TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN QUỐC CƯỜNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA JASMINE 85 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM
2012 - 2013 TẠI XÃ THỚI TÂN, HUYỆN
THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NÔNG HỌC
Lớp: Nông Học k36 Cần Thơ, 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
O Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG
LÚA JASMINE 85 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 - 2013
TẠI XÃ THỚI TÂN, HUYỆN THỚI LAI,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ” Sinh viên thực hiện: TRẦN QUỐC CƯỜNG
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai
công
bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Trần Quốc Cường
v LÝ LỊCH CÁ NHÂN
1. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Trần Quốc Cường Giới tính: Nam
Ngày sinh: 06/01/1992
Nơi sinh: Ô môn – Cần Thơ
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Quê quán: Ấp Thới Phước B, Xã Thới Tân, Huyện Thới Lai, Tp.Cần Thơ.
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 1998 – 2003: Học tại Trường Tiểu học Thới Lai 3.
Năm 2003 – 2007: Học tại Trường THCS Thị Trấn Thới Lai.
Năm 2007 – 2010: Học tại Trường THPT Thới Lai.
Năm 2010 – 2013: Học tại Trường Đại học Cần Thơ khóa 36, ngành Nông học, Khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng.
vi
TRẦN QUỐC CƯỜNG, 2013 “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa
Jasmine 85 vụ Đông Xuân 2012 – 2013 tại xã Thới Tân, Huyện Thới Lai, thành phố
Cần Thơ” luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học
MỤC LỤC
Nội Dung
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Lời cảm tạ iv
Tiểu sử cá nhân v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng xi
Danh sách hình xii
Danh sách chữ viết tắt xiii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và đặc tính thực vật cây lúa 2
1.1.1 Nguồn gốc cây lúa 2
1.1.2 Đặc tính thực vật cây lúa 2
1.1.2.1 Rễ 2
1.1.2.2 Thân 3
1.1.2.3 Lá 3
1.2 Thời kì sinh trưởng của cây lúa 3
1.2.1 Giai đoạn tăng trưởng 4
1.2.2 Giai đoạn sinh sản 5
1.2.3 Giai đoạn chín 6
1.3 Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến năng suât cây lúa 6
1.3.1 Nhiệt độ 6
1.3.2 Ánh sáng 6
1.3.3 Lượng mưa 7
viii
ix
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm 16
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 1 6
2.2 Phương pháp 17
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 17
2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi 17
2.2.3 Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất 18
2.2.4 Đánh giá khả năng phản ứng của cây lúa với một số sâu, bệnh hại 19
2.2.5 Kỹ thuật canh tác 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá tổng quan 22
3.2 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến sự sinh trưởng của cây lúa 22
3.2.1 Chiều cao cây 22
3.2.2 Số chồi/m
2
23
3.2.3 Chiều dài bông 25
3.3 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến các thành phần năng suất 26
3.3.1 Số bông/m
2
26
3.3.2 Số hạt trên bông 26
3.3.3 Số hạt chắc trên bông 27
3.3.4 Tỷ lệ hạt chắc 27
3.3.5 Trọng lượng 1000 hạt 28
3.3.6 Năng suất lý thuyết 28
3.3.7 Năng suất thực tế 29
Xuân 2012 - 2013 tại xã Thới Tân, huyện Thới Lai, thành phố
Cần Thơ vụ Đông Xuân 2013.
26
3.4
Năng suất (tấn/ha) của giống lúa JASMINE 85 vụ Đông Xuân
2012 - 2013 tại xã Thới Tân, huyện Thới Lai, thành phố Cần
Thơ.
29
3.5
Phân tích hiệu quả kinh tế
30
xii DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tựa hình
Trang
2.1
Sơ đồ bố trí thí nghiệm.
17
3.1
Chiều dài bông (cm) của giống lúa JASMINE 85 vụ Đông Xuân
Ngày nay, do sự phát triển của kỹ thuật, các phương pháp lai tạo, nuôi cấy
mô và chọn lọc giống lúa của các viện, trường, trung tâm và các cá nhân trong
nước, qua thời gian dài đã lai tạo nhiều được nhiều giống lúa có năng suất cao phù
hợp với điều khí hậu, đất đai của từng địa phương. Tuy nhiên đa số nông dân có tập
quán sạ khá dày với mật độ khoảng 200 – 250kg/ha, do tập quán canh tác của nông
dân đảm bảo mật độ vào cuối vụ không bị hao hụt do các tác nhân từ bên ngoài như
chuột, ốc, sâu bệnh,…khi đó sẽ tốn lượng phân đạm khá lớn sẽ tạo điều kiện cho
sâu bệnh tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nông sản, giá thành sản
phẩm cũng như tốn nhiều chi phí cho giống. Cho nên biện pháp gieo sạ với mật độ
vừa phải sẽ có ý nghĩa trong việc tăng năng suất cũng như giảm chi phí cho phân
bón và thuốc hóa học.
Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa Jasmine
85 vụ Đông Xuân 2012 – 2013 tại xã Thới Tân, Huyện Thới Lai, thành phố Cần
Thơ” được thực hiện nhằm mục tiêu xác định mật độ gieo sạ thích hợp đến năng
suất lúa để làm cơ sở khuyến cáo cho nông dân trong canh tác lúa.
2
Chương 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY LÚA
1.1.1 Nguồn gốc cây lúa
Cây lúa trồng hiện nay đã trải qua một lịch sử tiến hóa rất lâu dài và khá
phức tạp, với nhiều thay đổi rất lớn về đặc điểm hình thái, nông học, sinh lý và sinh
thái để thích nghi với điều kiện khác nhau của môi trường thay đổi theo không gian
và thời gian. Về nguồn gốc cây lúa, đã có nhiều tác giả đề cập tới nhưng cho tới nay
vẫn chưa có những dữ liệu chắc chắn và thống nhất. Có một điều là lịch sử cây lúa
đã có từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của nhân dân các nước Châu Á
vòng rễ: vòng trên to và khỏe, vòng dưới nhỏ và kém quan trọng hơn. Bên trong rễ
có nhiều khoảng trống ăn thông với thân và lá. Nhờ có cấu tạo đặc biệt này mà rễ
lúa có thể sống trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.1.2.2 Thân
Thân lúa (stem) gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau. Cây lúa nào có lóng
ngắn thành lóng dầy và bẹ lá ôm sát thì thân lúa sẽ cứng chắc và khó đỗ ngã và
ngược lại. Trên thân lúa các mắt thường phình ra, tại mỗi mắt có một lá, một mầm
chồi và hai tầng rễ phụ. Thân lúa có nhiệm vụ vận chuyển và tích lũy các chất trong
cây. Trong điều kiện đầy đủ chất dinh dưỡng và ánh sáng, mầm chồi sẽ phát triển
thành một chồi thật sự, thoát ra khỏi bẹ lá. Sự ra lá, ra chồi và ra rễ của cây lúa tuân
theo một quy luật nhất định. Quy luật này gọi là quy luật đồng hạng của Katayama
về ra lá, ra chồi và ra rễ “Khi lá thứ n trên thân chính xuất hiện thì tại mắt lá thứ n –
3 chồi sẽ xuất hiện và rễ phụ cũng ra”. Các chồi mọc quá trễ khi cây lúa sắp phân
hóa đồng thường nhỏ yếu và sau đó chết đi gọi là chồi vô hiệu.
1.1.2.3 Lá
Lúa là cây đơn tử diệp (một lá mầm). Lá mọc đối ở hai bên thân lúa, lá ra sau
nằm về phía đối diện lá ra trước đó. Lá trên cùng gọi là lá cờ hay lá đòng. Lá lúa
gồm phiến lá, cổ lá và bẹ lá. Tại cổ lá có hai bộ phận đặc biệt là tai lá và thìa lá. Đây
là điểm đặc thù để phân biệt cây lúa với các cây họ hòa thảo khác (Nguyễn Thành
Hối, 2011).
1.2 THỜI KÌ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) đời sống cây lúa bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm
cho đến khi lúa chín có thể chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh
trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín.
Với giống có thời gian sinh trưởng 120 ngày, trong điều kiện nhiệt đới thời
gian sinh trưởng là 60 ngày, làm đòng 30 ngày và chín 30 ngày. Thời kỳ sinh
trưởng dinh dưỡng thường biến động mạnh nhất, thời kỳ làm đòng thường biến
động trong khoảng 30 – 40 ngày tuỳ theo giống ngắn ngày hay dài ngày. Thời kỳ
chín thường biến động theo nhiệt độ. Sự khác nhau và biến động về thời lượng
trong các thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn. Thường các giống lúa rất ngắn ngày
và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy
ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt được số chồi tối đa. Ngược lại các giống lúa dài
ngày (trên 4 tháng) thường đạt được số chồi tối đa trước khi phân hóa đòng. Thông
thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay là chồi có ích) thấp hơn so với
số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa. Các chồi
ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả
năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu, trong
5
canh tác người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này
bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc
thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng
cho những chồi hữu hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.2.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc cây lúa phân hóa đòng đến lúc trổ bông.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài
ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều. Lúc này số chồi vô hiệu giảm
nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2009). Đòng lúa phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của
lá cờ: lúa trổ bông. Trong thời gian này nếu đầy đủ chất dinh dưỡng, mực nước
thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình
thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia
tăng trọng lượng hạt sau này.
Trong đời sống của cây lúa, giai đoạn này được đặc trưng bởi hiện tượng
thân chính của lúa vươn cao nhanh làm tăng chiều cao cây, giảm nhanh chóng số
nhánh vô hiệu, xuất hiện lá đòng, kéo dài tốt và cuối cùng là trổ bông (Nguyễn
Thành Hối, 2003). Trong giai đoạn này, điều quan tâm nhất chính là sự hình thành
và phát triển của đòng lúa, sự phân hóa đòng thường diễn ra sau khi cây lúa đạt
nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu vỏ trấu đặc trưng của giống.
1.3 Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến năng suất cây lúa
1.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh
hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20 – 30
o
C), nhiệt độ càng tăng cây
lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40
o
C hoặc dưới 17
o
C cây lúa tăng trưởng
chậm lại. Dưới 13
o
C cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài quá một tuần cây lúa sẽ
chết (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Nhiệt độ cao tăng vận tốc ra lá và sinh nhiều mầm chồi hơn. Nhiệt độ cao sẽ
rút ngắn giai đoạn vào chắc, thời tiết có mây thường xuyên gây hại cho sự chắc hạt.
Nhiệt độ cao hơn 35
o
C khi trổ gié hoa có thể làm phần trăm bất thụ cao (Đinh Thế
Lộc, 2006).
1.3.2 Ánh sáng
Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của
cây lúa trên phương diện cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày.
Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa thể hiện chủ
yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa (Nguyễn Ngọc Đệ,
2009). Bức xạ mặt trời có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất hạt ở giai đoạn sinh
dục, ảnh hưởng kế tiếp giai đoạn chín và ảnh hưởng cực nhỏ giai đoạn dinh dưỡng
(Yoshida, 1981).
cơ, tơi xốp, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám
chặt vào đất và huy động chất dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha
sét, ít chua hoặc trung tính (pH từ 5,5 – 7,5) là thích hợp đối với cây lúa, đất ruộng
cần bằng phẳng và cần chủ động được nước để lúa đạt được năng suất cao.
8
1.3.7 Ảnh hưởng của sâu bệnh, cỏ dại
Sâu bệnh phá hại, theo ước tính ở nước ta làm thiệt hại khoảng 20% sản
lượng cây trồng. Nếu tính cả thiệt hại sau thu hoạch và trong kho thì con số này còn
cao hơn nhiều (Nguyễn Công Thuật, 1996). Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) thì
lượng phân bón không cân đối và không đúng yêu cầu sinh trưởng của cây lúa. Sự
hiểu biết về sâu bệnh và biện pháp phòng trừ của nông dân bị giới hạn. Đó là điều
kiện tốt cho sâu bệnh bộc phát, lưu tồn và phát triển gia tăng thiệt hại cho ruộng lúa,
làm giảm năng suất và có khi mất trắng .
Tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, một mặt làm giảm năng suất hoặc có thể gây
ra mất mùa, mặt khác làm chất lượng nông phẩm giảm sút, nhiều khi không tiêu thụ
được, phải đổ đi hàng loạt (Nguyễn Công Thuật, 1996). Bởi vậy, trong canh tác lúa
muốn năng suất lúa cao, phẩm chất hạt tốt thì người trồng lúa cần quan tâm đặc biệt
vấn đề sâu bệnh, cỏ dại.
1.4 YÊU CẦU CỦA CÂY LÚA
1.4.1 Điều kiện đất đai
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009), đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu
cơ, tơi xốp, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám
chặt vào đất và huy động chất dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha
sét, ít chua hoặc trung tính (pH từ 5,5 – 7,5) là thích hợp đối với cây lúa, đất ruộng
cần bằng phẳng và cần chủ động được nước để lúa đạt được năng suất cao.
1.4.2 Dinh dưỡng cây lúa
1.4.2.1 Chất đạm (N)
Đạm là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp
lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân. Do đó,
Cây lúa hấp thụ Silic nhiều hơn bất kỳ chất dinh dưỡng nào (từ 890 đến –
1.018 kg/ha/vụ). Trong cây, Silic tập trung chủ yếu trong thân lá (khoảng 60%), 1
phần trên bông (khoảng 20%).
Silic có vai trò quan trọng trong cây. Người ta nhận thấy rằng Silic làm tăng
bề dày của vách tế bào, giúp cây lúa cứng cáp, chống đổ ngã kháng sự xâm nhập
của mầm bệnh và sự tấn công của côn trùng, làm lá thẳng đứng, nhiều bông, giảm
thoát hơi nước giúp cây chịu hạn khỏe hơn. Silic cũng làm tăng lực oxid hoá của rễ
và ngăn cản sự hấp thu Fe và Mn quá mức (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.4.2.5 Chất Sắt (Fe)
Sắt là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố) và một số phân hóa tố
trong cây. Cây lúa cũng cần sắt nhưng với lượng nhỏ. Nồng độ Fe
2+
trong lá dưới 70
ppm cây lúa có triệu chứng thiếu sắt. Sự thiếu sắt xảy ra ở đất trung tính, đất kiềm
và thường xảy ra ở đất cao, đất rẫy hơn là đất ngập nước. Tuy nhiên, ở nồng độ Fe
2+
cao (trên 300 ppm) cây lúa lại bị độc (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.5 NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng, năng suất lúa được
quyết định bởi các yếu tố: số bông trên mét vuông (N), số hạt trên bông (n), tỷ lệ
10
w
1000
1
10
6
hạc chắc và khối lượng 1000 hạt (w). Mối quan hệ phụ thuộc có thể biểu diễn bằng
công thức sau:
thì số bông/m
2
là yếu tố có tính quyết định nhất và sớm nhất. Nó có thể đóng góp
74% năng suất, trong khi số hạt và trọng lượng hạt đóng góp 26% năng suất. Tuy
nhiên, nó còn chịu ảnh hưởng lớn của kỹ thuật canh tác và điều kiện ngoại cảnh
(chế độ phân bón, nước tưới, mật độ sạ hoặc cấy, nhiệt độ, ánh sáng,…).
Hiện nay, một số giống lúa cải tiến có khả năng đẻ nhánh mạnh (20 – 25
nhánh/bụi) trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nhưng chỉ có khoảng một số (14 –
15 nhánh) cho bông hữu hiệu. Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) đã khẳng định, số
bông có quan hệ nghịch với số hạt trên bông và trọng lượng hạt. Nên khi tăng mật
độ, số bông trên một đơn vị diện tích sẽ tăng nhưng số hạt trên bông và trọng lượng
hạt sẽ giảm. Nếu mật độ quá dày, đầu tư phân bón sẽ cao nhưng dễ dẫn đến gia tăng
sâu bệnh trên ruộng lúa. Vì vậy để cho năng suất cao cây lúa cần có số bông/m
2
vừa
phải, gia tăng số hạt chắc/bông trên một đơn vị diện tích là biện pháp gia tăng năng