phân lập vi khuẩn salmonella và escherichia coli trên gà thả vườn bị tiêu chảy tại huyện vũng liêm tỉnh vĩnh long - Pdf 30

ii TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

VY VĂN LUẬN

PHÂN LẬP VI KHUẨN SALMONELLA VÀ
ESCHERICHIA COLI TRÊN GÀ THẢ VƢỜN BỊ
TIÊU CHẢY TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y


TIÊU CHẢY TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. LÝ THỊ LIÊN KHAI VY VĂN LUẬN
MSSV: 3092675
Lớp: Thú Y 35B
MSSV: 3072681
Cần Thơ, 2013
ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Ơn cha, mẹ đã hy sinh cả đời mình để dạy bảo, nuôi con khôn lớn và cho con
đƣợc cắp sách đến trƣờng. Anh, chị, em và những ngƣời thân trong gia đình đã
chăm lo, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm tạ
Ban giám hiệu trƣờng Đại Học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng
Dụng, bộ môn Thú Y đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Quý thầy cô bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
trƣờng Đại Học Cần Thơ đã ân cần và tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu
và nhận thức xã hội cho tôi trong suốt thời gian qua.
Cô cố vấn học tập cô Nguyễn Thị Bé Mƣời và giáo viên hƣớng dẫn đề tài Lý
Thị Liên Khai đã hết lòng lo lắng, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình học
tập và thực hiện đề tài.
Chân thành cảm ơn
Các chú, các anh của các trại chăn nuôi gà ở tỉnh Vĩnh Long đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình lấy mẫu.
Cùng các bạn bè lớp Thú Y - K35, các anh, chị học viên cao học đã giúp đỡ và
cùng tôi chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn trong suốt quá trình thực tập.

Vy Văn Luận iv

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Diễn giải
E. coli
Escherichia coli
EHEC

2.1.2 Tình hình nghiên cứu thế giới về vi khuẩn Salmonella và
Escherichia coli gây bệnh trên gà 2
2.2 Các nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy trên gà 3
2.2.1 Nguyên nhân không truyền nhiễm 3
2.2.2 Nguyên nhân do truyền nhiễm 4
2.3 Chẩn đoán phân biệt một số bệnh gây tiêu chảy trên gà 14
2.3.1 Bệnh tiêu chảy trên gà do Escherichia coli 14
2.3.2 Bệnh tiêu chảy trên gà do Salmonella 17
2.3.3 Tiêu chảy do bệnh cúm gia cầm 18
2.3.4 Tiêu chảy do bệnh Gumboro 19

Chƣơng 3: Phƣơng tiện và phƣơng pháp thí nghiệm 21
3.1 Phƣơng tiện thí nghiệm 21
3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 21
3.1.2 Hóa chất 21
3.1.3 Môi trƣờng 21
3.1.4 Thiết bị, dụng cụ và máy móc 21
3.1.5 Đối tƣợng nghiên cứu 21
3.2 Phƣơng pháp thí nghiệm 21
3.2.1 Phƣơng pháp lấy mẫu 21
vi

3.2.2 Phƣơng pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn Escherichia coli
và Salmonella 22
3.2.3 Phƣơng pháp định danh vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella
bằng phản ứng sinh hóa 26
3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.2.5 Phƣơng pháp xử lý số liệu 29

Chƣơng 4. Kết quả và thảo luận 30

3.1
Khuẩn lạc Escherichia coli trên môi trƣờng MC
22
3.2
Khuẩn lạc Salmonella trên môi trƣờng MLCB
24
3.3
Phản ứng sinh hóa định danh vi khuẩn Escherichia coli
27
3.4
Phản ứng sinh hóa định danh vi khuẩn Salmonella
28
4.1
Quang cảnh bên ngoài trại gà 1
30
4.2
Quang cảnh bên ngoài trại gà 2
30
4.3
Quang cảnh bên trong trại gà 1
31
4.4
Quang cảnh bên trong trại gà 2
31
4.5
Lòng đỏ không tiêu ở gà con bị tiêu chảy
36

Kết quả khảo sát tỷ lệ tiêu chảy trên gà ở tỉnh Vĩnh Long
theo tuần tuổi
33
4.3
Tần xuất xuất hiện triệu chứng trên gà bị tiêu chảy ở tỉnh
Vĩnh Long
34
4.4
Tỷ lệ gà chết bị tiêu chảy ở tỉnh Vĩnh Long
35
4.5
Kết quả phân lập vi khuẩn Escherichia coli và Salmonella
trên gà tiêu chảy chết ở tỉnh Vĩnh Long
37
4.6
Tỷ lệ dƣơng tính với Escherichia coli và Salmonella trên
gà bị tiêu chảy theo tuần
38
4.7
Kết quả kiểm tra sự hiện diện của vi khuẩn Escherichia
coli và Salmonella trên các loại mẫu bệnh phẩm
39

ix

TÓM LƢỢC
Bệnh tiêu chảy là một trong những bệnh xảy ra thường xuyên trên gà con, giai
đoạn 1 – 4 tuần tuổi. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra có thể do việc chăm sóc
nuôi dưỡng không tốt, điều kiện thời tiết thay đổi làm cho sức đề kháng của gà con
giảm tạo điều kiện cho các vi khuẩn tấn công gây bệnh, trong đó đáng quan tâm là

còn gây viêm túi khí, nhiễm trùng huyết và thƣờng kết hợp với Mycoplasma
gallisepticum gây viêm khớp, sƣng phù đầu, viêm màng bao tim, viêm màng
bụng, gan viêm dính fibrin (Hồ Thị Việt Thu, 2012). Ngoài ra, vi khuẩn
Samonella cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở gà con, nó sẽ xâm nhập
vào nội tạng và gây bệnh khi sức đề kháng của gà con giảm. Bệnh xảy ra ở thể
cấp tính ở gia cầm con và thể mạn tính ở gia cầm lớn, gây viêm hoại tử niêm
mạc đƣờng tiêu hóa và các cơ quan phủ tạng (Hồ Thị Việt Thu, 2012). Bệnh
tiêu chảy trên gà do E. coli và Salmonella gây thiệt hại kinh tế nhiều nhất
trong chăn nuôi gà ở Vĩnh Long hiện nay. Theo chúng tôi đƣợc biết hiện nay
chƣa có một nghiên cứu nào về bệnh tiêu chảy trên gà ở huyện Vũng Liêm,
tỉnh Vĩnh Long.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và đƣợc sự phân công của Bộ môn
Thú y, Khoa nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trƣờng Đại học Cần Thơ,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân lập vi khuẩn Salmonella và
Escherichia coli trên gà thả vƣờn bị tiêu chảy tại huyện Vũng Liêm, tỉnh
Vĩnh Long”
Mục tiêu đề tài:
Xác định đƣợc tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên đàn gà do Salmonella và E. coli
gây ra.
Xác định đƣợc tỷ lệ nhiễm Salmonella và E. coli từ 1 – 4 tuần tuổi.
Xác định đƣợc tỷ lệ nhiễm Salmonella và E. coli trên bệnh phẩm gà tiêu
chảy.
2

CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và thế giới về vi khuẩn Escherichia
coli và Salmonella trên gà
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc về vi khuẩn Escherichia coli và
Salmonella trên gà
Theo Tô Minh Châu và ctv. (2002), phân lập và định chủng vi khuẩn


thanh phân lập từ gà bị nhiễm trùng huyết Escherichia coli, trong đó 18 nhóm
Serogroups (O1, O2, O5, O8, O12, O14, O15, O18, O20, O53, O78, O81,
O83, O102, O103, O115, O116 and O132) chiếm 59% và 18 nhóm
Serogroups khác chiếm 29% phân lập từ phân gà khỏe.
Theo Boonmar et al. (1998), điều tra mức độ vấy nhiễm của Salmonella
enteritidis trên thịt bán lẻ ở Thái Lan, kết quả cho thấy 28% S. enteritidis phân
lập từ thịt bán lẻ, 4,5% S. enteritidis phân lập từ lò mổ và 6,6% S. enteritidis
từ phân gà.
Theo Aarestrup et al. (2003), kiểm tra mức độ mẫn cảm và sức đề kháng
với kháng sinh của vi khuẩn Salmonella từ các quốc gia ở Đông Nam Á, kết
quả vi khuẩn đã đề kháng với các loại kháng sinh sau: ampicillin (1,8%),
chloramphenicol (1,6%), florphenicol (0,4%), tetracycline (4,0%) và
trimethoprim (1,4%).
Theo Oliveira et al. (2009), chủng Escherichia coli gây bệnh trên gia
cầm chủ yếu là Serotypes O, cùng một loại gia cầm nhƣng có thể nhiễm các
serotype O khác nhau. Serotypes O1, O2, O78 đƣợc phân lập từ gà mái đẻ,
serotypes O8, O15, O78, O86, O88, O103 đƣợc phân lập từ gà giò, serotypes
O2, O5, O78, O88 đƣợc phân lập từ gà con, serotypes O2, O5, O78 đƣợc tìm
thấy ở gà tây.
2.2 Các nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy trên gà
2.2.1 Nguyên nhân không truyền nhiễm
Bệnh tiêu chảy thƣờng xả ra và gây chết đối với gà con, nhiều khi không
rõ nguyên nhân. Gà con sau khi nở, còn trong giai đoạn nuôi dƣới chụp sƣởi
(úm) và cả gà trên ba, bốn tuần tuổi vẫn hay bị mắc bệnh tiêu chảy.
Nguyên nhân: thƣờng có thể do chế độ ăn uống không tốt và do gà bị
cảm lạnh.
Chế độ ăn uống với khẩu phần dinh dƣỡng đặc biệt cao, quá dƣ thừa
protein động vật, nhất là các loại bột thịt, bột cá bảo quản không tốt, pha trộn
với tỷ lệ quá cao, quá nhiều. Cũng có trƣờng hợp thức ăn quá nhiều cám, quá

chim và động vật có vú). Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức
ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột.
Hình thái: E. coli là trực khuẩn hình gậy ngắn. Kích thƣớc 2 - 3µm.
Trong cơ thể có hình trực khuẩn đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn.
Có khi trong môi trƣờng nuôi cấy có những trực khuẩn dài 4 - 8µm, những
loại này thƣờng gặp trong canh khuẩn già. Phần lớn E. coli di động do có lông
ở xung quanh thân, nhƣng một số không thấy di động, không hình thành nha
bào, có thể thấy giáp mô.
Vi khuẩn bắt màu Gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu
khoảng giữa nhạt hơn. Nếu lấy khuẩn lạc nhầy để nhuộm có thể thấy giáp mô,
còn khi soi tƣơi thì không thấy đƣợc.
Đặc tính nuôi cấy: E. coli phát triển dễ dàng trên các môi trƣờng nuôi
cấy thông thƣờng, một số chủng có thể phát triển đƣợc ở các môi trƣờng tổng
hợp đơn giản nên ngƣời ta đã chọn chúng làm mẫu để nghiên cứu về sinh vật
5

học. E. coli là trực khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tùy tiện có thể sinh trƣởng ở
nhiệt độ từ 5 – 40
o
C, nhiệt độ thích hợp là 37
o
C, pH thích hợp là 7,2 – 7,4, có
thể phát triển đƣợc ở pH từ 5,5 – 8.
Trên môi trƣờng thạch thƣờng: sau 24 giờ hình thành khuẩn lạc tròn, ƣớt,
không trong suốt mà có màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đƣờng kính 2 – 3mm. Nuôi
lâu khuẩn lạc trở thành gần nhƣ nâu nhạt và mọc rộng ra. Có thể quan sát thấy
cả những khuẩn lạc dạng R và M.
Trên môi trƣờng nƣớc thịt: phát triển tốt, môi trƣờng rất đục, có cặn màu
tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màng màu xám nhạt trên mặt môi trƣờng,
môi trƣờng có mùi phân thối (Nguyễn Nhƣ Thanh, 1977).

nguyên lông H (flagellar), kháng nguyên vỏ K (Capsular) và kháng nguyên F
(Fimbriae). Hiện nay ngƣời ta xác định đƣợc 170 nhóm kháng nguyên O, 70
nhóm kháng nguyên K, 56 nhóm kháng nguyên H và một số kháng nguyên F
Bertchinger H.U và cộng sự (1992). Bằng phản ứng ngƣng kết, các nhà khoa
6

học đã phát hiện đƣợc các tính chất phức tạp và các yếu tố kháng nguyên của
vi khuẩn E. coli, bao gồm các loại kháng nguyên sau:
Kháng nguyên O (Somatic – kháng nguyên thân)
Theo Zinner và Perter (1983) đây là thành phần chính của vi khuẩn và
cũng đƣợc coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn. Kháng nguyên O đƣợc coi nhƣ
một ngọai độc tố, có thể tìm thấy ở màng ngoài vỏ của vi khuẩn và thƣờng
xuyên đƣợc giải phóng vào môi trƣờng nuôi cấy. Trọng trạng thái chiết xuất
tinh khiết, nó có bản chất là lipopolysaccharide, bao gồm 2 nhóm sau:
Polysaccharide có nhóm hydro ở thành ngoài vi khuẩn, mang tính chất
đặc trƣng cho từng giống.
Polysaccharide không có nhóm hydro nằm ở phía trong, không mang
tính đặc trƣng mà chỉ tạo sự khác biệt về khuẩn lạc ( từ dạng S sang dạng R).
Kháng nguyên O có những đặc tính sau: chịu nhiệt (không bị phá hủy khi đun
nóng ở 100
o
C trong 2 giờ), các chất cồn, axit HCL nồng độ 1N chịu đƣợc 20
giờ, nhƣng bị phá hủy bởi Formol 0,5%. Kháng nguyên O đƣợc cấu trúc bởi
các phân tử lớn với thành phần các phân tử gồm:
Protein: làm cho phức hợp mang tính kháng nguyên.
Polyosit: tạo ra tính đặc hiệu của kháng nguyên.
Lypit: kết hợp với Polyosit và là cơ sở của độc tính.
Theo Medearis (1968), khi làm mất dần từng phân tử đƣờng của chuỗi
polysaccharide hay thay đổi vi trí của các phân tử này sẽ dẫn đến thay đổi độc
lực của vi khuẩn. Tất cả kháng nguyên O đều cƣ trú ở bề mặt, do vậy có thể

nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trƣớc các yếu
tố phòng vệ của cơ thể (Evan et al., 1981). Phần lớn các ý kiến cho rằng kháng
nguyên K có 2 nhiệm vụ chính: hỗ trợ phản ứng ngƣng kết với kháng nguyên
O. Tạo ra hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại điều kiện ngoại lai và hiện
tƣợng thực bào. Theo Nguyễn Nhƣ Thanh (1997), kháng nguyên K gồm 3 loại
kháng nguyên: L, A, B.
Kháng nguyên L: ngăn không cho hiện tƣợng ngƣng kết O của vi khuẩn
sống xảy ra, khi đun 100
o
C trong 1 giờ kháng nguyên L bị phá hủy.
Kháng nguyên A: ngăn hiện tƣợng ngƣng kết O, kháng huyết thanh A
trộn với E. coli có kháng nguyên A gây hiện tƣợng phình vỏ. Với nhiệt độ
120
o
C trong 2 giờ kháng nguyên A mới bị phân hủy.
Kháng nguyên B: gồm nhiều thành phần: B1, B2, B3, B4, B5. Kháng
nguyên B của vi khuẩn sống xảy ra. Đun 100
o
C trong 1 giờ kháng nguyên này
bị phá hủy một phần. Dựa vào cấu tạo kháng nguyên O, vi khuẩn E. coli đƣợc
chia làm nhiều nhóm, căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E. coli đƣợc
chia làm nhiều type, mỗi type đều đƣợc ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O,
K, H.
Kháng nguyên giáp mô (kháng nguyên vỏ lọc)
Chất nhầy giáp mô phần lớn không có tính định hình vì khuếch tán,
thƣờng đƣợc cấu trúc bởi hợp chất polysaccharide nhƣng cấu trúc của
polysaccharide lại phụ thuộc vào từng họ vi khuẩn khác nhau thì cấu trúc khác
nhau, do đó mà tính kháng nguyên của từng loại vi khuẩn khác nhau. Một số
vi khuẩn trong quá trình phát triển tiết ra một chất nhầy có khả năng tan vào
8

Vi khuẩn E. coli tồn tại bình thƣờng trong ống đƣờng tiêu hóa của gia
súc, gia cầm. Dƣới ảnh hƣởng của một số yếu tố nhất định, các chủng vi khuẩn
E. coli có độc lực gây bệnh liên quan đến tình trạng tiêu chảy và nhiễm trùng
huyết ở gia súc non hoặc bệnh hô hấp của gia cầm. Các chủng khác không gây
tiêu chảy có thể trở thành căn bệnh cơ hội khi điều kiện cho phép, chúng
thƣờng tấn công vào bầu vú, tử cung, và đƣờng tiết niệu.
Vi khuẩn E. coli có thể gây bệnh đƣợc là do nhiều yếu tố nhƣ: khả năng
bám dính, khả năng xâm nhập, các loại kháng nguyên, yếu tố dung huyết, yếu
tố kháng khuẩn, khả năng kháng kháng sinh và độc tố. Nhƣng quan trọng nhất
là 2 yếu tố độc lực chính: kháng nguyên bám dính (fimbriae) và độc tố đƣờng
ruột: kháng nguyên bám dính cho phép vi khuẩn bám dính trên tế bào biểu mô
lông ruột non để từ đó gây nên những biến đổi bệnh lý kèm theo. Khả năng
bám dính của vi khuẩn vào tế bào biểu mô ruột của vật chủ hoặc lớp màng
nhầy của tế bào đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh của vi khuẩn.
9

Đa số các chủng vi khuẩn E. coli phân lập đƣợc từ gia súc non bị tiêu chảy đều
có một kháng nguyên bề mặt gọi là Pili. Kháng nguyên này quyết định độc lực
chủ yếu vì nó làm cho vi khuẩn E. coli bám dính vào đƣờng ruột. Sự tăng
nhanh của tế bào vi khuẩn dƣờng nhƣ có liên quan đến khả năng bám dính của
chúng vào tế bào biêu mô của ruột để tránh sự đào thải khỏi ruột non do nhu
động của ruột.
Độc tố đƣờng ruột (Enterotoxin) do vi khuẩn sản sinh ra gắn vào receptor
trên tế bào ruột non của vật chủ gây nên những biến đổi chức năng sinh lý
màng tế bào, dẫn đến việc tăng cƣờng bài xuất nƣớc và các chất điện giải ra
khỏi màng tế bào, cuối cùng gây chết gia súc do mất nƣớc, rối loạn trao đổi
điện giải và trúng độc toàn thân (Acres, 1985).
Theo McMullin (2004), trên gà công nghiệp bệnh E. coli có thể bùng
phát bởi một số nhân tố sau: điều kiện môi trƣờng, vi sinh vật và thức ăn giàu
dƣỡng chất.

nhƣng rất yếu và chết ngay sau đó. Gà bệnh thƣờng ốm yếu, nhỏ hơn những
gà khỏe mạnh khác. Bụng trễ xuống do lòng đỏ không tiêu, mắt nhắm, xù
lông, xả cánh, kêu xao xác, tụ đám, phân trắng bết hậu môn.
Ở gà trƣởng thành: xảy ra ở 2 thể, gà thể cấp tính bất thình lình giảm
lƣợng thức ăn tiêu thụ với biểu hiện mệt mỏi, gục xuống, xù lông, mào tái
nhợt, giảm sảm lƣợng trứng và khả năng sinh sản, giảm khả năng ấp nở. Tiêu
chảy, mất nƣớc, suy yếu. Thân nhiệt tăng 2 – 3 ngày sau khi bệnh. Chết
thƣờng xảy ra sau 5 – 10 ngày. Thể mạn tính: mặt, mào và yếm tái nhợt do
thiếu máu, mào và yếm teo lại. Đẻ ít, đẻ không đều hay ngừng đẻ. Trứng có vỏ
xù xì, dính máu ở vỏ hay trong lòng đỏ. Bụng xệ xuống do viêm phúc mạc
chứa nhiều dịch chất. Phân lúc bón, lúc tiêu chảy.
Bệnh tích: gà con lòng đỏ không tiêu, thối, mềm nhão, có màu xám xanh.
Lách sƣng to gấp 2 – 3 lần so với bình thƣờng, hoại tử. Gan sậm màu, sung
huyết, xuất huyết. Màng ngoài tim dầy, đục, có chứa dịch rỉ viêm màng. Có
nhiều hạt nhỏ trong tim. Ruột viêm xuất huyết, có nhiều nốt dạng cúc áo trong
ruột, manh tràng chứa đầy phân trắng. Một số gà bị viêm khớp. Ở gà trƣởng
11

thành viêm buồng trứng và ống dẫn trứng, trứng méo mó, có nhiều màu sắc
khác nhau, trứng có thể bị vỡ làm viêm phúc mạc. Gan sƣng bở, có những
đốm hoại tử. Lách, thận sƣng lớn. Gà trống: dịch hoàn có nốt hoại tử, đôi khi
có điểm casein ở phổi và túi khí.
Hình thái: Salmonella là một loại vi khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn,
kích thƣớc 0,4 – 0,6 x 1 – 3µm, không hình thành giáp mô và nha bào. Đa số
các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh do có lông xung quanh
thân trừ Salmonella gallinarum – pullorum, vi khuẩn dễ nhuộm với thuốc
nhuộm thông thƣờng, gram âm, khi nhuộm vi khuẩn bắt màu đều toàn thân
hoặc hơi đậm hai đầu (Nguyễn Nhƣ Thanh, 1997).
Vi khuẩn có đặc tính chịu nhiệt kém, thuộc họ vi khuẩn đƣờng ruột
(Enterobacteriae), là trực khuẩn Gram âm, hai đầu tròn, hiếu khí, không có nha

lồi, có màu đỏ nhạt trên BGA và màu đen xám trên MLCB, đƣờng kính khuẩn
lạc 2 – 4mm (Black Burn, Ellis, 1973).
Gelatin: vi khuẩn không làm tan chảy gelatin, chúng hình thành màng
mỏng hơi mờ trên mặt thạch, khuẩn lạc nhỏ, không trong suốt, chạy theo
12

đƣờng cấy sâu (Nguyễn Nhƣ Thanh, 1997). Hầu hết vi khuẩn Salmonella của
các loài đều giống nhau về hình thái và tính chất nuôi cấy, do đó không thể
phân biệt và định type trên môi trƣờng nuôi cấy bình thƣờng.
Đặc tính sinh hóa: mỗi loài Salmonella có khả năng lên men một số loại
đƣờng nhất định và không đổi. Theo Nagaraja (1991), phần lớn các loài
Salmonella có tính sinh hơi glucose, maltose, arabinose. Một số loài cũng lên
men các loại đƣờng nhƣng không sinh hơi: S. typhisuis, S. typhimurium, S.
choleraesuis, S. enteritidis, S. gallinarum, S. choleraesuis không lên men
arabinose, tất cả Salmonella đều không lên men đƣờng lactose, saccharose trừ
S. arizonae. Enzyme khử carboxyl khoảng 96% Salmonella đều tiết ra enzyme
khử cacboxyl đối với lysine, arginine, orthnithine.
Cấu tạo kháng nguyên: Ở Salmonella, ngoài phản ứng huyết thanh đặc
hiệu của từng vi khuẩn còn có hiện tƣợng ngƣng kết chéo giữa các kháng
nguyên vi khuẩn này với kháng thể của loài khác. Đó là do thành phần kháng
nguyên của Salmonella hết sức phức tạp gồm nhiều thành phần đặc hiệu đại
diện cho cả nhóm, loài, chủng huyết thanh.
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella gồm 3 loại: kháng nguyên O,
kháng nguyên H, kháng nguyên Vi (K).
Kháng nguyên thân O: (Somatic antigen)
Đây là loại kháng nguyên rất quan trọng. Hiện nay, ngƣời ta tìm thấy 67
yếu tố khác nhau, một Salmonella có thể có một hoặc nhiều yếu tố. Mỗi một
yếu tố ngƣời ta đánh bằng số La Mã.
Yếu tố đặc hiệu: Chỉ có loài đó mới có.
Yếu tố không đặc hiệu: có thể chung cho một số loài.

ăn, nƣớc uống. Đến ruột non vi khuẩn chui qua niêm mạc ruột mà không làm
tổn thƣơng niêm mạc ruột, xâm nhập vào các hạch bạch huyết, chúng dừng lại
và phát triển ở đó, đây là thời kỳ ủ bệnh. Khi sinh sản nhiều, một số tế bào vi
khuẩn sẽ tự ly giải, phóng thích nội độc tố. Một số khác theo hệ bạch huyết
vào máu gây nhiễm trùng huyết. Từ máu, vi khuẩn có thể đi đến hầu hết các
cơ quan trong cơ thể và gây nên các ổ áp xe. Tuy nhiên, vi khuẩn thƣờng cƣ
trú ở bàng quang hoặc nhân lên trong túi mật rồi tiết vào đƣờng tiêu hóa.
Trong thời kỳ đầu của bệnh có thể không tìm thấy vi khuẩn nhƣng sang tuần lễ
thứ 3 hoặc thứ 4 thì vi khuẩn Salmonella nhân lên rất cao tƣơng ứng với thời
kỳ vi khuẩn đạt lên đỉnh cao trong túi mật và thải ra đƣờng tiêu hóa (Nguyễn
Thanh Bảo, 1993).
Nếu mật độ nuôi gia súc cao, stress do vận chuyển, thay đổi chế độ nuôi
dƣỡng hoặc bị các bệnh truyền nhiễm khác đều làm tăng khả năng xuất hiện
bệnh từ con vật mang trùng và tăng khả năng cảm nhiễm của con vật (Phan
Thanh Phƣợng, 2002).
2.2.2.2 Truyền nhiễm do virus
Bệnh Newcastle (dịch tả gà): do virus Newcastle thuộc họ
Paramyxovirinae, nhóm avian paramyxovirus là một RNA virus có vỏ, virus
14

có đặc tính gây ngƣng kết hồng cầu gà, ngƣời, bò, vịt, nhƣng không gây ngƣng
kết hồng cầu ngựa.
Những gà bị nhiễm bệnh Newcastle, gà ủ rũ, bỏ ăn, xù lông, gà mái
thƣờng ngƣng đẻ, trên chuồng có những bãi phân trắng.
2.2.2.3 Tiêu chảy do kí sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong cơ thể gà là một trong những yếu tố gây tổn
thất trong nuôi gà. Các loại ký sinh trùng trong cơ thể cƣớp đoạt các dƣỡng
chất đồng thời tiết độc tố làm rối loạn tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy cho gà, làm
cho gà giảm tăng trọng, còi cọc, chậm lớn.
Bệnh cầu trùng ở gà do Protoza gây ra. Tác nhân bệnh là nội ký sinh

Viêm rốn ở gà con: bệnh viêm rốn bởi Escherichia coli là do trứng bị
nhiễm vi khuẩn từ phân. Ngoài ra có thể là do trứng bị nhiễm vi khuẩn từ vòi
trứng hoặc buồng trứng từ gà mẹ. Trứng bị nhiễm có thể bị chết phôi. Tỷ lệ
nhiễm bệnh tăng từ khi gà mới nở đến 6 ngày tuổi. Những gia cầm sống sót bị
còi cọc đến 3 tuần tuổi. Những chủng thuộc serotype O1a:K1:H7 gây tử vong
cao ở gà con 1 ngày tuổi với triệu chứng viêm cuống rốn. Trƣờng hợp gà sống
sót trên 4 ngày tuổi bệnh tích thƣờng thấy là viêm màng ngoài tim, túi lòng đỏ
không tiêu, giảm tăng trọng.
Hội chứng sưng phù đầu: dịch viêm tích tụ lại ở lớp sâu dƣới da, viêm
kết mạc mắt, viêm xoang vùng đầu, làm cho vùng đầu sƣng lên.
Viêm ống dẫn trứng cấp tính: bệnh thƣờng lây qua giao phối. Đây là
bệnh cấp tính và thƣờng gây chết ở các đàn gà tây giống trong một thời gian
ngắn sau khi thụ tinh. Đặc trƣng bởi hiện tƣợng viêm ống dẫn trứng, viêm ổ
nhớp, viêm phúc mạc, trứng rớt trong xoang bụng và đƣợc bao quanh bởi lớp
bã đậu, những niêm mạc bị tổn thƣơng bị dày lên đáng kể, loét bị bao phủ bởi
màng giả, màng casein hoại tử dẫn đến tắc phần dƣới của ống dẫn trứng.
Viêm vòi trứng, viêm phúc mạc: bệnh làm giảm năng suất trứng và gây
chết lẻ tẻ ở gà mái. Bệnh này là một trong những nguyên nhân gây chết ở gà
đẻ thƣơng phẩm và gà giống. Viêm vòi trứng kéo dài làm tích tụ các dịch tiết
casein đọng lại trong xoang bụng giống nhƣ lòng đỏ trứng cô đặc, trứng có thể
bị tắc lại trong ống dẫn trứng. Do đó bệnh này còn gọi tên là viêm phúc mạc
trứng.
Viêm dịch hoàn: bệnh xảy ra ở gà trống do giao phối với gà mái bị nhiễm
Escherichia coli thể viêm vòi trứng. Bệnh tích thƣờng thấy là dịch hoàn sƣng,
cứng, viêm, có hình dạng bất thƣờng và có những điểm hoại tử.
Thể nhiễm trùng huyết: có thể thấy ở những thể sau: nhiễm trùng huyết
cấp tính, viêm đa màng thanh dịch á cấp tính và viêm u hạt mạn tính. Bệnh
tích đặc trƣng là sau khi mổ khám các mô tổ chức thƣờng mất màu do tiếp xúc
với không khí, và có mùi đặc biệt do vi khuẩn sản sinh indol. Túi Fabricius teo
hoặc viêm, viêm màng bao tim, viêm cơ tim, bao tim dày đục do tích tụ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status