc và ngọn ghép ................................................... 8
1.3.4 Phương pháp ghép rau họ cà ớt ........................................................... 9
1.3.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của ngọn ghép ............ 9
1.4 Tình hình sản xuất và giá trị của hoa, cây kiểng...................................... 10
1.4.1 Tình hình sản xuất hoa, cây kiểng trên Thế Giới và ở Việt Nam….10
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng .............................................................. 11
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ................................................ 12
2.1 Phương tiện ............................................................................................ 12
2.1.1 Địa điểm và thời gian ......................................................................... 12
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm ............................................................................. 12
2.2 Phương pháp........................................................................................... 14
2.2.1 Bố trí thí nghiệm ................................................................................ 14
2.2.2 Kỹ thuật canh tác ................................................................................ 14
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 17
2.2.4 Xử lý số liệu ....................................................................................... 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN ...................................................................... 19
3.1 Ghi nhận tổng quát ................................................................................. 19
3.2 Điều kiện ngoại cảnh .............................................................................. 20

vi


3.2.1 Nhiệt độ, ẩm độ không khí và cường độ ánh sáng trong phòng phục
hồi sau ghép ........................................................................................ 20

DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tựa bảng

Trang

2.1

Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt Kiểng thí nghiệm

12

2.2

Loại phân, lượng phân và thời kỳ bón cho ớt

17

2.3

Thang đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh,
xen kẽ dạng trái và màu sắc) của các tổ hợp ớt ghép làm kiểng

18

2.4

Thang đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày của các tổ hợp ớt ghép làm
kiểng


3.5

29

3.6

Tỷ số đường kính gốc chồi ghép/gốc thân ngọn ghép của 5 giống ớt
Kiểng ghép khảo sát

30

3.7

Đánh giá cảm quan tổng thể (kiểu dáng cây, cân đối cành nhánh, xen kẽ
dạng trái và màu sắc trái) của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn khác nhau trên
cùng 1 gốc ớt Hiểm Xanh

35

3.8

Đánh giá cảm quan về vị trí trưng bày của của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn
khác nhau trên cùng 1 gốc ớt Hiểm Xanh

35

viii



3.1

Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong phòng phục hồi sau ghép ngày
20/8/2012

20

3.2

Cường độ ánh sáng trong và ngoài nhà lưới trong ngày nắng
14/09/2012

21

3.3

Nhiệt độ và ẩm độ không khí trong và ngoài nhà lưới trong ngày nắng
14/09/2012

22

3.4

Tỷ lệ sống của các tổ hợp ớt Kiểng ghép thời điểm 15 NSKGh (a) tổ
hợp DT+TT+TN, (b) tổ hợp DT+TT+OC và (c) tổ hợp DT+TT+DTr

23

3.5


31

3.10

Kích thước trái (cm) của 5 giống ớt Kiểng ghép thời điểm 90 NSKGh

32

ix


3.11

Hình dáng cây của 3 tổ hợp ớt ghép 3 ngọn khác nhau trên cùng một
gốc ớt Hiểm Xanh (a) tổ hợp Dài Tím + Tròn Tím + Thiên Ngọc, (b) tổ
hợp Dài Tím + Tròn Tím + Ớt Cà, (c) tổ hợp Dài Tím + Tròn Tím +
Dài Trắng.

x

33


VÕ THÀNH TÀI. 2013. “Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của ba tổ hợp ớt
Kiểng ghép trên gốc ớt Hiểm Xanh”. Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng trọt, khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn:
PGS.TS. Trần Thị Ba và ThS. Võ Thị Bích Thủy.

TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa Nông nghiệp và

trồng bình thường không ghép.
Vì vậy, đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng, phát triển của 3 tổ hợp ớt Kiểng
ghép trên gốc ớt Hiểm Xanh” được thực hiện tại nhà lưới nghiên cứu rau sạch khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 06-12/2012
nhằm xác định khả năng tương thích giữa ngọn ghép ớt Kiểng và gốc ghép ớt Hiểm
Xanh; đặc điểm sinh trưởng, phát triển của 3 tổ hợp ớt Kiểng ghép, tạo ra một cây
ớt có 3 giống với hình dạng và màu sắc trái khác nhau cùng sống chung trên một
gốc, góp phần nâng cao giá trị làm kiểng của cây ớt, đồng thời đáp ứng được yêu
cầu về thẩm mỹ ngày càng cao của người tiêu dùng.

1


CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1

Tổng quan về cây ớt

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và công dụng của cây ớt
* Nguồn gốc: Ớt (Capsicum spp.) có tên tiếng Anh là Pepper, Chili là cây trồng
thuộc họ cà Solanaceae, có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ (Mai Thị
Phương Anh, 1999). Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), cây ớt
được thuần hóa và trồng ở châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm từ 1 loài ớt cay
hoang dại ở Nam Mỹ.
* Phân bố: Theo Võ Văn Chi (2005), ớt được trồng nhiều ở các nước châu Phi, khu
vực Đông và Nam châu Á. Ớt ngọt được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một
vài nước ở châu Á; ớt cay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt
đới khác (Đường Hồng Dật, 2003).
* Phân loại: Ớt có 5 loài được trồng trọt chính trong tổng số 30 loài ớt (Mai Thị
Phương Anh, 1999). Năm loài ớt thuần hóa là C.annuum, C.baccatum, C.chinense,

thoi hơi dài về phía ngọn, có cuốn. Lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá
nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông (Phạm Hồng Cúc
và ctv. 2001). Lá ớt có hình ê-líp hoặc hình lưỡi mác, mép lá nhẵn, gân lá hình
mạng lông chim (Nguyễn Hữu Doanh, 2000). Lá ớt mọc đơn mọc trên thân chính
(Mai Thị Phương Anh, 1999), đôi khi mọc thành chùm hoa nhị (Phạm Hồng Cúc và
ctv. 2001). Theo Mai Thị Phương Anh (1999), lá thường mỏng, có kích thước trung
bình 1,5-12 cm x 0,5-7,5 cm. Chức năng chủ yếu của lá là quang hợp và thoát hơi
nước (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005). Số lá trên cây quyết định diện tích
lá tổng cộng trên cây.
* Hoa: Theo Lê Quang Long (2006), ớt ra hoa, trái hầu như quanh năm, nhiều nhất
là vào mùa hạ. Hoa ớt là loại hoa lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa.
Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn (Phạm Hồng Cúc
và ctv. 2001). Theo Mai Thị Phương Anh (1999), hoa thường có màu trắng, một số
giống có màu sữa, xanh lam và tím.
* Trái: Dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng,

gợn sóng, có khía hay nhẵn, trái khi chín có màu đỏ đen vàng, trái không cay hay
rất cay (Phạm Hồng Cúc và ctv. 2001). Ớt thuộc loại trái mọng, có nhiều hạt với thịt
trái nhăn và chia thành 2-4 thùy. Các giống khác nhau có kích thước trái, hình dạng,
độ nhọn, màu sắc, độ cay và độ mềm của thịt trái rất khác nhau. Trái chưa chín có
thể có màu xanh hoặc tím, trái chín có màu đỏ, da cam, vàng, nâu, màu kem hoặc
hơi tím (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo Đường Hồng Dật (2003), trên cây ớt có
nhiều lứa trái, có trái đang chín, có trái già và có trái còn non.
* Hạt: Hạt có dạng thận và màu vàng rơm, chỉ có hạt của C.pubescens có màu đen.
Hạt có chiều dài khoảng 3-5 mm. Một gam hạt ớt ngọt có khoảng 160 hạt, còn ớt
cay khoảng 220 hạt theo (Mai Thị Phương Anh, 1999). Theo Trần Thị Ba và ctv.
(1999) hạt tròn, dẹp, nhỏ có màu nâu sáng, hạt có khả năng cất giữ lâu (3 năm),
trọng lượng 1000 hạt 4-6 g. Nhưng theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng
Nghĩa (2007), hạt màu vàng hoặc trắng, đường kính 1-2 mm. Hạt cay hơn thịt trái.


phân tán ăn thủng lá chỉ để lại gân lá, có thể ăn trụi hết lá, trụi cành hoa, chui vào
đục khóe trong trái, nụ hoa. Theo Mai Văn Quyền và ctv. (2000). Cây con hay
ruộng ớt mới trồng, sáng thăm đồng thấy cây con bị cắn ngang thân hay ăn trụi lá; ở
ruộng ớt đã tốt, thấy lá bị ăn còn trơ cành, đó là do sâu ăn tạp phá hoại. Sâu ăn
thủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt cây con sau đó sâu chui vào sống trong
đất ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất. Hoa nụ bị hại sẽ rụng, trái bị hại
cũng sẽ rụng sớm hoặc bị thối khi trời mưa.
* Bệnh héo xanh (Pseudomonas solanacearum): Bệnh héo xanh thường thể hiện
triệu chứng sau khi vi khuẩn xâm nhập vào rễ hoặc phần thân sát mặt đất. Ở cây

4


bệnh, ban ngày lá cây mất nhẵn bóng, tái xanh, héo cụp xuống, về ban đêm có thể
hồi phục lại. Sau 2-3 ngày, lá cây bệnh không hồi phục được nữa, các lá gốc tiếp tục
héo rũ và toàn cây ớt héo rũ rồi chết (Vũ Triệu Mân, 2007).
* Bệnh khảm: Bệnh do virus, côn trùng chích hút như rầy mềm, bù lạch gây ra.
Bệnh thường làm lá đọt nhỏ, xoắn lại, lá không phát triển, lóng ngắn, cây trở nên
giòn dễ gãy; bệnh nặng cây còi cọc, hoa bị vàng nhỏ và rụng, cây rất ít trái, trái nhỏ
và vặn vẹo; cuối cùng cây có thể bị chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
Nhổ bỏ những cây bệnh và diệt tác nhân truyền bệnh để ngừa bệnh virus (Trần Thị
Ba và ctv. 1999).
1.1.4 Điều kiện ngoại cảnh
* Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu trái của cây ớt;
nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, tăng số trái
thương phẩm là 20-30oC đối với ớt cay và 20-25oC đối với ớt ngọt (Mai Thị Phương
Anh, 1999). Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), ớt là cây ưa nhiệt,
nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của ớt là 25-28oC ban ngày và 1820oC ban đêm. Nhiệt độ dưới 15oC và trên 32oC cây sinh trưởng kém, hoa bị rụng
nhiều, ít trái (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007).
* Ánh sáng: Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn. Nếu thời gian chiếu sáng trong 9-10

phun trên lá định kỳ từ 7-10 ngày/lần từ lúc trái non phát triển.
1.2

Giống ớt

1.2.1 Ớt ăn
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005) có 2 nhóm phổ biến là ớt cay và
ớt ngọt. Ớt ngọt (Sweet pepper) được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài
nước châu Á và được dùng như một loại rau xanh hoặc dùng để chế biến. Ớt cay
được trồng phổ biến ở Ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác, ở nước ta ớt cay
được trồng phổ biến từ Bắc chí Nam, ớt cay được sử dụng làm gia vị, ớt cay là cây
có giá trị kinh tế (Đường Hồng Dật, 2003). Một số giống ớt cay trồng phổ biến ở
Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay: ớt cay (F1) TN 16, ớt Hiểm lai (F1) 207, ớt
cay Chilli (F1), ớt cay (F1) Hot Chilli (Hàn Quốc), ớt cay lai F1 số 20, ớt sừng trâu
địa phương, ớt hiểm địa phương. Trong đó ớt Hiểm lai (F1) 207 của công ty Hai
Mũi Tên Đỏ hiện được bà con huyện Châu Thành, Chợ Mới, tỉnh An Giang, huyện
Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp trồng nhiều.
1.2.2 Ớt Kiểng
Ớt Capsicum chinense - hay ớt Kiểng nhiều màu sắc thường dùng trang trí, không
cay. Thường có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn như cà hay hình giọt nước.
Theo Eshbaugh (1993), một số loài ớt có hình dạng trái độc đáo và màu sắc tươi
sáng đã được sử dụng rộng rãi như là cây kiểng (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Kim
Đằng, 2012). Một nhóm nhỏ của ớt được dùng làm kiểng và có thể ăn được vì có
hình dạng trái khác thường nhiều màu sắc, có tất cả các màu của cầu vòng, thường
hiển thị 4 hoặc 5 màu sắc trái cùng lúc trên 1 cây (Bosland, 1996).
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về giống ớt
* Trên Thế giới: Để ngăn chặn sự mất mát của các gen quý trong tập đoàn ớt, vào
tháng 3 năm 2003, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu Á (AVRDC) ở
Đài Loan đã thu thập được 7.492 mẫu từ hầu hết các khu vực địa lý trên Thế giới.
Một bộ sưu tập ớt khác của bộ Nông nghiệp Mỹ gồm 3.000 mẫu ớt thuộc tất cả các

mạch dẫn do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép lưu thông
nhau được (Trần Thế Tục, 2000). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011),
việc kết hợp giữa gốc và cành ghép như sau: Áp sát phần tượng tầng của gốc với
cành ghép với nhau; lớp tế bào tượng tầng ngoài của gốc và cành ghép tạo ra những
tế bào nhu mô dính lại với nhau, gọi là mô sẹo; các tế bào nhu mô của mô sẹo phân
hóa thành những tế bào tượng tầng mới, kết hợp với tượng tầng nguyên thủy của
gốc và cành ghép; các tế bào tượng tầng mới tạo ra những mô mạch mới, gỗ bên
trong và libe bên ngoài, hình thành sự kết hợp mạch giữa gốc và cành ghép làm
dinh dưỡng và nước được vận chuyển qua lại với nhau. Gốc ghép thông qua bộ rễ,
có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có
chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm (Vũ Khắc Nhượng và ctv. 2007).

7


1.3.2 Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng phương pháp ghép
Theo nhận định của Oda (1995), ghép là một kỹ thuật có từ rất lâu đời đối với cây
ăn trái. Những năm 1900, phương pháp ghép rau được sử dụng lần đầu tiên trên cây
dưa hấu nhằm hạn chế bệnh héo do Fusarium (Cary và Frank, 2006; trích dẫn bởi
Nguyễn Khánh Lâm, 2008). Theo Besri (2001), việc sử dụng gốc ghép kháng bệnh
trên cây rau đã được áp dụng phổ biến ở nhiều nước như Nhật Bản, Tây Ban Nha,
Ý, Đài Loan,… Ở Nhật Bản, năm 1990 có đến 31,5% cà chua, 49,9% cà tím, 92%
dưa hấu, 71,7% dưa leo và 43,8% các loại dưa khác ứng dụng trồng bằng kỹ thuật
ghép gốc kháng bệnh (Oda, 1993; trích dẫn bởi Trần Thị Ba, 2010).
Ở Việt Nam, ghép dưa hấu đã được áp dụng từ năm 1968, chủ yếu là ở Sóc Trăng
nhằm mục đích kháng bệnh héo rũ và tăng kích thước trái (Trần Thị Ba, 2010). Việt
Nam cũng đã bắt đầu nghiên cứu kỹ thuật ghép cà chua năm 1999 tại Viện nghiên
cứu Rau Quả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Miền Nam năm 2000-2003 (Trần Thị Ba, 2010). Đến năm 2004, Viện Nghiên cứu
Cây Ăn Quả Miền Nam cũng có nghiên cứu về cà chua ghép áp dụng cho Đồng

1.3.4 Phương pháp ghép rau họ cà ớt
Trước ghép 1-2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm
sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt; chọn cành, mắt ghép tốt: Cành
ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những
cây mang đầy đủ đặc tính của giống muốn nhân (Phạm Văn Côn, 2007).
* Kỹ thuật ghép nối ống cao su: Dùng dao lam cắt ngọn ghép xiên 1 góc 30o so với
phương thẳng đứng của cây ở vị trí lá thật đầu tiên. Tương tự cắt ngọn ghép ở vị trí
lá mầm cũng thành lát xiên 1 góc 30o. Dùng ống cao su hoặc ống nhựa lồng vào
ngọn ghép rồi lồng ống cao su hoặc ống nhựa có mang theo ngọn ghép vào gốc
ghép đã cắt vát sao cho vết cắt của ngọn và gốc ghép tiếp xúc với nhau. Thao tác
ghép cần nhanh, chính xác, được tiến hành ở nơi râm mát, khuất gió, gần phòng bảo
quản (Trần Thị Ba, 2010).
* Chăm sóc cây ghép: Cây ghép cần chuyển ngay vào phòng phục hồi và điều chỉnh
điều kiện phòng ở nhiệt độ 27-29oC, độ ẩm không khí 90% (sao cho không có nước
đọng trên lá, cường độ ánh sáng yếu). Thời gian bảo quản là 7-10 ngày. Trong điều
kiện phòng phục hồi đơn giản: Gồm vòm che bằng ni lông trắng, lưới đen phía trên
(3-5 lớp) giảm cường độ ánh sáng, nền phòng được trải ni lông để đựng nước tạo độ
ẩm, giá đặt cây cần cao hơn mặt nước. Trong ngày đầu sau khi ghép, thường xuyên
phun nước cho cây để cây luôn tươi (chỉ phun mù, rất ít trên lá, không phun nhiều
làm cho nước dính vào vết ghép). Từ ngày thứ 2, thứ 3 trở đi tưới nước cho cây
bằng bình bom có vòi phun nước mịn. Trong 3 ngày đầu sau khi ghép, cây ghép
phải được che mát để có ánh sáng nhẹ. Từ ngày thứ 4 tăng dần ánh sáng, đến ngày
thứ 7 cho cây sống trong điều kiện đủ sáng. Khoảng 12-15 ngày sau khi ghép có thể
đem cây đi trồng. Khi trồng cần chú ý không vun đất quá cao giáp với vết ghép
(Trần Thị Ba, 2010).
1.3.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của ngọn ghép
Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Cần Thơ tại Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ sống
của cây con cà chua ghép khá cao (86-92%) ở tất cả gốc ghép cà chua và cà tím

9

có gần 5.000 ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh của nước ta là 72
triệu/ha/năm (Đặng Văn Đông, 2007). Theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị
Kim Lý (2005), diện tích trồng hoa, cây kiểng nước ta còn nhỏ, tập trung ở các
vùng truyền thống của thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nghỉ mát như Hà
Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, với tổng
diện tích trồng hoa, cây kiểng khoảng 3.500 ha. Năm 2003, giá trị xuất khẩu hoa
kiểng đạt khoảng 30 triệu USD, thu nhập từ hoa kiểng trong cả nước ước tính đến
1.000 tỷ đồng (Đặng Phương Trâm, 2005).
Trong những năm gần đây, sản xuất hoa, cây kiểng đã được mở rộng khắp các tỉnh
trên cả nước, các vùng sản xuất mới còn được đầu tư các loại hoa mới và quy trình
kỹ thuật tiên tiến nên năng suất và thu nhập trên đối với diện tích cao hơn vùng

10


truyền thống từ 2-3 lần (Đặng Văn Đông, 2008). Với phong trào chơi cây kiểng cổ
thụ, bonsai thì các cây có trái đẹp, chín bền trên cây lại được các nhà trồng cây ưa
chuộng (Trần Hợp, 1998). Theo Phạm Văn Duệ (2005), một số nhà vườn ở nước ta
có sáng tạo trồng và điều chỉnh cây ăn trái thành cây kiểng lưỡng dụng, vừa có thể
trang trí, vừa làm thực phẩm.
1.4.2 Giá trị của hoa và cây kiểng
Hoa kiểng là loại cây nông nghiệp đặc biệt cung cấp cho con người các sản phẩm
mang tính nghệ thuật, khi cái ăn và cái mặc không còn là gánh nặng người ta có nhu
cầu thư giãn tinh thần (Đặng Phương Trâm, 2004).
* Giá trị tinh thần xã hội: Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), hoa là
tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống. Hoa và cây
kiểng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của con người; ở nhiều nơi trên
Thế Giới, trong nghi thức lễ hội hoặc lễ nghi của quốc gia, hoa như một thông điệp
thể hiện tâm tư tình cảm của con người (Nguyễn Bảo Toàn, 2004). Hoa kiểng làm
cho con người hướng thiện, nhân hậu, dịu dàng. Sự thưởng thức cái đẹp của hoa

- Thời gian: Tháng 06-12/2012
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Giống: Ớt Hiểm Xanh (HX), ớt Kiểng có nguồn gốc từ địa phương.
+ Gốc ghép: Ớt Hiểm Xanh, cây cao, nhiều cành nhánh cho tán xòe rộng,
trái nhỏ, dài trung bình 3-4 cm, chỉ thiên, trái non có màu xanh, chín màu đỏ, cây có
khả năng kháng bệnh tốt.
+ Ngọn ghép: Ớt Cà, Tròn Tím, Dài Tím, Dài Trắng và Ớt Thiên Ngọc
(Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Đặc điểm về hình dạng, màu sắc trái của 5 giống ớt Kiểng thí nghiệm, nhà
lưới nghiên cứu rau sạch khoa NN&SHƯD, ĐHCT (06-12/2012)
Giống ớt
Ớt Cà
Tròn Tím

Dạng trái
Tròn
Tròn

Hướng trái
Chỉ địa
Chỉ thiên

Màu sắc trái từ non đến chín
Trắng ngả vàng - cam - đỏ
Tím - cam - đỏ

Dài Trắng
Dài Tím
Thiên Ngọc

Trích đoạn Chiều cao cây Đường kính ngọn ghép Kích thước trái
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status