ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất lúa om6796 vụ đông xuân năm 2012 – 2013 tại huyện kế sách,tỉnh sóc trăng - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
LÚA OM6796 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 – 2013
TẠI HUYỆN KẾ SÁCH,TỈNH SÓC TRĂNG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ, 2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Nông Học

ĐỀ TÀI
“ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
LÚA OM6796 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 -2013
TẠI HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH TỈNH SÓC TRĂNG” Sinh viên thực hiện: ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013 DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD iv
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.

Tác giả luận văn
ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG

vi
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG
Ngày sinh: 28/ 10/ 1991
Nơi sinh: Kế Sách, Sóc Trăng

vii
ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG, 2013 “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất
giống lúa OM6796 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng”. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trƣờng Đại học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: GS. TS. Nguyễn Bảo Vệ và ThS. Trần
Thị Bích Vân.

TÓM LƢỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa OM6796
vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” đƣợc thực
hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng năng suất lúa và
hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất ở vùng nghiên cứu. Thí nghiệm đƣợc tiến
hành trong vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng. Đƣợc bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm
các nghiệm thức: sạ ở mật độ 200 kg/ha, sạ ở mật độ 150 kg/ha, sạ ở mật độ 100
kg/ha. Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Đông Xuân, sạ với mật độ 200kg/ha có
số chồi/m
2
, số bông/m
2
cao hơn nhƣng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt
chắc/bông và năng suất lại thấp hơn. Không đem lại hiệu quả kinh tế khi không
giảm đƣợc chi phí cho sản xuất. Sạ 150 kg/ha có chồi/m
2
, số bông/m
2
thấp hơn sạ

1.1.2 Phân loại cây lúa theo đặc tính thực vật học 2
1.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT 2
1.2.1 Rễ lúa 2
1.2.2 Thân lúa 3
1.2.3 Lá lúa 3
1.3 THỜI KỲ SINH TRƢỞNG CỦA CÂY LÚA 4
1.3.1 Giai đoạn tăng trƣởng 4
1.3.2 Giai đoạng sinh sản 5
1.3.3 Giai đoạn chín 5
1.4 YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT 5
1.4.1 Ảnh hƣởng của khí hậu 5
1.4.2 Ảnh hƣởng của đất 7
1.4.3 Ảnh hƣởng của sâu bệnh 7
1.5 PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ 7

x
1.5.1 Sạ lan 7
1.5.1.1 Sạ ƣớt 8
1.5.1.2 Sạ khô 8
1.5.1.3 Sạ ngầm 8
1.5.1.4 Sạ chay 8
1.5.1.5 Sạ gởi 8
1.5.2 Sạ hàng 9
1.6 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌCVÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 9
1.6.1 Chiều cao cây 10
1.6.2 Chiều dài bông 10
1.6.3 Số bông/m
2
10
1.6.4 Số hạt/bông 11

22
3.2.3 Chiều dài bông 23
3.3 ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 24
3.3.1 Số hạt trên bông 24
3.3.2 Số bông/m
2
25
3.3.3 Số hạt chắc /bông 26
3.3.4 Tỷ lệ hạt chắc 27
3.3.5 Trọng lƣợng 1000 hạt 27
3.4 NĂNG SUẤT 27
3.4.1 Năng suất lý thuyết 27
3.4.2 Năng suất thực tế 28
3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 29
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
4.1 KẾT LUẬN 31
4.2 ĐỀ NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ CHƢƠNG
xii

DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng

Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa OM6796
tại xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Đông Xuân
năm 2012- 2013
28
3.8
Phân tích hiệu quả kinh tế của lúa OM6796 tại xã Đại Hải,
huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Đông Xuân năm 2012- 2013
30 xiii

DANH MỤC HÌNH

Hình
Tựa hình
Trang
2.1
Sơ đồ bố trí thí nghiệm.
16
3.3
Số hạt trên bông của giống lúa OM6796 vụ Đông Xuận năm 2012-
2013 tại xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Đông Xuân
năm 2012- 2013
25
phát triển, đồng thời ẩm độ trong ruộng càng thích hợp để bệnh, rầy tấn công ảnh
hưởng đến năng suất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Cho nên gieo sạ với mật độ vừa
phải có ý nghĩa trong việc làm giảm sự phát triển của sâu bệnh, chuột hại và hiện
tượng đổ ngã nhưng vẫn đảm bảo được năng suất của cây lúa, tiết kiện được lượng
giống sử dụng 100kg/ha, tăng hiệu quả kinh tế. Đề tài “Ảnh hưởng mật độ sạ đến
năng suất lúa OM6796 trong vụ Đông Xuân năm 2013 tại huyện Kế sách,tỉnh
Sóc Trăng” được thực hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ sạ thích hợp để tăng
năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa ở vùng nghiên cứu. 2
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CÂY LÚA
1.1.1 Nguồn gốc cây lúa
Về nguồn gốc cây lúa, đã có nhiều tác giả đề cập tới nhưng cho tới nay vẫn
chưa có những dữ liệu chắc chắn và thống nhất. Có một điều là lịch sử cây lúa đã có
từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của nhân dân các nước Châu Á (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
Chang (1976, trích dẫn bởi Nuyễn Ngọc Đệ, 2008) cho rằng việc thuần hóa lúa
trồng có thể đã được tiến hành một cách độc lập cùng một lúc ở nhiều nơi, dọc theo
vành đai trải dài từ Đồng bằng sông Ganges dưới chân phía Đông của dãy núi Hy-
Mã-Lạp-Sơn (Himalayas - Ấn Độ), ngang qua Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Lào
và Việt Nam, đến Tây Nam và Nam Trung Quốc. Tuy có nhiều ý kiến nhận định vế

tập trung chủ yếu ở tầng mặt. Có thể chia sự phát triển của bộ rễ lúa ra 2 thời kỳ
chính: thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng, bộ rễ phát triển theo chiều ngang (có hình bầu
dục); thời kỳ trổ bông, bộ rễ lúa phát triển xuống sâu (có hình quả trứng lộn ngược).
1.2.2 Thân lúa
Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ
cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại. Nếu đất ruộng có nhiều nước, sạ cấy dày, thiếu
sánh sáng, bón nhiều phân đạm thì lóng có khuynh hướng vươn dài và mềm yếu
làm cây lúa dễ đổ ngã. Lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở
ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa
đến hạt lép nhiều, năng suất giảm. Sự đổ ngã càng sớm, lúa bị thiệt hại càng nhiều
và năng suất càng giảm (Nguyễn Thành Hối, 2011).
Số đốt của thân cây lúa thường có số lượng khác nhau tùy giống và ít thay
đổi do điều kiện môi trường. Thường trung bình mỗi thân cây lúa có 5 đốt dài phân
biệt được. Có những giống có tới 6-7 đốt (các giống có phản ứng áng sáng ngày
ngắn và cấy ở chân ruộng sâu như Tám xoan, Tám thơm). Các đốt phát triển tuần tự
từ dưới lên trên, đốt sau dài hơn đốt trước, dài nhất là đốt sát bông (đốt mang bông
lúa). Mặc dầu các giống lúa có sự khác nhau về số đốt song số đốt dài nhất cũng chỉ
có 3 đốt và tổng chiều dài 3 đốt này cùng với bông lúa chiếm tới 90% chiều dài
thân, 3 đốt cuối (đốt gốc) ngắn, to, dày thì thường cây lúa có khả năng chống đỡ tốt
Nhánh lúa là một cây lúa con được mọc ra từ mầm nách thân cây mẹ và có đủ các
bộ phận rễ, thân, lá, có thể sống độc lập, sinh trưởng phát triển thành một cây lúa
con, trổ bông phát triển bình thường như cây mẹ. Đẻ nhánh là một đặc tính rất tốt
của cây lúa nhằm nâng cao số bông trên một khóm lúa để nâng cao năng suất cao
nhất (Đinh Thế Lộc, 2006).
1.2.3 Lá lúa
Trong các bộ phận của lá thì phiến lá đóng vai trò quan trọng nhất bởi đây là
nơi diễn ra quá trình quang hợp để tạo ra vật chất đồng hóa (đường, tinh bột) tích
lũy cho cây. Trên thân cây lúa, các lá được hình thành từ gốc lên kế tiếp nhau và
được sắp xếp so le. Các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau thì số lá khác
nhau. Giống có thời gian sinh trưởng càng dài thì số lá càng nhiều. Nói chung các

quá trình quang hợp tạo ra vật chất đồng hóa tích lũy cho cây (Đinh Thế Lộc, 2006).
Theo Yoshida (1981), các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể
không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế và những giống có
thời gian sinh trưởng quá dài có thể không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dư
có thể gây đổ ngã. Thời gian sinh trưởng cây lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ
yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn (Nguyễn Thành Hối, 2011). Theo
Đinh Thế Lộc (2006), cần có sự cân đối giữa sinh trưởng nhánh và sinh trưởng lá
sao cho số nhánh sinh ra được đủ số lá (thường phải trên 4 lá) có khả năng sống độc

5
lập phát triển để có tổng số lá gần với tổng số lá vốn có của cây giống. Các nhánh
đó là nhánh hữu hiệu, tức sẽ cho bông để thu hoạch. Còn các nhánh ra muộn số lá sẽ
ít, trở thành nhánh vô hiệu, không có khả năng cho bông.
Yếu tố ảnh hưởng phổ biến đến thời gian sinh trưởng là phương pháp canh
tác và lượng phân đạm bón vào. Lúa sạ thẳng luôn chín sớm và bón nhiều phân đạm
làm chín chậm ít ngày.
1.3.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản là thời kỳ phân hóa, hình thành cơ quan sinh sản bắt đầu
từ lúc làm đòng cho đến khi thu hoạch. Thời gian của giai đoạn này kéo dài khoảng
27-35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không
khác nhau nhiều. Giai đoạn này bao gồm quá trình làm đòng, trổ bông và hình thành
hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Theo Yoshida (1981) thời kỳ trổ bông được xác định
vào lúc 50% số bông thoát ra ngoài lá đòng. Sau khi hoàn thành việc trổ bông, các
hoa lúa sẽ bắt đầu nở hoa trong khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 13 giờ chiều và
sự thụ tinh cũng kết thúc trong vòng 5-6 giờ sau khi nở hoa. Trên cùng một bông
các hoa lúa phải mất 7-10 ngày mới nở hết và hầu hết các hoa nở trong vòng 5
ngày. Theo Đinh Thế Lộc (2006), trong thời kỳ này nếu được chăm sóc chu đáo,
điều kiện thời tiết thuận lợi thì số hoa lúa được hình thành tối đa là tiền đề để có số
hạt/bông nhiều.
1.3.3 Giai đoạn chín

(Yoshida, 1981). Lượng bức xạ mặt trời có liên quan đến cường độ quang hợp. Nói
chung cường độ ánh sáng tăng thì cường độ quang hợp tăng. Đến một giới hạn nào
đó cường độ ánh sáng tăng nhưng cường độ quang hợp không tăng nữa, tại thời
điểm đó người ta gọi là điểm bão hòa ánh sáng trong quang hợp. Điểm bão hòa ánh
sáng của cây lúa khoảng 50Klux (Đinh Thế Lộc và ctv., 2006). Cường độ ánh sáng
ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp cây lúa thể hiện chủ yếu bằng năng lượng
ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vị diện tích. Thông thường cây lúa chỉ sử dụng
65% năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Lượng mưa là một trong yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình
thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm. Trong mùa mưa lượng mưa cần
thiết cho cây lúa trung bình khoảng 6-7mm/ngày và 8-9mm/ngày trong mùa khô
nếu không có nguồn nước khác bổ sung. Mưa nhiều, gió to, trời âm u và ít nắng cây
lúa phát triển không thuận lợi (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Cây lúa thiếu nước ở bất kỳ giai đoạn nào cũng gây giảm năng suất. Do đó,
để có thể gieo trồng một năm hai, ba vụ lúa người ta đã xây dựng các công trình
thủy lợi để chủ động nước tưới hiệu quả cho cây lúa (Yoshida, 1981). Trong thời kỳ
phát triển bông hạt nhất là khi làm đòng cho đến khi phơi màu cây lúa cần nhiều
nước. Trong thời kỳ đẻ nhánh nếu thiếu nước thì số bông giảm bớt nhưng sau đó
nếu nước đầy đủ thì hạt chắc sẽ tăng lên nên tác hại cũng ít. Sau khi phân hóa đòng
nếu thiếu nước trong thời kỳ phân chia giảm nhiễm và khi trổ sẽ có tác hại rất lớn,
sau đó đến thời kỳ chín sữa, khi lúa chín thiếu nước tác hại cũng giảm nhẹ. Sau khi
lúa chín không cần giữ nước lâu trong ruộng, nhưng nếu tháo nước quá sớm, cây bị
hạn sẽ chín sớm, không thuận lợi cho việc tích lũy tinh bột và protein, hạt lép nhiều
và có thể bị đạo ôn, nhưng nếu tháo muộn thời gian chín sẽ kéo dài, hạt xanh nhiều

7
tỷ lệ chất khô kém. Nhìn chung, sau khi lúa trổ khoảng 25 ngày nên tháo nước để
thu sản lượng cao.
Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình
thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất


8
là hình thức sạ phổ biến ở những nơi có nước đủ để làm đất và chủ động nước. Sạ
ướt có thể áp dung cho tất cả các vụ Hè Thu, Thu Đông hay Đông Xuân.
1.5.1.2 Sạ khô
Kiểu sạ khô đã được thực hiện từ lâu ở vùng lúa nổi với các giống lúa địa
phương. Tuy nhiên, sạ khô lúa cao sản có yêu cầu cao hơn. Sạ khô nhằm tăng thêm
một vụ lúa ngắn ngày tại những vùng đất bị nhiễm mặn hoặc canh tác nhờ vào nước
trời, bẳng cách tận dụng lượng nước mưa đầu mùa để cho lúa phát triển, tranh thủ
thời vụ, đảm bảo năng suất vụ sau. Đất được chuẩn bị trong điều kiện khô và hạt
giống khô, không gâm ủ. Sạ khô chỉ được thực hiện trong vụ Hè Thu sớm (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
Theo Nguyễn Văn Luật (2001) gieo thẳng khô thường phải gieo với lượng
giống rất cao để phòng hờ và cạnh tranh với cỏ dại, khoảng 250-300 kg/ha. Sạ khô
thường tốn công, tốn thuốc trừ cỏ và công dậm vì lúa chết mất khoảng.
1.5.1.3 Sạ ngầm
Sạ hạt giống đã nảy mầm trong ruộng ngậm nước. Kỹ thuật này thường được
áp dụng trong vụ Thu Đông hoặc Đông Xuân ở những chân ruộng trũng nước ngập
sâu và không có điều kiện thoát nước hoặc để tranh thủ mùa vụ xuống giống sớm
hơn, giảm được công bơm tưới về sau. Sạ ngầm có điều kiện tiên quyết là nước phải
trong nhanh sau khi sạ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.5.1.4 Sạ chay
Là biện pháp sạ lúa không làm đất, sử dụng hạt giống không hoặc đã ngâm
24 giờ, sạ vào ruộng đã phơi khô hoặc đốt đồng, sau đó bơm nước vào hoặc nước
vào ruộng rồi mới sạ. Nước được giữ vào ruộng một ngày để gâm đất và cho hạt lúa
hút nước đầy đủ. Sau đó rút nước ra chỉ giữ ẩm để hạt lúa mọc mầm như đối với
trường hợp hạt sạ ướt ( Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.5.1.5 Sạ gởi
Sạ gởi thường áp dụng những vùng lúa nước trời, nhiễm mặn phèn, nơi mà
thời gian trồng có thể rất ngắn (5-6 tháng) trong mùa mưa hoặc những vùng nước

khuyến cáo để tăng năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp ứng đủ số
bông/m
2
cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ ướt (Trần Thị Ngọc
Huân và ctv., 1999). Trong kỹ thuật này, cây lúa có sự phân bố quần thể ruộng lúa
thích hợp tạo năng suất và giảm thiện hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn
Luật, 2001).
1.6 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Đình Giao và ctv., (1997) muốn nâng cao năng suất lúa cần
hiểu được quá trình hình thành các yếu tố năng suất, trước hết là thời gian, các điều
kiện ảnh hưởng đến các yếu tố đó. Trên cơ sở đó mới có thể áp dụng các biện pháp
kỹ thuật đúng lúc và đúng cách. Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng
trực tiếp của 4 thành phần năng suất : số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên
bông, tỉ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt. Các thành phần này được xác định ở
các giai đoạn sinh trưởng khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn
nhau.
10
1.6.1 Chiều cao cây
Hơn bất cứ đặc tính nào khác, thân rạ thấp và cứng là hai yếu tố quyết định
tính đổ ngã. Thân rạ cao, ốm yếu, dễ đổ ngã sớm làm rối bộ lá, tăng hiện tượng rợp
bóng, cản trở sự chuyển vị các dưỡng liệu và các chất quang hợp làm cho hạt bị lép
và giảm năng suất. Thân rạ ngắn và dày cũng sẽ chống lại sự đổ ngã. Tuy nhiên,
không phải tất cả thân ngắn đều cứng rạ, nó còn phụ thuộc vào các đặc tính như
đường kính thân, độ dày thân rạ, mức độ bẹ lá ôm lấy các lóng (Theo Jennings và
ctv.,1979). Chiều cao cây được xem như lý tưởng về năng suất là từ 90-100 cm
(Akita, 1989).
1.6.2 Chiều dài bông

1.6.4 Số hạt/bông
Số hạt trên bông quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ,
nhưng quan trọng nhất là thời kì phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn
này, số hạt trên bông có ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa. Như vậy, số hạt trên
bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa; hai yếu tố này bị
ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết (Nguyễn Ngọc Đệ,
2008).
Vì vậy, đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy
đủ, thời tiết thuận lợi có tác dụng hạn chế qúa trình thái hóa hoa, từ đó tăng được số
hoa hữu hiệu trên bông. Nên số hạt cuối cùng trên bông cao (Nguyễn Đình Giao và
ctv., 1997).
1.6.5 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của cây lúa và
chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh và tỷ lệ hạt chắc cao hay thấp. Các giống
lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo
mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt,
dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại. Số hoa trên bông quá
nhiều dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp. Vì vậy muốn đạt năng suất cao thì tỷ lệ hạt
chắc phải trên 80% (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.6.6 Trọng lƣợng 1000 hạt
Đặc tính của trọng lượng 1000 hạt ít chịu tác động của điều kiện môi trường
và có hệ số di truyền cao. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào giống. Trọng lượng 1000 hạt
của một giống giữ ổn định không có nghĩa là từng hạt có khối lượng như nhau,
chúng thay đổi trong một giới hạn nhất định nhưng giá trị trung bình thì luôn ổn
định. Trọng lượng hạt quyết định ngay trong thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín,
nhưng quan trọng nhất là thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ. Trọng lượng
hạt phụ thuộc vào cỡ hạt và độ mẩy của hạt (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Trọng lượng hạt do hai yếu tố cấu thành là vỏ trấu chiếm 20% và khối lượng
hạt gạo chiếm 80%. Phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường biến
thiên, tập trung trong khoảng 20-30g. Trọng lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyền

ngày có những đặc tính khác với giống cây cao, dài ngày nhất là kiểu lá, số lá trên
cây (ít hơn), độ dày lá, kích thước lá, góc lá hẹp…
Tất cả những yếu tố trên cho phép cây lúa chịu được những mật độ dày hơn
những giống cao cây. Đối với giống này sạ với mật độ càng dày thì số chồi hữu hiệu
càng giảm thấp. Để cải thiện một thành phần năng suất lại đưa đến giảm thành phần
năng suất khác, chẳng hạn như tăng số bông trên đơn vị diện tích thì số hạt trên
bông giảm. Để cải thiện năng suất cây trồng thì dựa vào mật độ cây trồng, diện tích
lá, điều kiện đất đai để đạt năng suất cao nhất (Đào Thế Tuấn, 1984).
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, những nghiên cứu về mật độ sạ, phương pháp
sạ và đã khuyến cáo sạ ở mật độ 100 kg/ha cho năng suất tương đương hoặc cao
hơn sạ ở mật độ 200 kg giống/ha, sạ thưa có số bông ít hơn sạ dày, nhưng bông dài
và số hạt chắc trên bông nhiều. Nếu sạ hàng thì mật độ sạ 50, 75, 125 giống/ha cho
năng suất lúa không khác biệt nhau (Trịnh Quang Khương, 2010).

Trích đoạn Tình hình phát triển của cây lúa Số chồi/m Số hạt trên bông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status