Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của cây Phượng Vĩ giai đoạn Vườn Uơm tại trường Đại Học Nông LâmThái Nguyên. - Pdf 29


1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM NGUYN VN THNG

Tờn ti:
Nghiên cứu ảnh hởng của một số loại phân bón lá
đến sinh trởng của cây Phợng Vĩ giai đoạn Vờn ơm
tại trờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên khóa luận tốt nghiệp đại học H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Lõm nghip
Khoa : Lõm nghip
Khoỏ hc : 2010 - 2014


H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Lõm nghip
Lp : K42 - Lõm nghip
Khoa : Lõm nghip
Khoỏ hc : 2010 - 2014
Ging viờn hng dn : ThS. Lờ S Hng

Thỏi Nguyờn, nm 2014

3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khoá luận là
trung thực. Khoá luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Giảng viên hướng dẫn
ThS. Lê Sỹ Hồng

Sinh viên


cây Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm ở các công
thức thí nghiệm 23
Bảng 4.6: Bảng tổng hợp kết quả sinh đường kính cổ rễ (cm) của các loại phân bón
lá đến sinh trưởng của cây phượng vĩ ở giai đoạn vườn ươm 24
Bảng 4.7: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với loại phân bón lá tới sinh
trưởngđường kính cổ rễcủa cây Phượng vĩ 25
Bảng 4.8: Bảng sai dị từng cặp cho sự tăng trưởng về đường kính cổ rễ 25
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến động thái ra lá của cây Phượng vĩ ở
các công thức thí nghiệm 26
Bảng 4.10: Tỷ lệ xuất vườn của cây Phượng vĩ ở các CTNN 27 5
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng
vn
H
của cây Phượng Vĩ ở các công thức
thí nghiệm 20
Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ (cm) của cây Phượng Vĩ
ở các công thức thí nghiệm 24
Hình 4.3: Đồ thị biểu diễn động thái ra lá của cây Phượng vĩ ở các công thức
thí nghiệm 27
Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu của Phượng Vĩ ở các công thức
thí nghiệm 28
Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ % cây con xuất vườn 29
Hình 4.6: Một số hình ảnh cây phượng vĩở các công thức thí nghiệm 30


Phần 5: KẾT LUẬN, VÀ KIẾN NGHỊ 31
5.1. Kết luận 31
5.2. Kiến nghị 32 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, nếu chúng ta biết
khai thác và sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý. Rừng không chỉ cung cấp
những vật dụng thực phẩm lâm đặc sản như:thuốc men, gỗ củi, tre, nứa…mà
rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí quyển, hấp thu chất độc
hại như: CO
2
, SO
2
và làm cân bằng môi trường sinh thái đem lại cuộc sống
trong lành cho con người và mọi sinh vật.
Mặc dù rừng có vai trò to lớn như vậy những diện tích rừng không
những trong nước mà ở một số nước khác diện tích rừng ngày càng giảm về
số lượng và chất lượng [6]. Do việc tăng lên về dân số và sự phát triển nhanh
chóng của nền công nghiệp đã dẫn tới việc phá rừng, lạm dụng tài nguyên
rừng một cách trầm trọng. Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng như:
xói mòn, rửa trôi, cạn kiệt nguồn nước, phá hủy môi trường sống của động
vật, làm mất đa dạng sinh học, gây nên biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường…
hàng loạt những hậu quả xấu diễn ra khi diện tích rừng bị giảm.
Trước thực trạng đó Nhà Nước ta đã quan tâm phát triển rừng để phủ
xanh đất trống, nâng cao chất lượng rừng.
Trong những năm gần đây, việc trồng rừng ngày càng được nười dân

+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản suất, biết áp dụng và kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành.
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc làm tự lập khi ra thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất cây giống PhượngVĩ
+ Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con
Phượng Vĩ ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo có chất lượng

3
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt
năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu
sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của
phân bón. Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với
điều kiện bên ngoài.
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho
cây. Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công
nghiệp. Trong cả hai cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như
nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây [1].
Có hai cách bón phân cho cây trồng: Bón phân qua rễ và bón phân
qua lá [16].
+ Bón phân qua rễ: Lượng phân bón trực tiếp vào đất, chất dinh dưỡng
được ngấm vào đất. Bộ rễ của cây hút chất dinh dưỡng từ đất chuyển lên các bộ
phận lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa quả) cây trồng phát triển bình thường.
+ Bón phân qua lá: (Lá , thân, cành, quả) lượng phân hòa tan vào nước
ở một nồng độ cho phép. Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh dưỡng
được ngấm qua lá.
Bón phân vào đất (qua rễ) cây hấp thụ thường không hết nên giữ lại

phân bón [8].
Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sinh sống trực
tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt,
cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng - chất lượng quả, hạt cao
chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại. Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N,
P, K và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có
một tỉ lệ thích hợp [3].
Trong gieo ươm:
- Điều kiện đất đai:
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con
sinh trưởng, phát triển tốt hay sấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước
và không khí cho cây.

5
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay
không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định.
+ Thành phần cơ giới của đất:Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước
tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm
đất và chăm sóc cây con hơn,… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng
cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt
trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát
pha, thoát nước tốt.
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi
lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm
trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ,
thân, cành, lá phát triển cân đối.
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô

Vào cuối thế kỷ XVIII đầi thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề xuất
cho từng cây hấp thụ mùn để sống. Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người Đức
Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ mầu mỡ của
đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa học
cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber khẳng định
việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau. Cùng năm đó
Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây
sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuối cây cần có nhiều
nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân cón không cần thiết. Việc bón phân thừa
hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm và chất lượng kém.
Năm 1974 polster, Fidler và lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây
than gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá
trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mối cây than gỗ ở mỗi thời kỳ
khác nhau là khác nhau.
Chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng.
Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của
cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá.

7
Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức
độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.
Ở Mỹ, Canada, Braxin,… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương
pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha [7]. Do đó tính ưu
việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng
chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả
cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng
các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư.
Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu
trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại.
Theo Thomas (1985) chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng

phân bón đa dạng, phân bón sinh học trở thành phân bón không thể thiếu
trong sản xuất nông nghiệp do đó: Phân vi sinh, phân bón lá, phân hữu cơ
cũng được ra đời và đã được sản xuất tại Việt Nam như: Công ty xuất nhập
khẩu vật tư kỹ thuật Henco, công ty sinh hóa nông nghiệp và thương mại
Thiên Sinh,… đã cho ra thị trường nhiều loại phân bón có tác dụng đối với
nhiều loại cây trồng như: NPK Lâm Thao, Supe Lân,… khi chúng ta sử dụng
phân bón vào sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan.
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân
bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất. Do trên mỗi lá có hàng triệu
khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng.
Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng
được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp
cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao [11].
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
*Vị trí địa lý
- Đề tài được tiến hành tại vườn ươm Trung Tâm nghiên cứu và phát
triển Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên thuộc địa bàn xã
Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của
trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.

9
* Địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung
bình 10- 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam.
Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit


0.241

0.035

3.64

4.56

0.90

3.5

10 - 30 0.670

0.058

0.211

0.060

3.06

0.12

0.12

3.9

30- 60 0.711

10
Phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới ẩm, được du nhập vào Việt Nam
từ giữa thế kỷ 19, mọc tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.000 đến 2.000
mm/năm.
Trước khi gieo, xử lý kích thích hạt bằng nước sôi, ngâm hạt trong
nước ấm và để nguội dần sau 12 giờ. Sau đó đãi hạt lép bỏ đi, rồi ủ trong túi
vải, mỗi ngày rửa chua 1 lần sau 4 ngày hạt nhú mầm, cấy vào bầu.
- Vỏ bầu bằng túi P.E, kích thước 9 x 13cm. Ruột bầu: 99% lớp đất mặt
tại chỗ 1% phân Supelan. Tưới đẩm bầu trước khi gieo hạt.
- Thời vụ gieo ươm: tùy theo điều kiện tại chỗ và nguồn giống, có thể gieo
ươm ở các tháng thích hợp. Tháng 2 - 3 dương lịch là thời điểm thích hợp nhất.
* Chăm sóc cây con:
- Thời gian đầu cần phải có giàn che, sau đó giảm độ che phủ từ từ và
cho cây ra ánh sáng hoàn toàn.bằng cách giảm bớt giàn che, tăng thời gian
chiếu sáng (chỉ che đậy khi nắng gắt hoặc trời mưa lớn).
- Luôn đảm bảo cho cây đủ ẩm, 2 tuần/lần làm cỏ, phá váng, tưới thêm
một ít phân NPK: 30 – 30 – 30, pha loãng 1% để tưới. Sau khi tưới phân cần
tưới lại nước lã , để không làm cháy lá cây.
* Tiêu chuẩn cây giống:
Cây con khỏe mạnh, không sâu bệnh, cong queo, chiều cao tối thiểu
40cm – 80 cm, nhưng tùy theo nhu cầu có thể trồng cây lớn hơn 1m.
* Kỹ thuật trồng:
- Cây Phượng Vĩ được trồng chủ yếu cho nhu cầu cảnh quan, nơi công
sở, trường học, thường được trồng phân tán, riêng rẻ.
- Cự ly trồng 6 x 6 m, hoặc 4 x 4m, mật độ trồng 280 cây - 625 cây, tùy
theo điều kiện đất tốt hay xấu mà bố trí mật độ trồng cho thích hợp.
- Trước khi trồng cần tiến hành đào hố 40 x 40 x 40cm hay 60 x 60 x 60cm.
- Tiến hành bón phân: phân chuồng hoai (5 – 10 kg/ hố) và phân NPK
(100gr/hố) trước khi đặt cây xuống hố ít nhất 15 ngày.
- Cách trồng: Dùng cuốc moi đất sao cho vừa đủ đặt cây con vào hố,

3.4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số
liệu, kết quả đã nghiên cứu trước.
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm - bố trí thí nghiệm.
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: Từ
những số liệu thu thập qua các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, tôi tiến hành
tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê
toán học trong Lâm nghiệp.

12
3.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp
Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu.
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng A, sàng đất.
- Thước đo cao, thước dây, thước kép.
- Bảng biểu, giấy, bút.
- Bình phun nước.
- Phân bón lá
Bước 2: Bố trí thí nghiệm.
Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng tôi bố trí thí nghiệm là một luống
với 360 bầu (mỗi hàng 15 bầu/cây).
Thí nghiệm được bố trí thành 4 công thức và 3 lần nhắc lại, tất cả là
12 ô thí nghiệm, các công thức thí nghiệm được bố trí cách nhau 10cm.
Mỗi công thức thí nghiệm có 90 cây, dung lượng mẫu quan sát là 30 cây
trong 1 ô.
- Công thức I: Phân bón cao cấp FERTI AMINO. Thành phần gồm có
N: 7%, P
2
O
5
: 6%, K


13
Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm
+ Tưới nước
Tưới đủ ẩm cho cây con vào sáng sớm và chiều mát. Số lần tưới tùy
thuộc vào điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất trong bầu. Thí nghiệm luôn giữ
đủ độ ẩm cho cây, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng. Bình quân lượng nước
tưới cho mỗi lần là 3-5 lít/m
2
.
+ Nhổ cỏ phá váng
Trước khi nhổ cỏ phá váng cho luống bầu cây tôi tưới nước cho đủ ẩm
trước khoảng 1-2 tiếng cho bầu ngấm đủ độ ẩm.
Nhổ hết cỏ trong bầu và quanh luống, kết hợp xới nhẹ, phá váng bằng
một que nhỏ, xới xa gốc, tránh làm cây bị tổn thương, trung bình 10 - 15
ngày/lần.
Khi cây con đạt chiều cao 5 - 6 cm, tiến hành dỡ dần dàn che
+ Sâu bệnh hại: Trong quá trình chăm sóc thí nghiệm định kỳ phun thuốc
phòng bệnh cho cây.
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian đo đếm các chỉ tiêu về sinh trưởng được tiến hành vào cuối
đợt thí nghiệm. Trong mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây
số 1 đến cây số 30.
Cách đo: Đo theo phương pháp đường chéo góc, lấy 5 điểm đại diện
cho mỗi OTC, 4 điểm ở 4 góc và điểm ở giữa mỗi điểm lấy 5 cây.
Đo cao: Sử dụng thước đo chiều cao và độ chính xác là ± 0,1cm. Đặt
thước sát miệng đến hết ngọn cây.
Đo đường kính cổ rễ (D
oo
):

4

3.4.2. Phương pháp nội nghiệp
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp để tính
chiều cao vút ngọn trung bình, đường kính cổ rễ trung bình thông qua các
công thức tính:
vn
H
=

=
n
i
i
H
n
1
1


=
=
n
i
i
D
n
D
1
00

trong mẫu bảng 3.3:

15
Mẫu bảng 3.3: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích
phương sai 1 nhân tố

Trong đó coi:
- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN).
Giả sử nhân tố A được chia làm a (a công thức thí nghiêm) cấp khác
nhau, mỗi cấp các trị số quan sát lập lại (b
i
) lần, kết quả được sắp xếp vào
mẫu bảng 3.3:
- Cột 1: Các cấp của nhân tố A.
- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân
tố A). Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp.
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát.
-
X
số trung bình chung của n trị số quan sát.
Đặt giả thuyết H
0
:
µµµµ
===
321
. Nhân tố A tác động đồng
đều lên kết quả thí nghiệm.
A
Các trị số quan sát

.
X
2
b
2
X
31
X
32
…………………………X
3
b
3
………………………
………………………
X
i1
X
i2
…………………………X
i
b
i
……………
……………
X
a1
X
a2
………………………….X

….
Xi
A
….
….
Xa
A
S
X16
Đối thuyết H
1
:
µµµµ
≠≠≠
321
. Nhân tố A tác động không đồng
đều đến kết quả thí nghiệm, nghĩa là có ít nhất 1 số trung bình tổng thể
i
µ

khác với số trung bình tổng thể còn lại.
Tính biến động tổng số:
V
T
là biến động của n (ab) trị số quan sát trong trường hợp số lần nhắc
lại b
i








=
∑∑
= =
(3.1)
n = b
1
+ b
2
+ …… + b
a
= a
×
b
Tính biến động do nhân tố A: V
A
là biến động giữa các trị số quan sát ở
các mẫu mà đại biểu là biến động giữa các số trung bình mẫu (trung bình các
cấp của nhân tố A). Loại biến động này có thể là ngẫu nhiên nhưng cũng có
thể là không ngẫu nhiên. Nó ngẫu nhiên nếu nhân tố tác động không rõ đến
kết quả thí nghiệm ở tất cả các cấp. Nó không ngẫu nhiên nếu nhân tố A tác
động khác nhau lên kết quả thí nghiệm. Được tính theo công thức:
Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau: b
1

là biến động giữa các trị số quan sát trong
cùng một mẫu (trong cùng một cấp nhân tố A), biến động này gọi là biến
động ngẫu nhiên, do các giá trị quan sát của các phần tử trong cùng 1 cấp
được chọn một cách ngẫu nhiên.
Do tính chất cộng của biến động của n trị số quan sát được xác định
bằng công thức:
V
N
= V
T
- V
A
(3.3)
Người ta đã chứng minh được rằng, nếu giả thuyết H
o
là đúng thì biến
ngẫu nhiên V
N
có nhân tố
2
χ
với df = a(b-1) độ tự do và V
A
có nhân tố
2
χ

với: df = a – 1 độ tự do. Vì vậy biến ngẫu nhiên có phương sai:
- Do số lần nhắc lại ở các công thức là như nhau:b
1

N
A
A
S
S
F =
(3.6)
Tra bảng F
05
với bậc tự do df
1
= a -1, df
2
= a(b-1)
So sánh:
- Nếu F
A

F
05
thì giả thuyết H
0
được chấp nhận, nghĩa là nhân tố A tác
động đồng đều lên kết quả thí nghiệm.
- Nếu F
A
> F
05
thì giả thuyết H
0

khác nhau.
- Nếu
LSDxjxi >−
ta kí hiệu dấu *, nghĩa là giữa 2 công thức có sự
khác nhau rõ. Vậy công thức ảnh hưởng trội hơn là công thức có
x
lớn hơn và
công thức là trội nhất có
max
x

Giá trị của LSD thay đổi phụ thuộc vào mức có ý nghĩa
α
tương ứng
với mức ý nghĩa khác nhau thì có LSD khác nhau. Thông thường người ta
tính LSD ở độ tin cậy 95% hay 99% tức là
α
=0,05 hay 0,01.
*Để có bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA như trên:
Ta thực hiện trên phần mềm Excel như sau:
Nhập số liệu vào bảng tính.

18
Click Tools

Data Analysis

ANOVA: Single Factor.
Trong hộp thoại ANOVA: Single Factor.
Mẫu bảng 3.4: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA

A
a-1
2
A
S

2
A
S
/
2
N
SWithin
Groups
(Ngẫu
nhiên)
V
N
n-a
2
N
STotal
(Tổng)
V


Tỷ lệ cây con xuất vườn được tính theo công thức: Tỷ lệ % cây con
xuất vườn = tỷ lệ % cây tốt + tỷ lệ % cây trung bình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status