TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
O
PHAN THỊ THÙY TRANG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM5451 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI
XÃ VỊ THỦY, HUYỆN VỊ THỦY,
TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Gs.Ts. Nguyễn Bảo Vệ Phan Thị Thùy Trang
Ths. Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103532
Lớp: NH K36 Cần Thơ, 2013
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
O Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM5451 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ VỊ THỦY HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG” Sinh viên thực hiện: Phan Thị Thùy Trang
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Trang
v
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Phan Thị Thùy Trang
Ngày sinh: 04/ 10/ 1991
Nơi sinh: Vị Thanh, Cần Thơ
Dân tộc: Kinh
Chổ ở hiện nay: Ấp 6, xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
Điện thoại: 01678546132
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 2002 tốt nghiệp tiểu học.
Năm 2006 tốt nghiệp trung học cơ sở.
Năm 2009 tốt nghiệp trung học phổ thông.
Năm 2010-2013 là sinh viên nghành Nông học khóa 36 Trường Đại học Cần Thơ.
với nghiệm thức 200 kg/ha. viii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Cảm tạ iv
Quá trình học tập v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh mục bảng x
Danh mục hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1. THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 2
1.1.1. Giai đoạn tăng trưởng 2
1.5.1.2 Bệnh đốm nâu 12
1.5.1.3 Bệnh cháy bìa lá 12
1.5.2 Sâu rầy 12
1.5.2.1 Rầy nâu 12
1.5.2.2. Sâu cuốn lá nhỏ 13
1.5.2.3 Nhện gié 13
1.6 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHẢN ỨNG CỦA CÂY LÚA VỚI MỘT SỐ BỆNH
HẠI CHÍNH 13
1.6.1 Bênh đạo ôn 13
1.6.2 Rầy nâu 13
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 14
2.1. PHƯƠNG TIỆN 14
2.1.1. Thời gian và địa điểm 14
2.1.2. Phương tiện 14
2.2. PHƯƠNG PHÁP 15
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 15
2.2.2. Biện pháp canh tác 15
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 16
2.2.3.1 Các chỉ tiêu nông hoc 16
2.2.3.2 Năng suất và các thành phần năng suất 16
2.2.4. Phân tích số liệu 17
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN. 18
x
3.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN 18
3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA
CÂY LÚA. 18
3.2.1. Chiều cao cây. 18
3.2.2. Số chồi/m
2
3.1
Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao cây lúa qua các
giai đoạn sinh trưởng của giống lúa OM5451 tại xã Vị Thủy,
huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012
19
3.2
Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều số chồi/m
2
qua các
giai đoạn sinh trưởng của giống lúa OM5451 tại xã Vị Thủy,
huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012
20
3.3
Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến chiều dai bông qua các
giai đoạn sinh trưởng của giống lúa OM5451 tại xã Vị Thủy,
huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012
21
3.4
Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa
OM5451 tại xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ
Hè Thu 2012
26
3.5
Ảnh hưởng của mật độ sạ đến hiệu quả kinh tế của giống lúa
OM5451 vụ Hè Thu năm 2012 tại Huyện Vị Thủy, Tỉnh Hậu
Giang
27
xii
DANH MỤC HÌNH
tỉnh Hậu Giang
24
3.5
Ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến trọng lượng 1000 hạt
của giống lúa OM5451 tại vụ Hè Thu năm 2012 tại Huyện
Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
25
xiii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long
ha : hecta
trọng trong gia tăng năng suất, chất lượng, hạn chế được sâu hại. Do đó, đề tài
“Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa OM5451 vụ Hè Thu năm
2012 tại xã Vị Thủy, Huyện Vị Thủy, Tỉnh Hậu Giang” được thực hiện nhằm tìm
ra mật độ gieo sạ thích hợp làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người dân.
2
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Về mặt nông học, người ta chia đời sống của cây lúa thành ba giai đoạn
chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.1.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn này của cây lúa được bắt đầu từ khi hạt nảy mầm cho đến khi bắt
đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra
nhiều chồi mới. Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước ngày càng lớn giúp cây lúa
nhận được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng
chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ chất
dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá
thứ 5 - 6 (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Thời gian sinh trưởng của cây lúa kéo dài hay
ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn (Nguyễn
Thành Hối, 2010).
hạt/bông, số hạt chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc của cây lúa (Nguyễn Trường Giang,
2010).
1.1.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch. Theo Nguyễn
Ngọc Đệ (2009) giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống
lúa ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm,
trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược
lại. Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm
quang hợp đuợc chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do
quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh
trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan
trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa. Kích thước và trọng lượng hạt gạo
tăng dần làm dầy vỏ trấu. Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”.
Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm
sữa.
- Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn
xanh.
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang
màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần
xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần.
- Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc
thấp hơn, tùy ẩm độ môi truờng, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời điểm thu
hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống
Trong đó, quan trọng nhất của giai đoạn này là thời kỳ chín sữa. Trong quá
trình chín sữa, các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển
vào trong hạt. Hơn 80% lượng vật chất khô tích lũy trong hạt là do quá trình quang
hợp sau trổ cung cấp. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát
triển của cây lúa và thời tiết giai đoạn sau trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá
trình hình thành năng suất lúa, kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy
trê). Sau đó cứ ra thêm một lá mới thì các chồi tương ứng sẽ xuất hiện.
Để xác định chồi vô hiệu (chồi không thành bông) và chồi hữu hiệu chồi cho
bông) khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng có thể dựa vào chiều cao hoặc số lá trên
chồi:
+ Chồi hữu hiệu: chiều cao cao hơn 2/3 so với thân chính, có trên 3 lá.
+ Chồi vô hiệu: chiều cao thấp hơn 2/3 so với thân chính, ít hơn 3 lá.
5
1.1.2.3 Lá
Lúa là cây đơn tự diệp (1 lá mầm). Lá lúa mọc đối ở hai bên thân lúa lá ra
sau nằm về phía đối diện với lá trước đó. Lá trên cùng (lá cuối cùng trước khi trổ
bông) gọi là lá cờ hay lá đòng. Lá lúa gồm có phiến lá, cổ lá và bẹ lá. Lá lúa thẳng
đứng sau khi tượng gié là hình tính quan trong nhất để đạt năng suất cao. Lá thẳng
đứng cho phép ánh sáng xâm nhập và phân bố đều trong ruộng lúa làm tăng khả
năng quang hợp cho cây. Lá ngắn thường đứng hơn lá dài và phân bố điều hơn
trong tán lá (Jenning và ctv., 1979).
Mỗi giống lúa có một tổng số lá nhất định, các giống lúa ngắn ngày thường
có tổng số lá biến thiên từ 12 - 16 lá. Ngoài ra, tốc độ ra lá, chiều dài và tuổi thọ của
từng lá phụ thuộc vào giống, điều kiện môi trường và giai đoạn sinh trưởng của cây.
Bẹ lá góp phần rất ít cho sự quang hợp nhưng nó cho thấy chức năng quan
trọng khác. Cây lúa bắt đầu vươn lóng khi tượng khối sơ khởi, thân vẫn còn nhỏ,
dài khoảng 1 cm, bẹ lá làm nhiệm vụ chống đỡ cho toàn cây. Cho tới khi lóng bắt
đầu vươn dài, bẹ lá chống đỡ giúp cây phát triển bình thường. Ngay sau khi sự phát
triển của lóng đã hoàn thành thì bẹ lá vẫn góp phần vào độ cứng của thân khoảng 30
- 60% (Yoshida, 1981). Như vậy, bẹ lá có chức năng chống đỡ cơ học cho toàn cây
lúa.
1.2 YÊU CẦU CỦA CÂY LÚA
1.2.1 Yêu cầu về đất đai
+ Ðối với giống dài ngày cao cây với mực nước ruộng thích hợp và điều kiện
nhiệt đới ở nước ta thì cấy với mật độ dày là hợp lý, mỗi bụi nên cấy ít tép, bụi lúa
cấy ít tép sẽ đẻ nhánh thuận xòe ra 4 phía, bụi lúa tròn khỏe. Nếu cấy với mật độ
quá dày với số tép cao trên bụi dễ đưa đến tình trạng lốp, đỗ non và có thể không
thu hoạch được năng suất quần thể giảm nhiều.
+ Ðối với giống lúa thấp cây, ngắn ngày có những đặc tính với giống cây cao
dài ngày nhất là kiểu lá, số lá trên cây (ít hơn), độ dày lá, kích thước lá, góc lá
hẹp….
Tất cả các ưu điểm trên cho phép cây lúa có thể chịu được những mật độ dày
hơn những giống cao cây. Ðối với giống này sạ với mật độ càng dày thì số chồi hữu
hiệu càng giảm thấp.
Theo Ðào Thế Tuấn (1984) để cải thiện một thành phần năng suất lại đưa
đến giảm thành phần năng suất khác, chẳng hạn như tăng số bông trên đơn vị diện
tích thì số hạt trên bông giảm. Theo tác giả, để cải thiện năng suất cây trồng thì dựa
vào mật độ cây trồng, diện tích lá, điều kiện đất đai để đạt năng suất cao nhất.
Ở ÐBSCL, những nghiên cứu về mật độ sạ, phương pháp sạ và đã khuyến
cáo sạ ở mật độ 100 kg giống/ha cho năng suất tương đương hoặc cao hơn sạ ở mật
độ 200 kg giống/ha, sạ thưa có số bông ít hơn sạ dày, nhưng bông dài và số hạt chắc
trên bông nhiều. Nếu sạ hàng thì mật độ sạ 50, 75, 125 kg giống/ha cho năng suất
lúa không khác biệt nhau (Trịnh Quang Khương, 2010).
Mật độ sạ thích hợp là tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng có
hiệu quả các chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng. Mật độ cây thích hợp còn tạo nên
sự tương tác hài hòa giữa các cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa để đạt mục đích
cuối cùng là cho năng suất cao (Hiraoka, 1999). Cây lúa có khả năng tự điều chỉnh 7
mật độ, khả năng này nằm trong phạm vi nhất định phụ thuộc vào bản chất di truyền
của giống, khả năng đẻ nhánh, chiều cao và góc độ lá, độ màu mỡ của đất, điều kiện
nước trong ruộng lúa và những điều kiện sinh thái khí hậu khác, nhất là nhiệt độ và
khô, không ngâm ủ. Sạ khô chỉ được thực hiện trong vụ hè thu sớm (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2009). 8
Theo Nguyễn Văn Luật (2001) gieo thẳng khô thường phải gieo với số lượng
hạt giống rất cao để phòng hờ và cạnh trạnh với cỏ dại, độ 250 - 300 kg/ha. Tốn
công, thuốc trừ sâu và công dậm nên lúa chết mất khoản.
1.3.1.3 Sạ ngầm
Sạ hạt giống đã nảy mầm trong ruộng ngập nước. Kỹ thuật này thường được
áp dụng trong vụ Thu Đông hoặc Đông Xuân ở những chân ruộng trũng nước ngập
sâu và không có điều kiện thoát nước hoặc để tranh thủ mùa vụ xuống giống sớm
hơn, giảm được công bơm tưới về sau. Sạ ngầm có điều kiện tiên quyết là nước phải
trong nhanh sau khi sạ (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.3.1.4 Sạ chay
Là biện pháp sạ lúa không làm đất, sử dụng hạt giống không hoặc đã ngâm
24 giờ, sạ vào ruộng đã được phơi khô và đốt đồng, sau đó bơm nước vào hoặc bơm
nước vào ruộng rồi mới sạ. Nước được giữ lại trong ruộng 1 ngày để ngâm đất và
cho hạt lúa hút nước đầy đủ. Sau đó rút nước ra chỉ giữ ẩm để hạt lúa mọc mầm như
đối với trường hợp sạ ướt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
1.3.1.5 Sạ gởi
Hạt giống của cây lúa ngắn ngày được trộn lẫn với hạt lúa mùa dài ngày theo
một tỷ lệ nhất định tùy yếu tố đất đai và đặc tính giống. Sạ cùng một lúc 2 loại
giống bằng phương pháp sạ ướt hoặc khô tùy điều kiện từng nơi. Sau khi thu hoạch
vụ lúa ngắn ngày người ta tiếp tục chăm sóc cho trà lúa mùa phát triển tốt để thu
hoạch vào cuối mùa mưa, khi nguồn nước ngọt đã cạn và ruộng khô. Phương pháp
này thường được áp dụng ở những vùng lúa nước trời nhiễm mặn, phèn, nơi mà thời
gian có thể trồng được rất ngắn (5 - 6 tháng) trong mùa mưa, hoặc ở những trũng,
nước ngập sâu không có thủy lợi tốt để có thể trồng 2 vụ lúa thuận lợi. Đây là
những vùng đất khó khăn, trước đây chỉ trồng được 1 vụ lúa mùa. Tăng thêm 1 vụ
Về mặt gieo sạ thì gieo theo hàng có ưu thế hơn sạ vãi vì gieo theo hàng ít
hao giống, ít sâu bệnh và chi năng suất tương đối với sạ vãi mật độ 200kg/ha
(Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ, 2005). Công cụ sạ lúa theo hàng có chi
phí đầu tư ban đầu thấp, đã được chứng minh là tốt như giảm chi phí hạt giống,
giảm lượng phân bón, dễ chăm sóc lúa, năng suất lúa tăng (Nguyễn Bồng, 2003).
Nguyễn Văn Huỳnh (2003) cho rằng, gieo sạ thưa như sạ bằng máy sạ hàng vừa hạn
chế bệnh nám bẹ và một số loài dịch hại khác, đồng thời cũng vừa tiết kiệm lượng
hạt giống, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu để hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng thu
nhập cho người nông dân.
1.4 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Năng suất lúa yếu tố phản ánh hiện trạng canh tác trong mùa vụ. Theo
Nguyễn Ngọc Ðệ (2009), năng suất lúa do bốn yếu tố cấu thành là: số bông trên đơn
vị diện tích, số hạt trên bông, tỉ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Mỗi thành phần
năng suất được quyết định ở một giai đoạn nhất định của cây lúa.
Có thể tính năng suất theo công thức sau:
10
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = số bông trên đơn vị diện tích x số hạt trên bông x
tỉ lệ hạt chắc (%) x trọng lượng 1000 hạt (g) x 10
-5
(Yoshida, 1981 và Nguyễn
Ngọc Ðệ, 2009).
1.4.1 Số bông/m
2
Số bông/m
2
khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực
(Nguyễn Ngọc Ðệ, 2009). Số hạt trên bông tùy thuộc vào hai yếu tố quan trọng là số
hoa bị thoái hóa và số hoa được phân hóa. Trong thời kỳ phân hóa này, số hạt trên
bông có ảnh hưởng thuận với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân
hóa. Sau giai đoạn này số hạt trên bông đã hình thành có thể bị thoái hóa và có ảnh
hưởng âm. Số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa chịu ảnh hưởng bởi giống
lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết. Theo Nguyễn Ngọc Ðệ (2009), số hạt
trên bông ở các giống lúa cải thiện ở ÐBSCL phải đạt từ 80 - 100 hạt đối với lúa sạ
và 100 - 120 hạt đối với lúa cấy.
Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa cũng như số
gié, hoa thoái hóa. Các quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh dục từ lúc
làm đòng đến trổ bông (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997). 11
1.4.3 Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào
chắc nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi
màu, thụ phấn, thụ tinh và vào chắc. Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông,
đặc tính sinh lý của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh, thường
số hoa trên bông quá nhiều sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp. Các giống lúa có khả
năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới
vững chắc không đỗ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh
dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại. Muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt
chắc phải trên 80% (Nguyễn Xuân Trường, 2004).
Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt chắc trên bông ảnh hưởng
đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002). Kết quả phân tích hệ số tương
quan Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ gieo sạ
thì số hạt chắc/bông giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv.,
1999). Nguyễn Ngọc Đệ (2009) cho rằng: “tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào đặc tính sinh