TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN NGỌC THÔNG
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN TỒN TRỮ
LÊN MỨC ĐỘ NHIỄM VI SINH VẬT VÀ
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MỘT
SỐ LOẠI THỨC ĂN CHĂN NUÔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THÚ Y
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN TỒN TRỮ
LÊN MỨC ĐỘ NHIỄM VI SINH VẬT VÀ
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MỘT
SỐ LOẠI THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Giáo viên hướng dẫn:
PGS. TS. LƯU HỮU MÃNH
PGS. TS. NGUYỄN NHỰT XUÂN DUNG
HUỲNH NGỌC TRANG
Sinh viên thực hiện:
TRẦN NGỌC THÔNG
MSSV: 3092693
Lớp: Thú Y – K35
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: “Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên mức độ nhiễm vi sinh vật và
K37 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành thí nghiệm.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Hội Đồng Giám Khảo đã dành thời gian
đọc và xem xét đề tài tốt nghiệp này
ii
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên mức độ nhiễm vi sinh vật
và thành phần hóa học của một số loại thức ăn chăn nuôi” được tiến hành
với mục tiêu khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian lên mức độ nhiễm vi sinh và
thành phần hóa học của 7 loại mẫu bao gồm: bắp (An Giang), bắp (Đắc Lắc),
cám gạo, bã khoai mì, bánh dầu đậu nành, bột xương thịt (Đức), bột xương
thịt (Cộng Hòa Séc) được tiến hành phân lập vi sinh vật và phân tích thành
phần hóa học ở 3 thời điểm tồn trữ mẫu: ngày 0, ngày 15 và ngày 30. Kết quả
nghiên cứu như sau:
Tất cả các mẫu đều nhiễm VKHK với mức độ tăng dần theo thời gian.
Trong đó, mẫu bánh dầu đậu nành nhiễm VKHK với mật độ cao nhất (ở ngày
0 là 1200x10
2
CFU/g, sau đó tăng lên 1600x10
2
, 2114x10
2
CFU/g tương ứng ở
ngày 15 và 30); mẫu bột xương thịt (Đức) nhiễm VKHK với mật độ thấp nhất
(ở ngày 0 là 2,60x10
2
, sau đó tăng lên 9,30x10
2
, 17,2x10
2
CFU/g tương ứng ở
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH SƠ ĐỒ vii
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Một số vi sinh vật nhiễm vào thực liệu thức ăn chăn nuôi 2
2.1.1 Tổng số vi sinh vật hiếu khí (VKHK) 2
2.1.2 Coliforms 2
2.1.3 Vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) 2
2.2 Tình hình thực liệu thức ăn bị vấy nhiễm vi khuẩn E. coli 4
2.4 Một số loại thực liệu thức ăn dùng trong chăn nuôi 5
2.4.1 Bắp 5
2.4.2 Tấm gạo 5
2.4.3 Cám gạo 6
2.4.4 Bã khoai mì 6
2.4.5 Bột xương thịt 7
2.4.6 Bột cá 7
2.4.7 Đậu nành và bánh dầu đậu nành 8
2.4.8 Khô dầu dừa 8
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Phương tiện nghiên cứu 10
3.1.1 Thời gian thực hiện 10
3.1.2 Địa điểm thực hiện 10
3.1.3 Đối tượng nghiên cứu 10
3.1.4 Dụng cụ và trang thiết bị 10
3.1.5 Hóa chất và môi trường 10
3.2 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 11
3.2.1 Phương pháp lấy mẫu 11
Hình 4.3 So sánh sự ảnh hưởng của thời gian lên mức độ nhiễm VKHK của 2
loại bột thịt xương qua các thời gian tồn trữ 24
Hình 4.4 So sánh sự thay đổi của DM và CP của hai loại bắp theo thời gian
tồn trữ 26
Hình 4.5 So sánh năng lượng giữa các loại thức ăn qua các thời gian tồn trữ 29
Hình 4.6 Ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên hàm lượng DM và CP của hai
loại bột thịt xương qua các thời gian tồn trữ 30
Hình 4.7 So sánh hàm lượng CP giữa các loại thức ăn qua thời gian tồn trữ 31
vii
DANH SÁCH SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cách pha loãng mẫu 13
Sơ đồ 3.2 Quy trình định lượng tổng số vi khuẩn hiếu khí 14
Sơ đồ 3.3 Quy trình định lượng Coliforms 15
Sơ đồ 3.4 Quy trình định lượng vi khuẩn E. coli 17
viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình nhiễm VKHK, Coliforms và E. coli trong nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi theo thời gian tồn trữ. 21
Bảng 4.2 Mật độ VKHK và Coliforms trong thực liệu thức ăn chăn nuôi theo
thời gian tồn trữ. 22
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thời gian dự trữ lên thành phần hóa học (%) và năng
lượng của bắp 25
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của thời gian dự trữ lên thành phần hóa học (%) và năng
lượng của cám gạo 27
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của thời gian dự trữ lên thành phần hóa học (%) và năng
lượng của bã khoai mì 28
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của thời gian dự trữ lên thành phần hóa học (%) và năng
lượng của bánh dầu đậu nành 29
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời gian dự trữ lên thành phần hóa học (%) và năng
lượng của bột xương thịt 32
SCA Simmons Citrate Agar
BPW Buffered Pepton Water
1
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi nước ta phát triển ngày càng mạnh để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Theo Cao Đức Phát (2011) tỷ trọng ngành
chăn nuôi trong nông nghiệp năm 2010 đạt từ 27 đến 28%, chăn nuôi heo
chiếm 45 đến 50% và gia cầm chiếm 30 đến 35% trong cơ cấu ngành. Tuy
nhiên ngành chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây gặp rất nhiều khó
khăn, nhiều dịch bệnh nguy hiểm xảy ra như heo tai xanh, lở mồm lông móng,
dịch tả, cúm gia cầm, Gumboro, … bên cạnh đó giá các loại nguyên liệu thức
ăn tăng mạnh trong đó chi phí thức ăn chiếm 70% tổng chi phí sản xuất nhưng
giá sản phẩm lại giảm làm người chăn nuôi không có lãi thậm chí bị lổ vốn.
Ngày nay, nhiều quy trình kỹ thuật mới được áp dụng rộng rãi trong chăn
nuôi nhằm rút ngắn thời gian và giảm chi phí sản xuất. Đồng thời để có thể
đứng vững trong tình hình khó khăn hiện nay đòi hỏi nhà chăn nuôi phải có
nhiều chiến lược mới, trong đó việc sử dụng thức ăn tự phối trộn là xu hướng
đang rất được quan tâm đặc biệt là ở các trại chăn nuôi hiện nay nhằm giảm
giá thành sản phẩm. Điều này đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề là làm thế nào
để chất lượng thức ăn được tốt cả về mặt vi sinh vật và hàm lượng dưỡng chất
nhằm đảm bảo sức khỏe và khả năng sinh trưởng tốt của vật nuôi.
Các loại nguyên liệu thức ăn có thể bị vấy nhiễm nhiều loại vi sinh vật
gây bệnh đặc biệt là vi khuẩn Escherichia coli, bệnh tiêu chảy do E. coli làm
giảm khả năng chuyển hóa thức ăn, heo chậm lớn và có thể gây chết 100% ở
heo con sơ sinh (Hồ Thị Việt Thu, 2012).
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng
của thời gian tồn trữ lên mức độ nhiễm vi sinh vật và thành phần hóa học
của một số loại thức ăn chăn nuôi”
Mục tiêu đề tài:
- Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian tồn trữ lên mức độ nhiễm vi sinh
Coliforms là những trực khuẩn gram âm không sinh bào tử, hiếu khí hoặc
kỵ khí tùy ý. Coliforms hiện diện rộng rãi trong tự nhiên, trong ruột người và
động vật. Nhóm Coliforms gồm có 4 giống là Escherichia coli với một loài
duy nhất là E.coli, Citrobacter, Klebslella và Enterobacter. Coliforms được
xem là nhóm vi sinh vật chỉ thị. Số lượng hiện diện của chúng trong thực
phẩm, nước hay trong các loại mẫu môi trường được dùng để chỉ thị khả năng
hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh khác. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
khi số lượng của Coliforms trong thực phẩm cao thì khả năng hiện diện của vi
sinh vật gây bệnh khác cũng rất cao. Coliforms được chia thành 2 nhóm là
Coliforms chịu nhiệt và Coliforms phân. Coliforms chịu nhiệt là những
Coliforms có khả năng lên men lactose sinh hơi trong vòng 24 giờ khi được ủ
ở 44
o
C trong môi trường Electrical Conductivity Borth. Coliforms phân là
Coliforms chịu nhiệt có khả năng sinh Indole khi được ủ ở 44,5
o
C trong môi
trường canh Trypton. Coliforms phân là một thành phần của hệ vi sinh vật
đường ruột ở người và động vật máu nóng khác. Vì vậy, chúng được sử dụng
để chỉ thị mức độ vệ sinh trong quá trình chế biến, bảo quản, vận chuyển thực
phẩm cũng như chỉ thị sự ô nhiễm phân trong mẫu môi trường (Trần Linh
Thước, 2006).
2.1.3 Vi khuẩn Escherichia coli (E. coli)
2.1.3.1 Đại cương về vi khuẩn Escherichia coli
Escherichia coli được gọi tên là E. coli thuộc họ Enterobacteriaeceae
3
được bác sĩ người Đức là Theodor Esherich phân lập đầu tiên và đưa ra đặc
điểm của vi khuẩn vào năm 1885. E. coli là loài quan trọng được tìm thấy
trong phân. Năm 1940 người ta đã tìm thấy những serotype của E. coli gây ra
một trận dịch tiêu chảy nặng bộc phát ở bệnh viện. Từ đó serotype được xem
C, pH thích hợp là 7,2 – 7,4; phát triển được ở pH 5,5 – 8,0
(Lưu Hữu Mãnh, 2009).
Môi trường nước thịt vi khuẩn phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn
màu tro lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi
trường có mùi phân thối (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Trong những điều kiện thích hợp E. coli phát triển rất nhanh. Trên môi
trường NA (Nutrient Agar), TSA (Tripticase Soy Agar) qua 18 – 24 giờ ủ ở
37
o
C hình thành những khuẩn lạc tròn ướt, màu trắng nhạt, mặt khuẩn lạc hơi
lồi, đường kính 2 – 3mm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970).
4
Trên môi trường MC (MacConkey agar) vi khuẩn hình thành khuẩn lạc
to, tròn, đều, màu hồng cánh sen hoặc hồng đậm đến đỏ, mặt khuẩn lạc hơi lồi,
kích thước 2 – 3mm.
Trên môi trường EMB (Eosin methyl blue) khuẩn lạc E. coli to, tròn, hơi
lồi, bóng, màu thẫm tím, có ánh kim.
Một số hóa chất ức chế sự phát triển của E. coli như chlorine và dẫn xuất
của nó, muối mật.
2.1.3.4 Đặc điểm sinh hóa
E. coli lên men có sinh hơi glucose, galactose, lactose, maltose,
aribinose, xylose, mannitol, fructose,… không sinh H
2
S, hoàn nguyên nitrate
thành nitrite, không sử dụng urea, không sử dụng citrate làm nguồn cung cấp
carbon. Tất cả vi khuẩn E. coli đều lên men đường lactose nhanh và lên men
glucose sinh hơi, đây là một đặc điểm quan trọng, người ta dựa vào đó để phân
biệt E. coli và Salmonella (Nguyễn Như Thanh, 1997).
Dùng các phản ứng IMViC (Indole – Methyl red – Voges proskauer –
Citrate) để phân biệt E. coli với các vi khuẩn đường ruột khác.
Bắp là nguồn cung cấp thức ăn năng lượng chủ yếu trong chăn nuôi ở
nước ta. Theo Dương Thanh Liêm và ctv. (2002) nguyên nhân giúp bắp có giá
trị năng lượng cao là do ngô có hàm lượng chất béo khoảng 4% trong khi hầu
hết các loại hạt cốc khác có hàm lượng béo thấp. Dầu bắp chứa nhiều acid béo
chưa no thiết yếu. Các acid này quan trọng trong trao đổi chất của động vật và
được tiết ra trong các nang lông nên giúp thú nhất là heo có lớp da bóng và
lông mướt.
Theo Lã Văn Kính (2003) vật chất khô của bắp là 87,30%, protein thô
8,4%, chất béo 3,98%, xơ thô 2,34%, canxi 0,1%, phospho 0,3% và năng
lượng trao đổi dao động từ 3.296 – 3.404 kcal/kg.
Bắp vàng có nhiều xantophyll (1kg ngô chứa 13,67mg xantophyll) là sắc
tố nhuộm màu chủ yếu của lòng đỏ trứng gà, mỡ và da gà. Ngoài ra bắp còn
chứa nhiều acid linoleic đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kích thước
trứng của gà mái đẻ (Tôn Thất Sơn, 2005).
Trong khẩu phần cho heo, gà bắp thường được dùng với tỷ lệ 60 – 70%.
Tuy nhiên, do chất béo trong bắp chứa nhiều acid béo không no nên làm mỡ
mềm, nên cần cho ăn ở mức thấp hơn ở cuối kì vỗ béo.
2.4.2 Tấm gạo
Tấm gạo là những mảnh gạo nhỏ vỡ ra từ hạt gạo nguyên trong quá trình
xay xát. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng củ tấm gần tương đương
gạo, giàu năng lượng (3.340 kcal ME/kg), ít xơ (0,9%). Hàm lượng protein
của tấm gạo dao động trong khoảng 6,73 – 12,49%, nhưng mức trung bình
thường là 9 – 10%. Nếu chỉ sử dụng tấm gạo là nguồn cung cấp năng lượng
chính trong khẩu phần cho gà đẻ sẽ dễ dẫn đến hiện tượng lòng đỏ trứng và da
6
gà bị trắng nhợt nhạt, vậy cần bổ sung sắc tố tạo màu hoặc thưc ăn giàu
carotene như bột cỏ, bột lá sắn (Lã Văn Kính, 2003).
2.4.3 Cám gạo
Cám gạo là phụ phẩm của lúa khi xay xát. Lượng cám thu được bình
quân là 10% khối lượng lúa. Tùy theo lượng trấu còn lẫn trong cám ít hay
protein thô 1,98%, béo thô 1,02%, xơ thô 8,06%, dẫn xuất không đạm 73,52%,
canxi 0,32%, phospho 0,06% và năng lượng trao đổi từ 1.967 – 2.544 kcal/kg.
Một số giống khoai mì cao sản có chứa hàm lượng HCN (acid
cyanhydric) rất cao trong lá và củ khoai mì. HCN trong khoai mì dưới dạng
glycoside, khi tiêu hóa các glycoside bị enzyme phân hủy tạo thành gốc CN
-
(cyanide) tự do rất độc với sự hô hấp tế bào. Các biện pháp xử lý như ngâm
nước, phơi nắng, sấy sẽ làm gốc CN
-
bay hơi, giảm bớt độc tính (Dương
Thanh Liêm và ctv., 2002).
Tỷ lệ dùng 30% khẩu phần.
2.4.5 Bột xương thịt
Bột xương thịt là sản phẩm phụ từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn
lại của động vật không dùng làm thức ăn cho người như: phổi, ruột già, gân
móng, lông, xương khi lọc thịt còn lại xương có dính thịt, tủy xương, …Bột
xương thịt tuy protein không cao lắm nhưng là nguồn cung cấp phospho và
canxi dễ tiêu hóa rất tốt. Một số thành phần nguyên liệu sản xuất bột xương
thịt có giá trị sinh học của protein không cao như collagen trong gân, lông,
sừng móng chứa keratin rất khó tiêu hóa (Nguyễn Duy Hoan, 2010).
Bột xương thịt Mông Cổ: protein thô 27 – 28%, canxi 4%, phot pho 2%,
2000 – 2200 kcal ME/kg.
Theo Lã Văn Kính (2003) vật chất khô của bột xương thịt là 95,36%,
protein thô 55,18%, béo thô 10,05%, canxi 9,60%, phospho 4,65% và năng
lượng trao đổi từ 2.749 - 3040 kcal/kg.
Theo Viện Chăn nuôi (1998) vật chất khô của bột xương thịt là 91,68%,
protein thô 42,71%, béo thô 2,69%, tro 39,76%, canxi 14,04%, phospho
6,53% và ME 2.133 kcal/kg.
Bột xương thịt cũng như các sản phẩm được chế biến từ động vật phải
được xử lý nhiệt hợp lý để tránh mầm bệnh còn hiện diện. Trước đây mầm
hocmon do tuyến giáp trạng tiết ra. Đậu nành khi rang, xử lý nhiệt có mùi
thơm kích thích tính thèm ăn của gia cầm. Gia cầm ăn ngô và đậu tương thì
chất lượng thịt thơm ngon hơn ăn những loại thức ăn khác. Trong hạt đậu
tương sống có chất kháng men tiêu hóa (antitrypsine) và men urease, chúng
đều bị tiêu hủy ở 105 – 110
o
C trong 10 – 30 phút.
Bánh dầu đậu nành là loại thức ăn cung cấp đạm phổ biến hiện nay, nó
chứa hàm lượng protein cao từ 42 – 45% đồng thời nó đảm bảo acid amin và
năng lượng có giá trị sinh học cao và cân đối. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng
Mận (1999) thành phần dinh dưỡng của khô dầu đậu tương: protein thô từ 44
đến 47%, béo thô 1,1 – 2%, xơ thô 5 – 6%, canxi 0,3%, phospho hữu dụng
0,29 – 0,3%, 2.250 – 2.850 kcal ME/kg.
Tỷ lệ dùng: gà con và gà nuôi thịt 15 – 20% khẩu phần.
2.4.8 Khô dầu dừa
Cùi dừa là phần thịt dừa khô được lấy ra sau khi đã bỏ vỏ và gáo dừa, có
9
chứa khoảng 65% dầu. Cùi dừa gồm 2 phần: phần thịt và phần vỏ bọc. Phần
vỏ bên ngoài cùi dừa thường khá cứng, màu nâu, bề mặt thô, ráp; còn phần thịt
cùi dừa màu trắng đục, nhiều dầu. Sau khi được ép dầu phần còn lại của cùi
dừa là khô dầu dừa, thường có màu nâu nhạt hoặc nâu sậm, gồm các mãnh
không đều, khô, dầy, giòn, mùi khét. Khô dầu dừa loại tốt thường có: protein
thô 17 – 18%, béo 9%, xơ 14 – 15%. Tỷ lệ khô dầu dừa không nên vượt quá
5% trong khẩu phần gà đẻ (Lã Văn Kính, 2003).
10
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện nghiên cứu
3.1.1 Thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013.
3.1.2 Địa điểm thực hiện
2
30%, ether,
thuốc thử Methyl Red (MR), Bromocresol Green, thuốc thử Kovac’s, Voges
Proskauer, phenolphthalein 0,1%, dihydroxylamin HCl 5%, fluorexone và
Trilon B.
- Acid boric 2%, acid ascorbic, H
2
SO
4
98%, H
2
SO
4
0,765N, H
2
SO
4
0,1N.
- NaOH 40%, NaOH 33%, NaOH 25%, NaOH 15%, KOH 20%.
11
- Hexaamonium heptamolybdate tetrahydrate (NH
4
)
6
MO
7
O
24
.4H
2
ăn
Các phương pháp dưới đây được tham khảo theo tài liệu của Lưu Hữu
Mãnh và Nguyễn Nhựt Xuân Dung, năm 2008.
3.2.4.1 Phương pháp xác định hàm lượng nước ở trạng thái gần khô
Dùng sức nóng để làm bay hết hơi trong mẫu. Cân trọng lượng mẫu
trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu.
Hàm lượng nước được tính bằng cách lấy trọng lượng mẫu trước khi sấy
trừ trọng lượng mẫu sau sấy.
3.2.4.2 Phương pháp xác định hàm lượng khoáng tổng số
Mẫu thức ăn sau khi thiêu cháy ở nhiệt độ cao 550 – 600
o
C chất hữu cơ
sẽ bị hủy hết, chất còn lại là tro thô (khoáng tổng số).
12
Hàm lượng tro được xác định bằng cách lấy trọng lượng mẫu trước khi
nung trừ cho trọng lượng mẫu sau nung.
3.2.4.3 Phương pháp xác định hàm lượng protein thô (CP)
Phương pháp Kjeldahl là phương pháp tiêu chuẩn dùng để xác định hàm
lượng nitrogen. Phương pháp gồm 3 bước:
Mẫu được vô cơ hóa bằng acid đậm đặc (H
2
SO
4
98%) đun nóng với sự
có mặt của chất xúc tác (H
2
O
2
30%) để gia tăng vận tốc phản ứng, nitrogen
trong protein bị phân giải thành NH
nó tạo ra phức chất fluorexon hóa (màu
lục huỳnh quang), trilon B có thể loại Ca
++
ra khỏi phức hợp với fluorexon làm
mất màu lục khi chuẩn độ.
3.2.4.5 Phương pháp xác định hàm lượng phospho (P)
Dùng phương pháp so màu cho kết quả nhanh và độ chính xác cao.
Trong môi trường acid ascorbic phản ứng với ammonium phosphate cho ra
phức hợp có màu xanh dương, phản ứng hoàn tất nhanh và tương đối bền. So
màu sau 5 phút ở bước sóng 720nm.
3.2.4.6 Phương pháp xác định hàm lượng béo thô (EE)
Chất béo bị hòa tan trong dung môi hữu cơ (ether ethylic). Ngoài chất
béo hòa tan, trong dung môi còn có các chất tương tự như sáp, hắc ín,
phosphatid, các sắc tố, … cho nên chất béo nhận được gọi là “béo thô”.
Cả ether và mẫu phải khô để tránh sự kết hợp giữa nước và các thành
phần khác trong mẫu như carbohydrate, urea, lactic acid, glycerol, …
13
9ml
10
-1
10
-5
9ml
10
-2
10
-4
10
-3
1ml
Acid và base có thể hòa tan được một phần chất khoáng.
Cồn hòa tan những chất hữu cơ tan trong dung môi và chất béo còn lại.
Hàm lượng xơ thô được xác định bằng cách lấy trọng lượng trước khi
nung trừ cho trọng lượng sau nung.
3.2.5 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật
3.2.5.1 Phương pháp đồng nhất và pha loãng mẫu
Cân chính xác 1 gram mẫu cho vào ống nghiệm chứa 9ml nước muối
sinh lý vô trùng đã chuẩn bị trước, đồng nhất mẫu ta sẽ được dung dịch huyền
phù có độ pha loãng là 10
-1
so với ban đầu. Dung dich mẫu đồng nhất tiếp tục
được pha loãng theo dãy thập phân.
Tiếp tục hút 1ml ở ống nghiệm thứ nhất cho vào ống nghiệm thứ hai có
chứa sẵn 9ml nước muối sinh lý vô trùng, trộn đều bằng Vortex. Độ pha loãng
của mẫu lúc này là 10
-2
. Cứ tiếp tục như vậy để có mẫu ở các độ pha loãng
10
-3
, 10
-4
, 10
-5
…