1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẦN ANH PHÁP Tên đề tài:
‘‘NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN
LÁ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CHÈ TRUNG DU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NĂM 2014” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Trồng trọt
Lớp : 42 - Trồng trọt
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Vũ Thị Nguyên Thái Nguyên, năm 2014
2
Lần Anh Pháp
3
MỤC LỤC
Phần 1:ĐẶT VẤN ĐỀ 8
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 8
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài: 9
1.3. Yêu cầu của đề tài 9
1.4. Ý nghĩa đề tài 9
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 9
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 9
Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 10
2.1.1 Cơ sở khoa học 10
2.1.2 Nguồn gốc cây chè 11
2.1.3 Phân loại 12
2.2. Sự hấp thụ dinh dưỡng qua lá. 14
2.3. Vai trò của phân bón lá đến năng suất và chất lượng cây trồng. 15
2.4. Tình hình sản xuất phân bón lá trên thế giới và Việt Nam. 17
2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế giới và Việt Nam 19
2.5.1. Trên Thế giới 19
2.5.2. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 25
2.4. Diện tích, năng suất và sản lượng chè trong một số năm từ 2002 -
2012 28
2.5.3. Tình hình sản xuất chè ở Thái Nguyên 31
2.6. Cơ cấu giống chè 34
2.7. Sự hấp thụ dinh dưỡng qua lá 36
2.8. Một số nhận định về tổng quan 38
Phần 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
5.1. Kết luận 65
5.2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
5
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chínhnăm
2008 - 2012 20
Bảng 2.2: Năng suất chè của thế giới và một số nước trồng chè chínhnăm
2008 – 2012. 21
Bảng 2.3: Sản lượng chè của thế giới và một số nước trồng chèchính từ
năm 2008 - 2012 22
Bảng 2.5 Số liệu xuất khẩu chè tháng 9 và 9 tháng năm 2013. 30
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Thái Nguyêntừ năm
2004 - 2012 33
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2013 tại Thái Nguyên 47
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của việc sử dụng một số loại phân bón qua lá đến
độ rộng tán giống chè Trung Du PH1 52
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của việc sử dụng các loại phân bón lá đến độ dày
của tán cây trước và sau thí nghiệm. 53
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón lá đến mật độ búp chè 55
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của việc sử dụng các loại phân bón lá 58
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của việc sử dụng các loại phân bón lá khác nhau
đến tỷ lệ búp có tôm, tỷ lệ búp mù xòe 63
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của việc sử dụng các loại phân bón lá khác nhau
đến phẩm cấp chè nguyên liệu 64
6
TCN : Tiêu chuẩn ngành
TNHH : Công ty Trách nhiệm hữu hạn
CT : Công thức
NL : Nhắc lại
ĐC : Đối chứng
CV :Sai số thí nghiệm
LSD :Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
Pct :Là giả thuyết Ho đúng (Ft = Fb)
TP : Thành Phố
8
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp có chu kỳ
kinh tế dài, hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Diện tích chè Việt Nam hiện nay
đạt 131000 ha trong đó sản xuất chè kinh doanh 110000 ha, năng suất đạt
bình quân đạt 7,15 tấn búp tươi/ha. Tuy nhiên đa số đất trồng chè chỉ có trồng
canh tác 50 – 70 cm, hiếm khi trên 1 mét. Lượng mưa tập trung theo mùa làm
cho đất bị rủa trôi, xói mòn trong mùa mưa. Còn mùa mưa thì hạn hán trầm
trọng, thậm chí ngay vào thời điểm mùa mưa cây chè vẫn bị hạn do đất dốc
không giữ được nước.
Một yếu tố quan trọng bậc nhất trong thâm canh để phát huy tiềm năng
giống và chất lượng sản phẩm là sử dụng phân bón hợp lý.
Giai đoạn 1990 – 2010 đá có một số nghiên cứu về phân bón cho chè,
song tập trung vào phân bón vô cơ.
- Xác định ảnh hưởng của việc bón các loại phân bón lá tới năng suất
giống chè Trung Du PH1 tại trường Đại học Nông Lâm năm 2013.
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên
cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong
công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc. Đồng thời, là cơ
sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực
tiễn.
- Có kết luận chính xác về loại phân bón lá thích hợp cho giống chè
Trung Du tại Trường Đại học Nông Lâm thái nguyên.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề tài thực hiện là cơ sở để từ đó có những định hướng cho việc sử dụng
các loại phân bón lá cho cây chè vào thực tiễn sản xuất. Từ đó nâng cao hiệu
quả sử dụng phân bón và nâng cao năng suất cho cây chè tại Trường Nông
Lâm nói riêng và vùng chè Thái Nguyên nói chung.
10
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
Bón phân qua lá có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh dưỡng cây
trồng và đã được nông dân áp dụng từ nhiều năm nay khắp nơi trên thế giới,
mặc dù thông tin về lĩnh vực này trên các tài liệu khoa học còn hạn chế. Chỉ
tới thời gian gần đây, các nhà khoa học mới chú tâm tới và điều này đã được
trồng chè đang được áp dụng ở nhiều nơi, các kỹ thuật mới về việc bón cân
đối phân vô cơ và bổ sung hợp lý phân hữu cơ kết hợp phân bón đa lượng
chưa được áp dụng. Thêm vào đó là việc lạm dụng quá nhiều các loại thuốc
kích thích phun qua lá trước khi thu hái khoảng 3 - 5 ngày của người trồng
chè để có được sản lượng. Việc bón phân qua lá có rất nhiều tác dụng, đặc
biệt là cung cấp vi đạm cho cây trồng và làm mát lá, kích thích sự phát triển.
Giống chè Trung Du PH1có sức sinh trưởng khá, chống chịu sâu bệnh
khá, chống hạn trung bình, thích hợp cho chế biến chè xanh,chè trung du
thường có vị rất đậm đà,vị ngọt đậm, hương trà lưu để lâu. Yêu cầu trồng ở
những vùng có điều kiện thâm canh phân hữu cơ, che tủ và có tưới tiêu. Thích
ứng vùng thấp ở các tỉnh phía Bắc [18].
Với mục đích bổ sung phân bón qua lá để vừa nâng cao năng suất, chất
lượng, vừa tạo sản phẩm an toàn là vấn đề đặt ra cấp bách hiện nay. Từ đó sẽ
tăng được hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè hiện nay tại vùng sản xuất chè
Thái Nguyên.
2.1.2 Nguồn gốc cây chè
Nghiên cứu về nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến
nay còn rất nhiều quan điểm chưa được thống nhất, dựa trên những cơ sở về
lịch sử, khảo cổ học và thực vật học. Trong số đó, một số quan điểm đáng tin
cậy và được nhiều người công nhận nhất là:
12
- Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam - Trung Quốc :
Theo Daraselia (1989) từ những nghiên cứu về cây chè, các giải thích về
sự phân bố cây chè mẹ ở Trung Quốc của các nhà khoa học Trung Quốc, dựa
theo học thuyết ‘‘trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop ông kết luận
rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, nó phân bố ở phía đông, phía
Dựa vào những nghiên cứu khoa học đã kết luận: Cây chè nằm trong hệ
thống thực vật.
- Ngành hạt kín: Angispenmae
- Lớp 2 lá mầm: Dicotyledonae
- Bộ chè: Theales
- Họ chè: Camellia (Thea)
- Loài: Camellia (Thea) Sinenis
Từ những năm 1753 đến nay có rất nhiều cách đặt tên nhưng hiện nay
tên khoa học của chè được công nhận là: Camellia sinenis (L) OKVTRE hoặc
Thea Sinenis (L).
Căn cứ vào đặc điểm cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh thực, đặc điểm
thực vật học, đặc tính sinh lý sinh hoá, tính chống chịu,…Tác giả
Conhensturat (1919) Chiacallisainensis (L) đã chia ra 4 thứ chè.Đây là bảng
phân loại được nhiều người công nhận nhất.
- Chè trung quốc lá nhỏ (camelliasinensis - var - bohea)
- Chè trung quốc lá to (camelliasinensis - var - macrophylla)
- Chè shan (camellia - var - shan)
- Chè Atxan (Ấn Độ): (cameliasinenis - var - axtmica)
Hiện nay 4 thứ chè trên đều có ở Việt Nam, nhưng phổ biến nhất là chè
Trung Quốc lá nhỏ (chè trung du), chè Trung Quốc lá to và chè shan .
2.1.3.3. Sự phân bố của cây chè
Nguyên sản cây chè ở vùng nhiệt đới, tuy nhiên bằng các con đường lai
tạo, chọn lọc, nâng cao kỹ thuật canh tác mà cây chè được trồng ở cả những
nơi khá xa so với nguyên sản của chúng.
14
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất nhiều vào điều kiện tự nhiên
và điều kiện khí hậu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy: Chè được phân bố chủ
phân phối các dưỡng chất bất động.
- Thiếu nước để các chất dinh dưỡng ngấm vào (quá khô)
- Nhu cầu dinh dưỡng ở đỉnh cao: Trong suốt thời kỳ phát triển nhanh,
nhu cầu dinh dưỡng vượt quá khả năng cung cấp mặc dù đất trồng rất màu
mỡ.
- Khả năng cơ động các nguyên tố bên trong cây cũng có thể bị hạn chế
nếu hoa phát triển trước lá và do đó dẫn đến tình trạng hạn chế sự chuyển dịch
dinh dưỡng trong các mô mao dẫn.
Chính vì vậy, ta cần tìm ra một cách bón phân mới hiệu quả hơn tiết
kiệm hơn. Bón phân qua lá là kỹ thuật cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua
lá. Kỹ thuật này được phát hiện từ những người làm vườn ở Châu Âu từ thế
kỷ thứ 17 và phải hơn 1 thế kỷ sau nó mới trở thành đối tượng nghiên cứu của
các nhà khoa học. Nhưng chỉ những năm gần đây, khi các phương pháp đánh
giá quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng qua lá phát triển thì công việc nghiên
cứu và ứng dụng bón phân qua lá mới được phát triển mạnh. Hiện nay, các
nghiên cứu và ứng dụng về các loại phân lỏng và vai trò của bón phân qua lá
đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ.
Các chất dinh dưỡng qua vẩy và lông trên mặt lá thấm vào lá, tới các mô,
qua màng bán thấm của tế bào, đẩy mạnh quá trình đồng hóa và vận chuyển
chất trong quá trình phát triển của cây, từ cơ sở đó góp phần giúp câysinh
trưởng phát triển tốt cho năng suất cao. Với kỹ thuật nguyên tử đánh dấu
người ta còn thấy cây có thể hút dinh dưỡng qua thân và cành.
2.3. Vai trò của phân bón lá đến năng suất và chất lượng cây trồng.
Từ thế kỉ 19 phân bón qua lá đã được chú ý phát triển, vì được coi là một
tiến bộ kỹ thuật có hiệu quả nhanh và có lợi ích về kinh tế mặc dù phun phân
qua lá không thể thay thế việc bón phân qua rễ. Vì khó có thể đạt năng suất
cao mà chỉ phun phân qua lá và ngược lại. Các chất dinh dưỡng hòa tan trong
17
+ Bón phân qua lá cũng có thể được chỉ định khi nhu cầu tập trung dinh
dưỡng vào các vị trí chuyên biệt bên trong cây vượt quá khả năng phối trí
dinh dưỡng bên trong cây. Điều này thường xảy ra nhất trong những vùng
trọng điểm của các loại trái cây lớn hoặc các chùm đậu và liên quan tới cả hai
sự kiện là nhu cầu tập trung cao độ vào một vùng chuyên biệt nhiều nguyên tố
trong trái cây như N và K.
2.4. Tình hình sản xuất phân bón lá trên thế giới và Việt Nam.
Trong xu hướng phát triển mới, nền nông nghiệp chủ yếu bằng phân bón
vô cơ sẽ được thay thế dần bằng nền nông nghiệp bền vững, ở đó phân bón
được sử dụng có hiệu quả nhiều hơn, không để các chất dinh dưỡng dư thừa
gây lãng phí và gây ô nhiễm môi trường, sử dụng phân bón hữu cơ, không sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật đọc hại tới môi trường và con người, tăng chất
lượng sản phẩm nông nghiệp. Xu hướng phát triển này đã trở thành yêu cầu
và động lực cho sự phát triển các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất
tăng trưởng hữu cơ cũng như các phương pháp sử dụng phân bón mới có hiệu
quả.
Mặt khác, trong khi giá thành phân bón hữu cơ hiện nay càng ngày càng
tăng cao làm cho người nông dân không có đủ khả năng mua phân bón, mà
nhu cầu sử dụng phân bón cho cây trồng ngày càng cao. Trước tình hình đó
các nhà nghiên cứu đã bắt đầu tìm cách nghiên cứu ra loại phân bón có thể
cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây trồng mà giá thành lại rẻ.
Đầu thế kỷ 20, các nước tiên tiến đã nghiên cứu và phát triển các loại
phân bón qua lá, đó là loại phân bón hữu cơ được chiết xuất từ nguồn thủy,
hải sản. Loại phân bón này có nhiều ưu việt hơn hẳn các loại phân truyền
thống. Ở châu Á Thái Lan và Trung Quốc là hai nước chú trọng sử dụng các
sản phẩm hữu cơ này trong sản xuất nông nghiệp.
Năm 1999, hãng Globlresoures Deve Logmen của Hoa Kỳ bắt đầu nhập
Nghiệp Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Từ Liêm, Đan Phượng (Hà Nội), Mỹ
Vận, Tiên Lữ (Hưng Yên), Hoa Lư (Ninh Bình), Đông Hưng (Thái Bình)
Đến tháng 10/1997 hội đồng khoa học kỹ thuật Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã công nhận và cho phép Supermix được sử dụng trong nông
nghiệp. Supermix sử dụng trên chè (Đại Từ - Thái Nguyên) ở các công thức
19
phun cho chè đều tăng mật độ búp, năng suất tăn từ 16,4 – 37,5 %, trong khi
đó Komic tăng 15% . Nhưng dùng Supermic tỷ lện hao ít hơn, búp chè nhỏ ít
gẫy vụn.
Theo Viện Công nghệ xạ hiếm (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã nghiên
cứu chế biến thành công một số loại phân bón chế phẩm vi lượng từ đất hiếm
làm tăng năng suất chè, trong đó có chế phẩm phân bón qua lá. Các loại chế
phẩm này đã được thử nghiệm trong vườn ươm giống và thâm canh chè tại
một số nông trường chè và khảo nghiệm tại viện nghiên cứu chè với liều
lượng bón thích hợp cho kết quả như sau: năng suất búp tăng từ 10 – 28,4%
và tỷ lệ búp loại A tăng 33%, sản phẩm chè không có mùi lạ, hương vị chè
thơm hơn, độ đắng giảm.
Từ nguồn nguyên liệu phế thải, giá rẻ như da thải động vật, rong biển, cá
biển……. Tiến sỹ Đặng Xuân Toàn và đồng nghiệp (công ty cổ phần Kỹ
thuật môi trường) đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất phân bón
chất lượng cao. Đó là dây chuyền sản xuất phân bón lỏng bằng công nghệ
sinh học tiên tiến là thủy phân bằng ezim các phế thải giàu protein tương đối
toàn diện. Với thiết bị và nguyên liệu có sẵn, các nhà khoa học trong công ty
đã cho ra đời loại phân bón lá AgroDream “ M” và AgroDream “ D ” . Qua
khảo nghiệm, chè được dung AgroDream “ D ” cho mật độ búp tăng 13,73%
so với chè dùng các loại phân bón khác và tăng 5,65% lượng búp so với chè
dùng loại phân bón lá khác khi dùng phân bón lá AgroDream “ M” .Năm
Bảng 2.1: Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2008 - 2012
(Đơn vị tính: ha)
Tên nước
Năm
2008 2008 2010 2011
2012
Trung Quốc 1.298.374 1.298.374 1.419.530 1.514.000
1.513.000
Ấn Độ 578458 578458 583.000 580.000 605.000
Sri LanKa 221969 221969 218300 221.969 221.969
Kenya 157700 157700 171900 187.855 190.600
Việt Nam 108.800 108.800 113.200 114.800 115.964
Indonexia 106.948 106.948 107.800 127.000 122.500
Turkey 75826 75826 75851 75.890 75.860
21
( Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2013)[15]
Tính đến năm 2012.diện tích chè trên toàn thế giới đạt 3.275.991 ha.
Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất với 1.513.000ha,
chiếm 46.18% diện tích toàn thế giới.
Tiếp đó là Ấn Độ đứng thứ hai với 605.000 ha,chiếm 18.46% so với thế
giới. Đứng thứ ba là Sri lanka với diện tích 221.969 ha, chiếm 6.7%. Diện tích
chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á vói khoảng 88% diện tích, đây cũng
là nơi phát sinh ra cây chè.
2.5.1.2. Năng suất:
có diện tích lớn nhất nhưng năng suất chỉ đạt 11,334 tạ khô/ha/năm, tăng
8,66% so với năm 2008. Kenya là nước có năng suất chè lớn nhất đạt 19,318
tạ khô/ ha/năm, cao hơn 40,35% năng suất chè trung bình thế giới ( Năng suất
trung bình chè thế giới đạt 14,707 tạ khô/ha/ năm). Đứng thứ hai là Việt Nam
với 18,704 tạ khô/ ha/ năm cao hơn 25,54 % năng suất chè trung bình thế
giới.
2.5.1.3. Sản lượng
Bảng 2.3: Sản lượng chè của thế giới và một số nước trồng chè
chính từ năm 2008 - 2012
(Đơn vị tính: tấn)
Tên nước
Năm
200
8
2009 2010
201
1
201
2
Trung Quốc 1,257,384
1,375,780 1,467,467 1,640,310
1,714,902
Ấn Độ 987,000 972,700 991,180 966,733 1,000,000
Sri LanKa 318700 290000 282300 327,500 330,000
Kenya 345800 314100 399000 377,912 369,400
Việt Nam 173,500 185,700 198,466 206,600 216,900
1,95 triệu tấn tăng 3%. Tiêu thụ chè đen của các nước phát triển cũng đạt mức
tăng hàng năm là 2,2%, đạt 719.000 tấn. Đặc biệt tiêu thụ chè đen của Ấn Độ
tiếp tục tăng khá mạnh, đạt 832.000 tấn, tăng trung bình 3,2% [15] (theo FAO
Stat Citation 2006) [19].
Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê, các nước tiêu thụ chè hàng
năm thường phải nhập khẩu chè bao gồm 115 nước: 34 nước Châu Phi, 29
nước Châu Á, 28 nước Châu Âu, 19 nước Châu Mỹ và 5 nước Châu Đại
Dương.
Năm 2008, tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới
đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế
giới. So với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng
24
trung bình 16,89%. Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới
năm 2008 là Nga (510,6 triệu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ (318,5 triệu đô
la), Nhật Bản (182,1 triệu đô la) và Đức (181,4 triệu đô la).
Trong khi đó,tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế
giới đạt gần 3.5 tỉ đô la Mỹ, tăng 18.8% so với cùng kỳ năm 2007. Danh sách
các nước trong bảng xếp hạng top 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới
năm 2008 không có nhiều thay đổi so với năm 2007 với ba nước dẫn đầu là
Sri Lanka (đạt 1,2 tỉ đô la), Trung Quốc (682,3 triệu đô la) và Ấn Độ (501,3
triệu đô la) [19].
Theo Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO), năm 2009 nguồn cung
chè thế giới có thể giảm nhẹ so với năm 2008 do ảnh hưởng của thời tiết xấu
đã làm giảm sản lượng chè ở một số quốc gia sản xuất chè. Như tại Kenya,
nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới, những tháng đầu năm 2009 đang
phải đối mặt với thời tiết khô hạn kéo dài, làm sản lượng chè giảm mạnh. Sản
lượng chè thu hoạch của Kenya trong bốn tháng đầu năm nay đã giảm 50% so
Các thị trường khác như Ai Cập,Iran,Iraq nhu cầu tiêu dùng chè cũng
tăng.
Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang
chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống
liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và châu Á vẫn thích
dùng các sản phẩm chè truyền thống.
2.5.2. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
2.5.2.1. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu.Nhưng cây chè được khai thác
và trồng với diện tích lớn mới bắt đầu khoảng hơn 50 năm nay.
Với 3/4 diện tích là đồi núi, lại thêm khí hậu nhiệt độ nóng ẩm, Việt
Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát
triển.Tuy nhiên, ở nước ta sản xuất chè chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm
1925 [5].
Trước năm 1982, nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng chè dưới dạng chè
tươi, chè nụ.Sau khi người pháp chiếm đóng Đông Dương thì cây chè mới
được chú ý khai thác. Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát và nghiên
cứu vào năm 1885 do người pháp tiến hành [5]. Lịch sử phát triển cây chè ở
Việt Nam được chia ra làm các giai đoạn sau: