Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta phát triển
rất nhanh và đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Tổng diện tích nuôi
trồng thuỷ sản năm 2000 là 641900 ha, đến năm 2005 đã tăng lên đạt 952600 ha,
cho đến năm 2008 diện tích này đã tăng lên 1052600 ha. Trong đó diện tích
dành cho nuôi nước ngọt là 338800 ha chiếm 32.2% (Tổng cục thống kê, 2010),
bên cạnh mở rộng về diện tích thì các đối tượng nuôi cũng ngày càng phong
phú. Với nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày một đông nhu cầu về
thực phẩm ngày một nhiều, trong khi đó đất nông nghiệp ngày một thu hẹp và
bệnh của gia súc, gia cầm diễn ra ngày một nhiều và phức tạp. Chính vì vậy sản
phẩm thuỷ sản chiếm một phần không nhỏ trên thị trường. Để đáp ứng một phần
cho thị trường thì loài cá rô phi được nuôi rộng rãi tại nước ta, để tăng năng xuất
cho người nuôi, người ta đã thành công trong việc chuyển đổi giới tính cá rô phi.
Cá rô phi có chất lượng thịt thơm ngon, giá trành phù hợp với người dân, có tốc
độ sinh trưởng nhanh, được thị trường ưa chuộng. Nước ta có nhiều loài rô phi
được nuôi song loài rô phi vằn (Oreochromis niloticus) là đối tượng nuôi rất phổ
biến. Hiện nay cá rô phi nuôi công nghiệp được nuôi rất rộng rãi. Tuy nhiên, giá
các loại cám công nghiệp ngày càng cao. Sự chênh lệch giá các loại cám có cùng
một hàm lượng protein của một số công ty khác nhau là chênh lệch khá nhiều.
Giá cá thương phẩm bán ra thị trường lại rẻ, khiến người nuôi không có lãi. Bên
cạnh đó các công ty cám cạnh tranh bằng phương thức tiếp thị nhiều, khiến
người nuôi dao động trong việc lựa chọn loại cám nào để đem lại hiệu quả kinh
tế cao. Nhằm tìm ra loại cám thích hợp cho nuôi cá rô phi cần thiết thực hiện đề
tài: “Ảnh hưởng của một số loại thức ăn công nghiệp tới sinh trưởng cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus) nuôi thương phẩm.”
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
1.2. Mục đích nghiên cứu
+ Sarotherodon (cá bố ấp trứng trong miệng).
+ Oreochromis (cá mẹ ấp trứng trong miệng).
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
- Hiện nay có 3 loài chính phổ biến tại Việt Nam là:
+ Cá rô phi đen Oreochromis mossambicus, được nhập vào Việt Nam
năm 1953 qua người Thái Lan.
+ Cá rô phi vằn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam
năm1974 từ Đài Loan.
+ Cá rô phi đỏ (Ped Tilapia) có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm
1985 từ Malaiyia.
Dòng GIFT là cá rô phi O.niloticus chọn giống của dự án “Nâng
cao chất lượng di truyền cá rô phi nuôi” gọi tắt là GIFT thuộc trung tâm Quốc tế
nguồn lợi thuỷ sản (ICCLARM), Philippin.
Theo Smith (1949), cá rô phi dòng GIFT thuộc:
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ: Percoidae
Họ: Cichlidae
Họ phụ: Tilapia
Loài: Oreochromis niloticus
Hình 1: Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
4
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
2.1.3. Đặc điểm hình thái cấu tạo
Loài cá rô phi vằn: Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên. Đầu ngắn, miệng
rộng hướng ngang, rạch kéo dài đến đường thẳng đứng sau lỗ mũi một ít. Hai
hàm dài bằng nhau, môi trên dầy. Lỗ mũi gần mắt hơn mõm. Mắt tròn ở nửa
trước và phía trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi.
triển tốt còn nuôi ở trong lồng mùa hè là 25% protein. Những nghiên cứu của
Macintosh (1985) cho thấy cá rô phi O.niloticus sinh snr tốt khi cho ăn thức ăn
viên của cá hồi có hàm lượng protein là 43-46%. Có thể thấy được nhu cầu dinh
dưỡng của một số loài cá rô phi ở Bảng 1.
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
6
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của một số loài cá rô phi
Loài cá Cỡ cá (g)
Nhu cầu
protein
(%)
Tác giả
O.niloticus
0-5
30
Appler & Jauncey (1983); Appler
(1985); De Silva (1985); We (1986)
35
Santiago và ctv. (1982); Teshima và
ctv. (1985)
38-47 Taco, Jauncey và ctv. (1983)
2-10 40 Satia, 1974
Con lai
O.niloticus
với
O.aureus
2,9-8,4 24
Shiau and Huang (1989)
21-53 28
cấp một hàm lượng các chất và chế độ ăn như bảng 2.
Bảng 2: Một số yêu cầu dinh dưỡng của cá rô phi
Protein % của chế độ ăn
Kích cỡ cá: 1-10g ,
10-100g, >100g
35, 30, 23
Lipit (%) 6% như dầu cá tuyết, dầu đậu nành, dầu rau và dầu cọ
Protein: tỷ lệ năng
lượng
103mg/Kcal
Axit béo thiết yếu
1,0% (18:2n-6 hoặc 20:4n-6) trong cá Tilapia.zilli 0,5%
(18:2n-6) trong Oreochromis.niloticus
Cacbon hyđrat 50% đối với cá rô phi lai
(Tạp chí thủy sản Đông Nam Á 1,2/2003)
TTKHCN TS - 8/2003
Dinh dưỡng cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển và môi trường
nuôi. Cá rô phi là loài cá ăn tạp nghiêng về thực vật, thức ăn chủ yếu là tảo, một
phần thực vật bậc cao và mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn cá con từ cá bột lên cá
hương, thức ăn chủ yếu là động vật phù du (ÐVPD) và một ít thực vật phù du
(TVPD). Từ giai đoạn cá hương đến cá trưởng thành thức ăn chủ yếu là mùn bã
hữu cơ và TVPD. Cá rô phi có khả năng tiêu hoá các loài tảo lam, tảo lục mà
một số loài cá khác không có khả năng tiêu hoá. Ngoài ra cá rô phi còn ăn được
thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, các loại phụ phẩm nông nghiệp khác.
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
8
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
Ðặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như: cám
gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá và các phụ phẩm nông nghiệp
khác. Trong nuôi thâm canh nên cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm cao (25-
Bảng 3: Giới hạn các thành phần trong thức ăn có giá thành ít nhất cho cá
rô phi ở các giai đoạn
Thành phần % giới hạn
Khởi
điểm
Bắt
đầu
Tăng
trưởng
Kết
thúc
Protein thô Tối thiểu (Min) 40 30 25 20
Chất béo thô Tối thiểu 4 4 4 4
Sơ thô Tối đa (Max) 4 4 4 8
Canxi Tối đa 2,5 2,5 2,5 2,5
Tinh bột Tối thiểu 25 25 25 25
Năng lượng tiêu hoá
(Kcal/kg)
Tối thiểu 2800 2800 2800 2800
Vitamin và khoáng
chất
Cố định 2 2 2 2
Bột cá (tối thiểu
60% protein)
Tối thiểu 15 12 10 8
Cám gạo Không hạn chế
Cám lúa mỳ Không hạn chế
Hạt cải dầu/hạt bông Tối đa - 10 12 20
Ngô/bột sắn/bột lúa
miến
vài trăm tới vài nghìn trứng (Macintosh and Little, 1995). Nếu
trong điều kiện đủ dinh dưỡng, nhịp độ sinh sản của
O.mossambicus có thể là 30-60 ngày/lần. Trong giai đoạn sinh sản
cá tiêu tốn nhiều năng lượng cho sự phát triển sinh dục và đặc
biệt trong suốt thời gian ấp trứng, cá cái không ăn (Macintosh and
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
11
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
Little, 1995) điều này làm tốc độ tăng trưởng của chúng giảm
nhiều hoặc ngừng hẳn.
Hầu hết các loài cá rô phi trong giống Orechromis đều tham gia sinh sản
nhiều lần trong 1 năm. Trong điều kiện khí hậu ấm áp cá rô phi đẻ quanh năm
(10-11 lứa ở các tỉnh phía Nam; 5-7 lứa ở các tỉnh phía Bắc). Quan sát buồng
trứng cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các loại trứng,
từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng rụng để đẻ. Vì vậy trong tự nhiên ở các
ao nuôi cá rô phi chúng ta gặp rất nhiều cá con ở các cỡ khác nhau (trừ ao nuôi
cá rô phi đơn tính).
2.1.6.3. Tập tính sinh sản
Ðến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp
của cá rô phi rất rõ. Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây
ngực, vây lưng và vây đuôi, khi đó ở con cái có màu hơi vàng. Ngoài ra con cái
xoang miệng hơi chễ xuống. Để có thể phân biệt dõ cá đực và cá cái chúng ta có
thể phân biệt qua đặc điểm bên ngoài như bảng 4.
Bảng 4: Phân biệt cá rô phi đực và cá cái
Ðặc điểm
phân biệt
Cá đực Cá cái
Ðầu To và nhô cao
Nhỏ, hàm dưới trễ do ngậm
trứng và con
- Ở nhiệt độ 20
0
C thời gian ấp khoảng 6 ngày
Cá sau khi nở lượng noãn hoàng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trong
miệng từ 4- 6 ngày, cá mẹ nhả con và vần tiếp tục bảo vệ ở phía dưới trong 1-2
ngày đầu. Cá bột khi còn nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan
sát được vào lúc sáng sớm.
2.1.7. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của
cá rô phi
2.1.7.1. Ngưỡng nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản. Cá
là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ cơ thể cá biến đổi theo nhiệt độ môi trường
nước. Khi nhiệt độ nước thay đổi thì thân nhiệt của cá cũng thay đổi theo (Boyd,
1990). Nguồn cung cấp nhiệt độ cho thủy vực chủ yếu là từ năng lượng bức xạ
mặt trời, do vậy sự biến động của nhiệt độ nước cũng tuân theo quy luật ngày
đêm và theo mùa. Thường thì nhiệt độ của thủy vực ban ngày cao hơn ban đêm,
mùa hè cao nhất và thấp nhất vào mùa đông. Nhờ đặc tính giữ nhiệt tốt nên sự
biến động của nhiệt độ nước bao giờ cũng ít hơn nhiệt độ không khí trong cùng
một điều kiện. Các loài cá nhiệt đới nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng phát
triển nằm trong khoảng 25 - 30
0
C (Nguyễn Đức Hội, 1999).
Cá rô phi là loài cá nhiệt đới có thể chịu đựng nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt
độ thấp (Stickney, 1986); giới hạn gây chết thấp là 11
0
C và cao là 42
0
C; nhiệt độ
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
13
C. Thời
gian ấp trứng thay đổi tuỳ thuộc vào nhiệt độ của nước. Ở nhiệt độ nước 20
o
C
thời gian ấp nở là 6 ngày, và thời gian giảm xuống khi nhiệt độ là 28
o
C
(Wataebe và ctv. 1984; Rna 1990).
2.1.7.2. Ngưỡng Oxy hoà tan
Hàm lượng DO trong nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh
hưởng tới sinh trưởng phát triển của các loài cá nói chung và cá rô phi nói riêng.
Nguồn cung cấp DO chính trong thủy vực là từ khí quyển, quá trình quang hợp
của thực vật thủy sinh. DO trong ao mất đi do quá trình hô hấp hiếu khí trong
thủy vực, do sự khuếch tán ra khí quyển, và do hô hấp của sinh vật trong thủy
vực. Trong ngày DO có sự biến động, đạt cao nhất lúc 14 - 15h chiều và thấp
nhất vào lúc 5 - 6h sáng (Nguyễn Đức Hội, 1999). Theo nhiều tác giả khi DO <
1mg/l ảnh hưởng lớn tới hô hấp của hầu hết các loài động vật thủy sản. Cũng
theo các tác giả thì khi DO < 2mg/l thì một số loài cá giảm ăn và hoạt động.
Nhiều loài cá có thể bị chết nếu DO < 0,3mg/l kéo dài trong vài giờ (Trích dẫn
bởi Lê Trần Minh Hiếu, 2004). DO quá cao cũng ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
14
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
và phát triển của cá. Njoku (1997) cho rằng DO cao trên 15mg/l cũng không có
lợi cho cá. Theo tiêu chuẩn ngành thủy sản thì DO thích hợp cho cá nằm trong
khoảng 3 - 8mg/l.
Cá rô phi chịu được ngưỡng oxy thấp dưới 1mg/l. Nhưng ở hàm lượng
oxy thấp cá rô phi chậm lớn.
Hàm lượng DO thấp vào lúc bình minh được coi là một nguyên nhân làm
chậm lại sự phát triển của tuyến sinh dục và làm giảm số lần đẻ của cá. Do ban
con lai của nó chịu mặn kém hơn các loài rô phi khác, cá bột và cá trưởng thành
có thể chịu đựng được độ mặn tương ứng là 15 và 30 – 35 ‰.
Khả năng chịu mặn của các loài cá rô phi phụ thuộc vào cỡ cá, tuổi, nhiệt
độ và sự thích nghi về khí hậu. cá nhỏ thì khả năng chịu đựng độ mặn kém hơn
so với các loài cá lớn (Tilapia culture, 1994).
2.1.8. Một số hình thức nuôi cá rô phi
Nuôi ao bán thâm canh có bón phân và cung cấp thức ăn: là hình thức
nuôi năng suất ở mức khá, kết hợp cả thức ăn tự nhiên với thức ăn công nghiệp
nhằm hạ giá thành sản xuất và phù hợp với điều kiện nuôi của nhiều địa phương.
Hình thức nuôi này không cần sử dụng máy quạt khí và yêu cầu chi phí không cao.
Nuôi thâm canh trong bể: hệ thống nuôi này đòi hỏi kỹ thuật cao và
thức ăn là thức ăn công nghiệp hoàn toàn. Đồi hỏi đầu tư nhiều hình thức này
chỉ có nước ngoài như Nauy, Trung Quốc v.v
Nuôi thâm canh trong lồng: Nuôi lồng có vốn đầu tư và chi phí hoạt
động thấp hơn nhiều so với nuôi ao và nuôi bể. Cụ thể là cá được nuôi với mật
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
16
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
độ cao và được cho ăn toàn bộ. Mật độ nuôi phải tuỳ theo lượng ôxy có trong
nước nuôi. Ở Ðông Nam Á, khi nuôi thâm canh cá rô phi những người nuôi sử
dụng thức ăn chứa 20 - 32% protein.
2.1.9. Một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị
2.1.9.1. Một số bệnh thường gặp
Cá rô phi là một trong những loài cá có khả năng chịu đựng cao với môi
trường xấu, ít bị bệnh. Tuy nhiên khả năng thích ứng của cá cũng có giới hạn khi
nuôi thâm canh với mật độ dày vẫn gặp một số bệnh mà trước đó không gặp.
* Bệnh do virus, vi khuẩn
Cá rô phi bị bệnh do virus, vi khuẩn thường có biểu hiện:
+ Bơi phân tán, không định hướng trên mặt nước, khi chết thường chìm dưới
đáy.
/
oo
kéo dài ở nhiệt độ 23-24
o
C có thể
bị bệnh lở loét.
2.1.9.2. Biện pháp phòng trị
Phòng ngừa bệnh là biện pháp quan trọng quyết định đến kết quả nuôi, trong
dó chủ yếu áp dụng biện pháp tổng hợp: Cải tạo ao tạo môi trường nuôi tốt. Ao
nuôi phải được tẩy dọn sạch, bốc vét bùn và dùng vôi với liều lượng 7-
10kg/100m
2
để diệt mầm bệnh và các sinh vật gây bệnh cho cá. Chọn cá giống
đủ tiêu chuẩn không nhiễm bệnh, chăm sóc quản lý tốt trong quá trình nuôi.
Trong quá trình nuôi phải theo dõi thường xuyên sự biến đổi các yếu tố môi
trường, thông qua theo dõi hoạt động bơi lội của cá, mức độ bắt mồi để có biện
pháp xử lý kịp thời.
Khi phát hiện cá bị bệnh không nên tự chữa trị, không nên dùng thuốc bừa
bãi. Đối với bệnh do virus, ngày nay chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu. Do đó
biện pháp phòng ngừa vẫn là chủ yếu. Đặc biệt là biện pháp tẩy dọn ao theo
đúng quy trình kỹ thuật, cho ăn đủ lượng và chất, nước ao sạch, đầy đủ dưỡng
khí. Tuy nhiên nếu phát hiện cá bị một số bệnh thông thường có thể xử lý như
sau:
+ Đối với trùng quả dưa: dùng nước vôi phun xuống ao cho đến khi pH nước
đạt 7,5-8,5. Lượng vôi 2-4kg/100m
2
mặt nước.
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
18
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
lên 315.000 tấn năm 1995 (Theo báo cáo của Tổ chức Nông lâm Thế giới, 1997)
đặc biệt ở tiến bộ nuôi cá bè nhỏ mật độ cao đã góp phần rất lớn vào sự phát
triển của nghề nuôi cá nước ngọt (Schmittous và ctv. 1998). Ở các nước châu
Mỹ, cá rô phi là loài thực phẩm mới được quan tâm để xuất khẩu từ những năm
1980-1990. Năm 1998 tổng sản lượng cá rô phi ở các nước châu Mỹ là 204.267
tấn trong đó các loài Oreochromis spp. Chiếm 43%, O.niloticus chiếm 37% và 3
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
19
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
nước sản xuất nhiều nhất châu Mỹ là Mexico (94.279 tấn), Brazil (30.000 tấn),
Cuba (35.000 tấn). Trong tương lai dự đoán cá rô phi O.niloticus sẽ được phát
triển thành nuôi công nghiệp và sản lượng sẽ tăng gấp đôi trong 10 năm tới
(Fitzsimmons, 2000).
Các số liệu thực tế trong nuôi lồng ở sông Ratchburi (Thái Lan) cho thấy,
cá rô phi đỏ dòng Chitralada có trọng lượng ban đầu 58 - 89g, nuôi với mật độ
khác nhau và cho ăn thức ăn công nghiệp chứa 20 - 32% protein thô. Sau 120
ngày cá đạt cân nặng 650 - 700g với năng suất thu hoạch 50kg/m
3
. Các số liệu
tương tự cũng thu được từ nuôi cá rô phi ao (Malaixia) và nuôi lồng (hồ chứa
nước Jatiluhur, Inđônêxia).
Ở Thái Lan đã có một số cuộc thử nghiệm cho cá rô phi ăn các thức ăn
chế biến sẵn chứa 20 - 32% protein thô. Các cuộc thử nghiệm nhằm xác định
hiệu suất nuôi cá rô phi lồng (100m
3
/lồng) trong điều kiện độ mặn 15 - 20‰ và
nhiệt độ 28 - 32
0
C, với năng suất 20,4; 20,9 và 21,2 tấn/ha/vụ tương ứng với thời
gian nuôi là 143; 154 và 167 ngày. Mật độ thả 16300; 16500 và 15300 tương
cho cá rô phi lai xa là thức ăn viên nổi CP với hàm lượng đạm khoảng 20% và
thức ăn tự chế. Môi trường ao nuôi được kiểm tra nghiêm ngặt từ khâu bón phân
chuồng ủ mục gây màu nước, định kỳ thay nước, sử dụng vôi bột hạn chế mầm
bệnh Sau 5 tháng cho thu hoạch, có 65% cá đạt 500-600g/con, 25% cá đạt
300-450g/con Đến thời điểm hiện tại, sản lượng cá thu hoạch được gần 8
tấn/ha. Với giá bán trên thị trường 16.500 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, ước tính
nguồn lãi thu về đạt trên 30 triệu đồng.
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
21
Khóa luận tốt nghiệp Lê Văn Giang - Khoa Thủy sản
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
1.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Hợp tác xã NTTS Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc
Ninh.
1.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ 03/2010 đến 7/2010.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cá rô phi, trọng lượng trung bình 147,22 ± 0,02
g/con. Cá có nguồn gốc từ Hợp tác xã NTTS Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh.
2.2. Thức ăn sử dụng
Trong quá trình tiến hành đề tài cá thí nghiệm được cho ăn thức ăn là cám
viên nổi của 3 công thức khác nhau có độ đạm tương đương bán trên thị trường
với giá thành chênh lệch khá nhiều là:
Thức ăn 1 là thức ăn Green Feed có chứa 25% protein, thức ăn 2 là thức
ăn CP có chứa 25% Pr, thức ăn 3 là thức ăn Cargill có chứa 26% Pr. Nhưng với
sự tế nhị khi sử dụng cám của các công ty trên thị trường tôi thây thức ăn 1, 2
và 3 bằng công thức 1, 2, và 3 (CT 1, CT2, CT3). Thành phần của thức ăn thí
nghiệm được tóm tắt ở Bảng sau.
- Cân điện với độ chính xác 0,01g
- Các thiết bị đo điều kiện môi trường: Nhiệt kế thuỷ ngân, các test pH,
test Oxy.
3. Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.1. Sơ đồ thí nghiệm bối trí thí nghiệm được tóm tắt và mô tả ở Hình
2 và Hình 3
Hình 3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Các giai thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trong cùng một ao và tiến hành
trên 9 giai. Mỗi giai có kích thước 14,4 m
3
(3 x 4 x 1.2). Giai được cắm ngậm
trong nước 1,0m. Kích thước mắt lưới a = 2mm.
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
24
Cá Rô phi
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3
Giai
1
Giai
4
Giai
7
Giai
2
Giai
5
Giai
8
5 60 143,3 ± 1,67
2 25 2
5 60 151,7 ± 3,62
5
5 60 141,7 ± 2,79
8
5 60 146,7 ± 2,5
TB
5 60 146,7 ± 2,89
3 26 3
5 60 146,7 ± 2,46
6
5 60 145 ± 3,56
9
5 60 146,7 ± 4,36
TB
5 60 146,1 ± 0,57
Hình 4. Hình các giai cá trong ao thí nghiệm
Khoa Chăn nuôi & NTTS Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
25