khảo sát và thực nghiệm nuôi cá trê vàng (clarias macrocephalus gunther, 1864) trong ao đất ở huyện vũng liêm tỉnh vĩnh long - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN ĐINH THỊ NGỌC TUYỀN KHẢO SÁT VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ TRÊ VÀNG
(Clarias macrocephalus Gunther, 1864) TRONG AO ĐẤT
Ở HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2013

i

LỜI CẢM TẠ
Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Cần Thơ,
Ban chủ nhiệm khoa Thủy sản, phòng đào tạo Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều
kiện cho tôi học tập và hoàn thành tốt đề tài. Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cám ơn
chân thành đến gia đình tôi. Đặc biệt là mẹ, người mà luôn động viên và ủng hộ tôi
trong suốt thời gian tôi học tập tại trường.
Tôi xin chân thành gửi lời biết ơn đến thầy Dương Nhựt Long, anh Nguyễn
Hoàng Thanh và anh Phạm Huỳnh Tấn đã tận tình chỉ dạy, quan tâm, giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn cán bộ các xã của Huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long và các
cô chú chủ của các ao nuôi thực nghiệm đã hợp tác cùng tôi trong suốt thời gian
qua.
Cuối cùng tôi xin cám ơn các bạn trong lớp NTTS k36 đã đoàn kết, gắn bó với
tôi trong quá trình học tâp.
Chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Ngọc Tuyền
ii

TÓM TẮT
Đề tài “Thực nghiệm nuôi cá trê vàng (Clarias macrocephalus Gunther, 1864)
trong ao đất ở tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện ở xã Trung Hiếu huyện Vũng Liêm,
tỉnh Vĩnh Long. Thời gian thực hiện từ 4/2013 – 11/2013. Nhằm khảo sát hiện
trạng nuôi thủy sản, thực nghiệm và ứng dụng mô hình nuôi cá trê vàng trong ao
đất ở huyện Vũng Liêm – tỉnh Vĩnh Long.
Kết quả khảo sát cho thấy cá trê vàng chưa được các hộ nuôi thủy sản quan tâm.
Các loài cá được nuôi thường là cá Trê Lai, Trê Phi, Tra, Sặc Rằn, cá Lóc được
mua từ trại sản xuất giống. Mật độ trung bình 48,5 ± 75,55 con/m

iii

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học 3
2.1.2 Vị trí phân loại 3
2.1.3 Hình dạng 3
2.1.4 Phân bố 4
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.7 Đặc điểm sinh sản 6
2.2 Tình hình phát triển cá trê trên thế giới và trong nước 6
2.2.1 Trên thế giới 6
2.2.2 Ở Việt Nam 7
2.3 Các yếu tố môi trường 7
2.3.1 Nhiệt độ 7
2.3.2 pH nước 8
2.3.3 Hàm lượng Oxy hòa tan trong nước 8
2.3.4 Hàm lượng đạm tổng 8
2.3.5 Nitrite (NO
2
) 9
2.4 Các mô hình nuôi cá trê hiện nay 9
2.4.1 Nuôi đơn 9

sản 23
4.1.8 Ý kiến của các hộ nuôi về những thuận lợi và khó khăn trong quá trình
nuôi thủy sản tại huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long 25
4.2 Thực nghiệm mô hình nuôi cá trê vàng trong ao đất tại huyện Vũng Liêm
tỉnh Vĩnh Long 26
4.2.1 Một số yếu tố môi trường nước trong ao nuôi thực nghiệm 26
4.2.2 Khảo sát sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất của cá nuôi 29
4.2.2.1 Tăng trưởng của cá trê vàng 29
v

4.2.2.2 Tỷ lệ sống, sản lượng và năng suất của cá khi thu hoạch . 31
4.2.3 Hiệu quả lợi nhuận kinh tế mang lại từ mô hình nuôi 31
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 33
5.1 Kết luận 33
5.1.1 Hiện trạng nuôi thủy sản ở huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long 33
5.1.2 Thực nghiệm mô hình nuôi cá trê vàng trong ao đất 33
5.2 Đề xuất 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

vi

DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình cá trê vàng (Clarias macrocephalus Gunther, 1864) 3
Hình 3.1 Ao nuôi thực nghiệm cá trê vàng ở huyện Vũng Liêm 11
Hình 4.1 Nhiệt độ ở các ao nuôi thực nghiệm 26
Hình 4.2 pH ở các ao nuôi thực nghiệm 27
Hình 4.3 DO ở các ao nuôi thực nghiệm 28
Hình 4.4 N-NH
4
+


viii

DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
DO Oxy hòa tan
TB Trung bình
TSLN Tỷ suất lợi nhuận
TĂCN Thức ăn công nghiệp

1

CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới đã và đang suy giảm (FAO, 2000
trích dẫn bởi Dương Nhựt Long, 2003) trong khi đó nhu cầu thực phẩm từ thủy sản
ngày càng tăng. Chính vì điều đó ngành nuôi trồng thủy sản được quan tâm phát
triển để đáp ứng nhu cầu cho con người. Sản lượng nuôi thủy sản trên thế giới đã
gia tăng đáng kể khoảng 30,6 triệu tấn vào năm 2000, 37,8 triệu tấn năm 2001 và
41,9 triệu tấn năm 2003 (Trần Ngọc Hải, 2006 trích dẫn bởi Đoàn Bá Nghiệp,
2008). Việt nam là nước có đường bờ biển dài và có hệ thống sông ngòi dày đặt
nên thuận lợi phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, đặc biệt là đồng
bằng sông Cửu Long có tổng diện tích là 40.548,2 km². Mặc dù diện tích canh tác

3

CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học
Cá trê vàng (Clarias macrocephalus Gunther, 1864) thuộc họ Clariidae nằm
trong bộ Siluriformes, là một trong những bộ có số lượng phong phú chủ yếu sống
ở nước ngọt. Họ Clariidae gồm nhiều loài có giá trị kinh tế đang được nuôi ở nhiều
nước trên thế giới như: cá trê vàng, trê phi, trê trắng,…
2.1.2 Vị trí phân loại
Cá trê vàng có tên khoa học là Clarias macrocephalus Gunther, 1864 (Nguyễn

chính của nó, trê trắng xương chẩm hình chữ V, trê phi xương chẩm hình chữ M,
trê đen xương chẩm tương tự như cá trê trắng nhưng gốc của xương chẩm hơi tù
hơn (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.1.4 Phân bố
Cá trê vàng phân bố rộng trên thế giới, đặc biệt là vùng Á nhiệt đới và nhiệt đới.
Chúng có khả năng sống tốt ở vùng nước thiếu oxy và giàu chất hữu cơ. Cá trê
vàng sống ở nước ngọt, phân bố ở Philipin, Thái Lan, Lào, Campuchia và ĐBSCL
Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc trưng dinh dưỡng của cá khác nhau theo loài, trạng thái sinh lý cơ thể và
theo điều kiện sống (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008). Cá trê là loài
cá ăn tạp thiên về động vật đáy, cá thích ăn xác động vật đang thối rửa. Trong tự
nhiên cá trê còn ăn côn trùng, giun, ốc, tôm, cua, cá,… Ngoài ra, trong điều kiện ao
nuôi cá trê còn có thể ăn các phụ phẩm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản,
chất thải từ lò mổ (Dương Nhật Long, 2003). Khả năng sử dụng thức ăn chế biến
của cá cũng rất cao (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
* Giai đoạn cá con
Dinh dưỡng cá trê thay đổi theo ngày tuổi và kích thước cơ thể. Cá mới nở từ
trứng do có túi noãn hoàng nên không ăn thức ăn bên ngoài. Sau khi nở 48 giờ cá
mới tiêu thụ hết noãn hoàng. Do đó trong giai đoạn này không cần cho cá ăn bất cứ
thức ăn gì (Bạch Thị Quỳnh Mai, 2004). Cá bột từ ngày thứ 3 trở đi ăn được bo bo
hay còn gọi là trứng nước (moina), Rotifera, giáp xác nhỏ, Phytoplankton, ấu trùng
muỗi,…nếu thả nuôi trong ao chúng cũng ăn được các loại giáp xác nhỏ sống trong
5

nước. Sau vài ngày chúng đã ăn được trùng chỉ. Thông thường nếu ương cá bột trên
bể xi măng hay bể bạt thì trùng chỉ sẽ là thức ăn chủ yếu trong quá trình ương đến
khi cá bột đạt cỡ 4 - 6 cm thì cá ăn được thức ăn công nghiệp cỡ nhỏ và các loại
thức ăn chế biến: tôm, tép, cá nhỏ và phụ phế phẩm như đầu tôm, đầu cá,…
* Giai đoạn trưởng thành

35 cm nặng 250g. Cỡ cá lớn nhất đợt điều tra ở ĐBSCL dài 45 cm, nặng 495g. Cá
trê vàng chậm lớn, thịt thơm ngon, khi nuôi cá phá bờ và trèo đi lúc trời mưa (Ngô
Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000). Sự tăng trưởng của cá trê vàng phụ thuộc rất
nhiều vào mật độ thả và loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau. Một
tháng cá trê vàng có khả năng tăng trọng 8 – 8,3 g/con với mật độ nuôi 50 con/m
2
,
sau một năm cá đạt 180 – 200 g/con (Phạm Cao Hoạt và Đặng Đình Viên, trích dẫn
bởi Mã Đình Thái, 2001).
6

Tốc độ tăng trưởng của cá trê vàng ở mức trung bình. Ở giai đoạn cá bột lên cá
giống thì cá tăng nhanh về chiều dài. Khi đạt kích cỡ từ 15 cm trở lên thì trọng
lượng của cá tăng nhanh hơn (Đoàn Khắc Độ, 2008). Giai đoạn từ 1 - 15 ngày tuổi
thức ăn là trùng chỉ, cá tăng trọng lượng trung bình 36,85 mg/ngày. Đối với thức ăn
cám, bột cá tăng trọng trung bình 22,3 mg/ngày (Mã Đình Thái, 2001).
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
Sinh sản là đặc tính rất quan trọng đối với tất cả các loài vật nhằm tái sản xuất
và bảo vệ loài. Tuổi và kích thước thành thục của cá là đặc điểm thích nghi với điều
kiện sinh sản (Mai Đình Yên, 1979). Mỗi loài cá đều có tuổi thành thục khác nhau
và thay đổi theo nhiều điều kiện. Tuổi thành thục của cá có thể thay đổi khi môi
trường sống thay đổi. Thông thường những loài cá sống ở vĩ độ thấp có nhiệt độ
trung bình năm cao thì tuổi thành thục thấp hơn so với các cá cùng loài nhưng sống
ở vĩ độ cao nhiệt độ thấp. Những nơi có đầy đủ dinh dưỡng cá thành thục sinh dục
nhanh hơn, khối lượng cá lớn hơn và hệ số thành thục cao hơn (Nguyễn Văn Kiểm,
2008). Mùa vụ sinh sản của cá trê bắt đầu từ mùa mưa từ tháng 4 - 9 nhưng tập
trung chủ yếu vào tháng 5 - 7. Trong điều kiện nuôi cá có thể sinh sản nhiều lần
trong năm (4 - 6 lần). Nhiệt độ cho cá sinh sản từ 25 – 32
0
C . Sau khi cá sinh sản

lượng cá trê nuôi trong ruộng lúa và mương. Nuôi tăng sản cá trê ở Thái Lan được
coi là mô hình nuôi mẫu cho các nước Đông Nam Á. Nuôi cá trê cho thu thập hàng
năm cao hơn so với các dạng canh tác khác trong nông nghiệp. Tuy nhiên, do quá
trình công nghiệp hóa nên môi trường sống tự nhiên của chúng bị phá hủy và hiệu
quả nuôi giảm sút nhanh chóng.
2.2.2 Ở Việt Nam
Cá trê lai thường được nuôi ở quy mô hộ gia đình. Tổng lượng thức ăn sử dụng
bình quân khoảng 919,2 tấn/ha/vụ và loại thức ăn tự chế được 71 hộ nuôi cá sử
dụng chủ yếu với hệ số tiêu tốn thức ăn khá cao là 3,3 (±0,88). Năng suất cá thu
hoạch đạt 267,6 tấn/ha/vụ. Tổng chi phí bình quân cho nuôi cá là 4.240,4 triệu
đồng/ha/vụ, mang lại lợi nhuận khoảng 270,2 triệu đồng/ha/vụ. Sự biến động lớn về
lợi nhuận/ha/vụ và 22,2 % số hộ bị lỗ thể hiện mức độ rủi ro cao trong nuôi cá Trê
lai. Những hộ bị lỗ có xu hướng nghỉ nuôi hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác
(Trương Thị Lệ Thảo và Lê Xuân Sinh, 2010).
2.3 Các yếu tố môi trường
2.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước ao nuôi thay đổi theo vị trí địa lí của thủy vực, theo mùa,
theo thời tiết và theo ngày đêm. Trong thủy vực nhiệt độ thấp nhất vào buổi sáng
lúc 2 - 5 giờ, cao nhất vào buổi chiều 14 - 16 giờ. Lúc 10 giờ nhiệt độ nước trong
thủy vực gần đạt tới nhiệt độ trung bình ngày đêm. Nhiệt độ là yếu tố môi trường
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sống như: sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh
sản và di cư của thủy sinh vật. Đặc biệt đối với cá thì cá là động vật biến nhiệt
(Nour, 1994 trích dẫn bởi Đoàn Bá Nghiệp, 2008). Khi nhiệt độ môi trường gia
tăng cá sẽ tăng cường trao đổi chất, tăng cường hô hấp, tuyến sinh dục chín nhanh,
phôi phát triển nhanh và gây nhiều dị hình (Nguyễn Văn Bé, 1995). Mỗi loài cá có
khả năng thích ứng với khoảng nhiệt độ khác nhau. Đối với cá trê có khả năng thích
ứng với biến đổi rộng của nhiệt độ. Ở giai đoạn cá giống có thể sống trong khoảng
nhiệt độ 10,5 - 39
0
C, ngưỡng chịu nhiệt cao của cá trê vàng là 39

1997).
2.3.4 Hàm lượng đạm tổng
Đạm trong nước là nguồn dinh dưỡng cho thực vật, là một trong những chất
dinh dưỡng quan trọng đối với đời sống thủy sinh vật. Trong các thủy vực đạm
được liên kết trong các protein. Nếu nồng độ đạm trong thủy vực cao, gây ảnh
hưởng đến động vật thủy sinh.
Ammoniac (NH
3
) là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, sinh
trưởng của thủy sinh vật. NH
3
là khí độc đối với đời sống thủy sinh vật. Còn
ammonium (NH
4
+
) không độc và nồng độ N-NH
3
gây độc đối với cá là 0,6 - 2 mg/l
(Dowing và Markins, 1975 trích dẫn bởi Trương Quốc Phú, 2005). NH
4
+
trong
nước rất cần thiết cho sự phát triển của thủy sinh vật, làm thức ăn tự nhiên, nhưng
nếu hàm lượng NH
4
+
quá cao sẽ làm thực vật phù du phát triển quá mức nên không
9

có lợi cho cá. Theo Boyd (1990) (trích dẫn bởi Trương Quốc Phú, 2005) hàm lượng

hoạch ngày 12/10, số ngày nuôi là 190 ngày. Tổng sản lượng 9.678 kg, bình quân
5,3 tấn/mẫu. Hệ số thức ăn 2,57 và thức ăn dùng cho quá trình nuôi là cá tạp, nhộng
tằm, cám gạo, bột cá.
2.4.2 Nuôi ghép
Cách nuôi này không thay đổi tập quán nuôi các loài cá truyền thống như: mè,
trôi, chép, trắm và cũng không cho ăn thêm thức ăn. Nếu ghép thích hợp một số
loài cá trê có thể làm tăng sản lượng khoảng 50 kg/mẫu, nhờ đó nâng cao hiệu quả
kinh tế, thường mỗi ao thả thêm 200 – 450 con (cỡ 5 – 10 cm), cuối năm thu hoạch
toàn bộ.
2.4.3 Nuôi cá gia đình
Thường tận dụng những mảnh đất sau nhà hoặc góc vườn, xây bể xi măng, đào
ao đất từ vài m
2
đến vài chục m
2
, dùng những ao chưa ngâm đay để nuôi cá trê. Cỡ
cá thả 3 – 5 cm, mật độ 50 – 100 con/m
2
. Thức ăn là phân gà, lợn, bột nhộng tằm,
cá chết, phế thải các lò mổ, xác chết động vật, rau, nước gạo cơm thừa các nhà ăn
nhà hàng. Mỗi lần cho ăn từ 4 – 10 % trọng lượng cá. Vì nuôi ở ao nhỏ nên nước
10

rất dễ bị thối bẩn vì vậy phải thường xuyên thay nước, giữ cho nước sạch. Cách
nuôi này có thể đạt năng suất 10 – 12 kg/m
2
, có khi tới 30 kg/m
2
.
2.4.4 Cách nuôi khác

11

CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
3.1 Đối tượng thực nghiệm
Đối tượng nghiên cứu: cá trê vàng (Clarias macrocephalus Gunther, 1864).
3.2 Thời gian và địa điểm thực nghiệm
Đề tài được thực hiện tại 3 ao đất có diện 100 m
2
/ao tại huyện Vũng Liêm tỉnh
Vĩnh Long từ tháng 4/2013 đến tháng 11/2013.

Hình 3.1 Ao nuôi thực nghiệm cá trê vàng ở huyện Vũng Liêm
3.3 Vật liệu thực nghiệm
Những vật liệu cần thiết trong quá trình thực hiện đề tài là:
- Rễ cây thuốc cá để thuốc các loại cá tạp, cá dữ.
- Vôi (Cao, CaCO
3
) để cải tạo ao và ổn định pH.
- Cá trê giống.
- Thức ăn: thức ăn công nghiệp từ 25 – 40 % đạm.
- Cân số.
- Thước kẻ ô ly.
- Dụng cụ kiểm tra môi trường: nhiệt kế, test pH, test NH
4
+
, test oxy, test P-
PO
4
3-

giá sản phẩm, tổng chi phí và tổng thu nhập từ mô hình để xác định hiệu quả đồng
vốn đầu tư cho mô hình.
- Những thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi.
3.4.2 Thực nghiệm nuôi cá trê vàng
3.4.2.1 Thực nghiệm nuôi
Nguồn giống cá trê vàng được lấy từ trại sản xuất giống ở Tỉnh Hậu Giang. Các
ao mương có diện tích 100 m
2
, tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch, mực nước ao 1
13

– 1,2 m. Đáy ao dốc về phía bọng thoát nước, ao nuôi gần nguồn nước cấp thuận
lợi cho việc cấp cũng như dễ thay nước khi cần thay nước và thu hoạch.
3.4.2.2 Các biện pháp kĩ thuật
* Cải tạo ao nuôi
Sau một vụ nuôi cần phải cải tạo ao để diệt mầm bệnh, được thực hiện qua các
bước: vệ sinh làm cỏ quanh bờ, rút hết nước và diệt cá tạp bằng dây thuốc cá 1
kg/100 m
2
. Sên vét bùn đáy ao và lắp hang hốc, lỗ mọi. Phơi đáy ao 3 – 5 ngày, sau
đó tiến hành rãi vôi bột để diệt khuẩn liều lượng 10 – 15/100 m
2
, cho nước vào ao
20 – 30 cm, nước cấp được lọc qua lưới. Bón phân tạo thức ăn tự nhiên: dùng phân
lân NPK liều lượng 3 – 5 kg/1000 m
2
. Khoảng 3 – 4 ngày sau nước lên màu xanh,
cấp đầy nước qua lưới lọc đạt độ sâu 1 – 1,2 m và sau đó tiến hành thả cá.
* Mật độ thả nuôi
Mật độ nuôi 20 con/m

+
sử dụng bộ test DO và N-NH
4
+
, P-PO
4
3-
sử dụng bộ test P-PO
4
3-
.
3.6 Theo dõi sự phát triển của cá trê vàng
Theo dõi định kì 1 tháng/lần tiến hành thu mẫu bằng cách chài cá và chọn ngẫu
nhiên từ 30 con và tiến hành cân trọng lượng từng cá thể trong tổng số mẫu. Sử
dụng cân số lẻ để xác định khối lượng của cá ở các thời điểm khác nhau.
 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu
* Tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (Daily Weight Gain).
DWG (g/ngày) = (W
1
– W
0
)/ ∆t.
Trong đó: W
1
: khối lượng cuối (g).
W
0
: khối lượng ban đầu (g).
∆t: thời gian giữa 2 lần cân (ngày).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status