TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG ĐÀO HƯƠNG TRUYỀN HIỆU QUẢ CỦA PHÂN BÓN LÁ LACTOFOL
O LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
LÚA IR50404 VỤ HÈ THU NĂM 2013
TẠI XÃ HÒA LỢI, HUYỆN GIỒNG
RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ - 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
“HIỆU QUẢ CỦA PHÂN BÓN LÁ LACTOFOL O
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA
IR50404 VỤ HÈ THU NĂM 2013 TẠI XÃ
HÒA LỢI, HUYỆN GIỒNG RIỀNG,
TỈNH KIÊN GIANG” Do sinh viên: ĐÀO HƯƠNG TRUYỀN thực hiện và đề nạp.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Do sinh viên: ĐÀO HƯƠNG TRUYỀN thực hiện và bảo vệ trước hội
đồng ngày……tháng……năm……
Luận văn được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:…………
Ý kiến hội đồng:………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………… Cần Thơ, ngày……tháng… năm …
Thành viên hội đồng …………………… …………………… ………………….
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ những người suốt đời tận tụy vì chúng con, xin cảm
ơn những người thân đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian qua.
Chân thành cảm ơn Thầy Phạm Phước Nhẫn đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và động viên em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Thành thật cảm ơn công ty TNHH THCOM đã hỗ trợ mọi chi phí trong
quá trình em làm luận văn tốt nghiệp.
Chân thành cảm tạ thầy cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền, cùng toàn thể
quý thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà
quý thầy cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường. Đây
sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời.
Gửi lời cảm ơn đến anh Hữu, Phú, Hạnh, chị Kiều, các bạn sinh viên làm
đề tài ở Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa: Pha, Tố Như, Ánh Như, Thanh Nhã, Mỹ
Hương, Hân, Mai, Lan,… cùng toàn thể các bạn Nông Học khóa 37. Đào Hương Truyền
MỤC LỤC
LÝ LỊCH CÁ NHÂN iii
LỜI CẢM TẠ iv
LỜI CAM ĐOAN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
2.2.3.2 Các chỉ tiêu về thành phần năng suất 22
2.2.3.3 Các chỉ tiêu về năng suất 22
2.2.3.4 Các chỉ tiêu khác 22
2.2.4 Phân tích số liệu 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 24
3.2 CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC 25
3.2.1 Chiều cao cây 25
3.2.2 Số chồi trên đơn vị diện tích 26
3.2.3 Chỉ số diệp lục tố (Spad) của lá lúa 28
3.3 NĂNG SUẤT VÀ CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 29
3.3.1 Số bông trên đơn vị diện tích 29
3.3.2 Số hạt trên bông 30
3.3.3 Tỷ lệ hạt chắc (%) 31
3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt (g) 32
3.3.5 Năng suất lý thuyết 32
3.3.6 Năng suất thực tế 34
3.4 SỰ TÍCH LŨY SINH KHỐI VÀ TỶ LỆ HẠT LEM 36
3.4.1 Sự tích lũy sinh khối 36
3.4.2 Tỷ lệ hạt lem 37
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
4.1 KẾT LUẬN 41
4.2 ĐỀ NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Thành phần của phân bón lá khoáng - sinh học Lactofol O
19
2.2
Thời điểm và liều lượng xử lý phân bón lá khoáng-sinh học
Lactofol O
21
3.1
Ảnh hưởng của Lactofol O lên chiều cao cây (cm) ở các thời
điểm 5 NSKP của giống lúa IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại
Giồng Riềng - Kiên Giang
25
3.2
Ảnh hưởng của Lactofol O lên mật độ chồi (chồi/m
2
) ở các thời
điểm 5 NSKP của giống lúa IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại
Giồng Riềng - Kiên Giang
27
3.3
Ảnh hưởng của Lactofol O lên chỉ số SPAD trên lá ở các thời
điểm 5 NSKP của giống lúa IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại
Giồng Riềng - Kiên Giang
28
3.4
Ảnh hưởng của Lactofol O lên các thành phần năng suất của lúa
IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại Giồng Riềng - Kiên Giang
33
3.5
Ảnh hưởng của Lactofol O đến hiệu quả kinh tế của giống lúa
IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại Giồng Riềng - Kiên Giang
IR50404 vụ Hè Thu năm 2013 tại Giồng Riềng - Kiên Giang
38 DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ha: hecta
NSKP: Ngày sau khi phun
ctv. : Cộng tác viên
pH: Độ chua
Rep: Replication (lần lặp lại)
SPAD: Chỉ số diệp lục tố trên lá
Hòa Lợi, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang” được thực hiện nhằm mục
tiêu khảo sát hiệu quả của phân bón lá – khoáng sinh học Lactofol O đến sinh
trưởng, năng suất và lợi nhuận trong quá trình sản xuất lúa ở địa điểm nghiên
cứu. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3
nghiệm thức với 3 lần lặp lại: nghiệm thức 1: đối chứng không phun Lactofol
O và bón phân vô cơ theo công thức đề nghị, nghiệm thức 2: phun Lactofol O
theo liều lượng khuyến cáo và bón phân vô cơ theo công thức đề nghị, nghiệm
thức 3: phun Lactofol O theo liều lượng khuyến cáo và bón 75% lượng phân
vô cơ.
Kết quả thí nghiệm cho thấy khi phun bổ sung Lactofol O không ảnh
hưởng đến chiều cao cây (cm), mật độ chồi (chồi/m
2
) và ảnh hưởng rất ít đến
chỉ số diệp lục tố (Spad) trên lá vào 2 giai đoạn nẩy chồi tối đa và trổ đều. Tuy
nhiên, khi bổ sung thêm Lactofol O đã giúp lúa gia tăng năng suất đáng kể
thông qua việc duy trì và nâng cao các thành phần năng suất. Cụ thể, năng suất
thực tế ở nghiệm thức 2 tăng 20,63% và lợi nhuận tăng thêm 2.447.000
(đồng/ha), còn ở nghiệm thức 3 thì năng suất thực tế tăng 7,94% và lợi nhuận
tăng thêm 621.250 (đồng/ha) so với nghiệm thức đối chứng. Lactofol O giúp
gia tăng tỷ lệ tích lũy sinh khối trên mặt đất, đặc biệt là sinh khối hạt. Đồng
thời, phun Lactofol O góp phần là giảm tỷ lệ hạt lem, từ đó nâng cao chất
lượng và an toàn nông sản. Qua đây có thể kết luận việc bón phân theo công
thức đề nghị và phun bổ sung thêm phân bón lá – khoáng sinh học Lactofol O
sẽ mang lại hiệu quả trong quá trình sản xuất lúa.
MỞ ĐẦU
Trong thế kỷ 21, việc trồng lúa phải đáp ứng làm thế nào để cung cấp đủ
lương thực cho người dân, giảm đói nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái.
Những thách thức cho ngành trồng lúa trong những năm tới là với mật độ dân
số gia tăng kinh khủng phải cung cấp đủ lương thực cho con người nhưng giữ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY LÚA
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại
Cây lúa thuộc họ Hòa thảo (Graminae), tộc Oryzae, loài Oryza. Trong
đó, Oryza sativa L. là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay.
Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuôc họ Gramineae (hòa thảo), tộc
Oryzeae, chi Oryza. Oryza có khoảng 20 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt
đới ẩm của Châu Phi, Nam và Đông Nam Châu Á, Nam Trung Quốc, Nam và
Trung Mỹ và một phần ở Úc Châu (Chang, 1976 theo De Datta, 1981).
Trong đó, chỉ có 2 loài là lúa trồng, còn lại là lúa hoang hằng niên và đa
niên. Loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận
diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L. Một loài lúa trồng nữa là Oryza
glaberrima Steud., chỉ được trồng giới hạn ở một số quốc gia Tây Phi Châu và
hiện đang bị thay thế dần bởi Oryza sativa L. (De Datta, 1981).
De Datta (1981) lại cho rằng ngành trồng lúa ở nhiều khu vực ẩm của
Châu Á nhiệt đới và á nhiệt đới có lẽ là bắt đầu khoảng 10.000 năm trước.
Trong đó, Ấn Độ có lẽ có lịch sử trồng lúa cổ xưa nhất vì đã có sự hiện diện
của rất nhiều loài lúa hoang ở đó. Tuy nhiên, ông cho rằng tiến trình thuần hóa
lúa trồng đầu tiên xảy ra ở Trung Quốc. Các biện pháp kỹ thuật như đánh bùn
và cấy, đầu tiên được phát triển ở miền Bắc và Trung của Trung Quốc, rồi sau
đó truyền sang Đông Nam Châu Á.
Từ 200 năm trước công nguyên, các giống lúa ở Trung Quốc được phân
thành 3 nhóm: “Hsien”, “Keng” và nếp. Năm 1928 – 1930, các nhà nghiên cứu
Nhật Bản đã đưa lúa trồng thành 2 loại phụ: “indica” và “japonica” trên cơ sở
phân bố địa lý, hình thái cây và hạt, độ bất dục khi lai tạo và phản ứng huyết
thanh (serological reaction).
Dựa vào điều kiện môi trường canh tác, đặc biệt là nước có thường
xuyên ngập ruộng hay không, người ta phân biệt nhóm lúa rẫy (upland rice)
hoặc lúa nước (lowland rice).
Tùy theo đặc tính thích nghi với môi trường, người ta có lúa chịu phèn,
lúa chịu úng, lúa chịu hạn, lúa chịu mặn…
đứng trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu có số ngoại tệ thu về trên 1 tỉ
USD và ngày càng tăng.
1.1.4 Giá trị dinh dưỡng
Gạo là thức ăn giàu dinh dưỡng (Bảng 1.1). So với lúa mì, gạo có thành
phần tinh bột và protein hơi thấp hơn, nhưng năng lượng tạo ra cao hơn do
chứa nhiều chất béo hơn. Ngoài ra, nếu tính trên đơn vị 1 hecta, gạo cung cấp
nhiều calo hơn lúa mì do năng suất lúa cao hơn nhiều so với lúa mì.
Bảng 1.1 So sánh thành phần hóa học của gạo trắng và cám
Chỉ tiêu Gạo trắng Cám
(Tính trên trọng lượng khô)
Tinh bột (% anhydroglucose) 89,8 9,7
Amylose (%) 32,7 6,7
Đường tổng số (% glucose) 0,4 6,4
Sợi thô (xơ) (%) 0,1 9,7
Chất béo (%) 0,6 22,8
Protein thô (%) 7,7 15,7
Tro (%) 0,56 10,6
Lân (%) 0,09 1,7
Fe (mg/100g) 0,67 15,7
Zn (mg/100g) 1,3 10,9
Lyzine (g/16gN) 3,8 5,6
Threonine (g/16gN) 3,7 4,1
Methionne + Cystine (g/16gN) 4,9 4,7
Tryptophan (g/16gN) 1,2 1,2
Thiamin (B1) (mg/100g) 0,07 2,26
Riboflavin (B2) (mg/100g) 0,03 0,25
Niacin (B3) (mg/100g) 1,6 29,8
Nguồn: Eggum, 1979 (Resurreccion và cộng tác viên, 1979; Singh và Juliano, 1977; Cagampang và
cộng tác viên, 1976).
một lượng ít qua lá. Vì vậy, để góp phần cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho
cây, nhất là các chất vi lượng cần thiết, người ta thường dùng các dạng phân
bón qua lá (Nguyễn Mạnh Chinh, 2001). Cung cấp dưỡng chất qua lá cho cây
trồng là phương pháp cung cấp dinh dưỡng nhanh hơn so với phương pháp
cung cấp qua rễ (Lê Văn Hòa và ctv., 2001).
Theo Đường Hồng Duật (2002) bón phân qua lá phát huy hiệu lực nhanh,
tỷ lệ sử dụng các chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng 95%
chất dinh dưỡng bón qua lá trong khi bón qua đất chỉ sử dụng 45 - 50%.
Theo Lê Hoàng Kiệt và ctv. (2005) khi phun phân bón lá có tác dụng:
- Bổ sung các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vi lượng trong giai đoạn
khủng hoảng chất dinh dưỡng của cây.
- Giúp cây trồng chống chịu với điều kiện bất thường như khô hạn, xì
phèn, ngộ độc hữu cơ, mặn…
- Tăng sức đề kháng của cây trồng với sâu bệnh khi cung cấp chất dinh
dưỡng cần thiết.
- Kích thích khả năng ra rễ, đẻ nhánh, tăng sự ra hoa, vào hạt…
Khi đất có hàm lượng dưỡng chất khoáng không đủ cung cấp cho cây
trồng hoặc có nhưng cây trồng không thể hấp thụ do các yếu tố bất lợi. Khi đó
việc phun phân bón lá sẽ giúp cây trồng hấp thụ nhanh đáp ứng kịp thời giai
đoạn sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Khi sử dụng phân bón qua lá, cây
sẽ sử dụng dinh dưỡng với tỷ lệ cao khoảng 95% so với 45-50% bón qua đất
(Đường Hồng Duật, 2002). Phân bón qua lá có thể thay thế được 30% phân
bón qua rễ. Trên đất phèn dù bón đủ NPK thì lúa vẫn không hấp thụ được tốt
do rễ kém phát triển trong tầng canh tác. Đôi khi phân bị bốc hơi nhanh hay bị
rửa trôi do thời tiết. Do vậy cây lúa không thể hấp thu dinh dưỡng được. Vì
vậy cần phải bổ sung phân bón qua lá để đáp ứng nhu cầu cây lúa trong quá
trình phát triển. Phân bón lá giúp lúa đẩy nhanh quá trình ra rễ, đẻ nhánh và
hình thành đòng (Nguyễn Thanh Bình, 2008). Đây là hình thức cung cấp dinh
dưỡng nhanh và hiệu quả.
Sử dụng phân bón lá giúp gia tăng hàm lượng tinh bột ở ngũ cốc lượng
2
và H
3
BO
3
với nồng
độ 2500 ppm đã làm tăng pectin, hemicellulose và cellulose trong thành phần
vách tế bào của vỏ và thịt trái tại thời điểm thu hoạch làm chậm quá trình chín
của trái quýt hồng (Phạm Thị Phương Thảo, 2009). Theo Phan Thị Lệ Thi
(2009) sử dụng H
3
BO
3
100 ppm phun qua lá một tháng trước khi thu hoạch đã
giúp màu sắc vỏ trái bóng sáng duy trì ổn định theo thời gian tồn trữ và vỏ trái
cứng chắc hơn. Tỷ lệ hao hụt trọng lượng và tỷ lệ nhiễm bệnh giảm, giúp vỏ
trái giảm mất nước 4 tuần sau thu hoạch của trái quýt đường.
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng phân bón lá trên lúa
Nồng độ dưỡng chất
Phần lớn các dưỡng chất được hấp thu vào cây theo nguyên tắc khuyết tán
nghĩa là đi theo chiều từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Vì vậy
nồng độ dung dịch dinh dưỡng khi phun vào cây phải có nồng độ cao hơn
nồng độ trong cây. Sự chênh lệch nồng độ dưỡng chất khoáng từ mặt bên
ngoài hướng đến mặt bên trong tế bào. Các ion đi vào qua lớp cutin theo chiều
hướng chênh lệch nồng độ là một yếu tố quan trọng trong việc hấp thu phân
bón lá (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004).
Tuổi lá
Tốc độ hấp thu dinh dưỡng qua lá thường bị giảm theo tuổi lá. Có nhiều
yếu tố gây ra sự giảm này như hoạt động biến dưỡng giảm (hoạt động của nơi
nhận dưỡng chất), tăng tính thấm của màng và gia tăng bề dày của lớp cutin
(Lê Văn Tri, 2001). Vì vậy nên tránh phun phân bón lá trong những trường
hợp trên để tăng hiệu quả sử dụng dưỡng chất. pH dung dịch phân bón
Dung dịch dinh dưỡng khoáng khi phun qua lá phải có pH trung tính, nếu
như pH quá cao hay quá thấp sẽ làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng do
môi trường bên trong tế bào là môi trường kiềm. Khi pH không thích hợp sẽ
làm cháy lá.
1.2.4 Những hạn chế khi sử dụng phân bón lá
Việc cung cấp dinh dưỡng qua lá cho cây trồng có hiệu quả nhanh hơn so
với phương pháp bón qua rễ. Tuy nhiên, việc bón phân qua lá vẫn có một số
hạn chế như sau: Vận tốc hấp thu chậm nhất là đối với cây có lớp cutin dày
như cây cam quýt và lúa; dưỡng chất bị trôi đi do mưa ở những lá không thấm
nước ; dung dịch phun qua lá bị khô nhanh; sự chuyển vị của một số nguyên tố
bị hạn chế như Ca khi phun qua lá rất ít được di chuyển đến các vị trí khác của
cây; gây tổn thương cho lá hoặc gây cháy lá ở nồng độ cao (Nguyễn Bảo Vệ
và Nguyễn Huy Tài, 2004). Tăng nguy cơ bị sâu bệnh và đổ ngã do lạm dụng
phân bón lá hoặc chọn loại phân không phù hợp dẫn đến thừa đạm (Lê Hoàng
Kiệt và ctv., 2005). Ngoài ra khi phun đúng giai đoạn ra hoa sẽ làm rối loạn
dinh dưỡng dẫn đến rụng hoa, rụng trái non.
Vì vậy, khi sử dụng phân bón lá cần chú ý các vấn đề sau:
- Tránh phun trước và sau mưa vì khi phun trước khi mưa phân sẽ bị rửa
trôi, còn khi phun sau mưa thì cây đã no nước nên giảm hiệu quả hấp thu.
Không phun khi nắng nóng vì khi đó khí khổng đã đóng. Hạn chế sử dụng áp
suất cao vì sẽ làm tổn thương lá (Lê Văn Tri, 2001).
- Không nên sử dụng phân bón lá trên cây đang ra hoa, lúc trời đang nắng
vì như vậy sẽ làm giảm hiệu lực của phân và làm rụng hoa quả. Khi ẩm độ
không khí thấp, đất bị hạn nặng không nên phun phân bón lá vì dễ làm rụng lá
(Đường Hồng Duật, 2002).
Vách ngoài của những tế bào lá được bao phủ bởi lớp cutin và một lớp
sáp có đặc tính chống thấm nước rất mạnh. Để việc hấp thu các chất dinh
dưỡng dễ dàng, ta có thể bỏ thêm các chất phụ gia vào phân bón qua lá để
giảm sức căng bề mặt.
Sự thâm nhập xuyên qua lớp biểu bì của vách tế bào
Khi phun phân bón qua lá lên bề mặt của lá cây, sự hấp thu có thể xảy ra
theo 3 cách sau:
- Qua các lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lớp ngoại bì và vách tế bào
- Qua các thủy khổng ở giữa các vách tiếp giáp các tế bào
- Qua khí khổng giữa các tế bào bảo vệ
Sự xâm nhập của chất lỏng xuyên qua bề mặt có sức căng cao và các khí
khổng có thể xảy ra dưới một số các điều kiện. Một trong những điều kiện này
là tạo các giọt nhỏ liên kết với sự bốc hơi. Khi sự bốc hơi xảy ra, mức độ xâm
nhập đạt cao nhất và sự hấp thu liên tục xảy ra với các phần chất rắn còn lại.
Những giới hạn vật lý chống lại sự xâm nhập qua khí khổng thì đúng đối với
các hạt giọt lớn nhưng có thể không đúng đối với các phần rắn còn lại vì
chúng liên kết thành một lớp mỏng trong quá trình bốc hơi nước. Những màng
mỏng này thâm nhập vào khí khổng và khích lệ sự trao đổi giữa bên trong và
bên ngoài lá cây.
Sự xâm nhập chất dinh dưỡng vào các không bào bên trong lá cây
Các không bào (apoplast) rất quan trọng để chứa các chất dinh dưỡng
trước khi chúng được hấp thu vào bên trong từng tế bào. Các chất dinh dưỡng
sẽ vào những không bào này sau khi xâm nhập từ bên ngoài qua lớp biểu bì lá
cũng như được hấp thu từ rễ qua các mao mạch trong thân cây.
Sự hấp thu chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào
Những nguyên tắc chung về việc hấp thu chất dinh dưỡng khoáng từ các
không bào vào bên trong từng tế bào lá cũng giống như sự hấp thu từ rễ. Theo
đó, tốc độ hấp thu như sau:
- Những phân tử nhỏ nhanh hơn những phân tử lớn (urea > Fe-Chelates).
- Những phân tử không mang điện nhanh hơn các ion tĩnh điện.