ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng và năng suất lúa mùa tại triệu sơn, thanh hóa - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


HOÀNG NGỌC THỌ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP BÓN PHÂN
VIÊN NÉN NHẢ CHẬM ðẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG
SUẤT LÚA MÙA TẠI TRIỆU SƠN, THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TẤT CẢNH

HÀ NỘI, 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

viện Nông Nghiệp Việt Nam, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hoá, Ủy
ban nhân dân huyện Triêụ Sơn ñã giúp ñỡ tôi rất nhiều cho việc hoàn thành
báo cáo này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả những bạn bè ñồng nghiệp,
người thân và gia ñình ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn
thiện luận văn này.
Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận
ñược những ý kiến ñóng góp của ñồng nghiệp, bạn ñọc và xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Ngọc Thọ Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ðẦU 1
1 Tính cấp thiết của ñề tài 1

3.1.1 ðánh giá thực trạng sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Triệu Sơn 36
3.1.2 Kết quả phân tích ñất ruộng thí nghiệm 38
3.2 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến thời gian sinh trưởng giống lúa Q5 38
3.3 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến ñộng thái chiều cao của giống lúa 40
3.4 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến khả năng ñẻ nhánh của lúa 43
3.5 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa Q5 46
3.6 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến khối lượng chất khô tích luỹ của lúa 48
3.7 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến tốc ñộ tích luỹ chất khô (CGR) của lúa 51
3.8 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến hiệu suất quang hợp thuần (NAR) của lúa 52
3.9 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến khả năng chống chịu sâu bệnh hại ñối với lúa 53

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.10 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến các yếu tố cấu thành năng suất của lúa 55
3.11 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của lúa 59
3.12 ðánh giá hiệu quả kinh tế của loại và phương pháp bón phân viên
nén nhả chậm ñối với các công thức lúa 60
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 62
1 Kết luận
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang

1.1 Lượng phân bón vô cơ ñã sử dụng ở Việt Nam 5
1.2 Lượng dinh dưỡng cây lúa cần ñể tạo ra 1 tấn thóc 6
1.3 Thời kỳ bón ñạm theo A. Dobermann và cộng sự, 2000 16
3.1 Thống kê tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Triệu Sơn 36
3.2 Kết quả phân tích thổ nhưỡng khu thí nghiệm 38
3.3 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến thời gian sinh trưởng giống lúa Q5 39
3.4 ðộng thái phát triển chiều cao của các công thức 41
3.5 ðộng thái phát triển số nhánh của các công thức 44
3.6 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa Q5 46
3.7 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến khối lượng chất khô tích luỹ của lúa 49
3.8 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả chậm
ñến tốc ñộ tích luỹ chất khô (CGR) của lúa 51
3.9 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến hiệu suất quang hợp thuần (NAR) của lúa 53
3.10 Ảnh hưởng của loại và phương pháp bón phân viên nén nhả
chậm ñến khả năng chống chịu sâu bệnh hại lúa 54

Nhìn một cách tổng thể tại Việt Nam trong những năm gần ñây, việc
bón phân cho cây trồng ñã ñược chú trọng, lượng phân bón tăng cũng như tỷ
lệ phân bón ñã ñược cải thiện làm cho năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt.
Tuy nhiên ở nhiều nơi nông dân sử dụng phân bón còn bất hợp lý, bón chưa
ñủ về lượng và bón chưa cân ñối, không ñúng thời kỳ sinh trưởng của cây
trồng, nhiều vùng nông dân không ñủ vốn ñể ñầu tư phân bón do vậy trồng
trọt quảng canh, bóc lột ñất ñã dẫn ñến năng suất thấp so với tiềm năng năng
suất. Ngược lại, ở nhiều vùng, do nông dân sản xuất cho giá trị thu nhập cao
thì lại ñầu tư quá nhiều phân bón, trong ñó phân ñạm ñược bón với lượng
quá lớn mà không chú trọng cân ñối với các loại phân khác khiến cho hiệu
quả sử dụng phân bón, hiệu quả sản xuất thấp, ñồng thời có nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường.
Trong thực tế sản xuất, hiệu quả sử dụng phân bón ñặc biệt là phân ñạm
chỉ ñạt khoảng 30-40% lượng ñạm của phân bón và lượng ñạm còn lại mất ñi
từ ñất, cây trồng không sử dụng ñược. Lượng ñạm bị mất ñi thông qua các
con ñường như rửa trôi, bốc hơi và thấm sâu. Việc mất ñạm ngày càng ñược
quan tâm nhiều hơn vì không những làm lãng phí tiền ñầu tư mà còn làm ô
nhiễm môi trường và gây hiệu ứng nhà kính. Hiệu quả sử dụng phân ñạm và
các loại phân khác thấp cũng làm giảm hiệu quả kinh tế.
Từ rất lâu, các nhà khoa học ñã bỏ nhiều công sức nghiên cứu ñể giảm
thiểu việc thất thoát phân trong trồng trọt, nhất là trong trồng lúa nước và ñã
ñạt ñược một số tiến bộ. Sử dụng phân viên nén nhả chậm là một trong những
giải pháp làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón ñặc biệt là phân ñạm và kali từ
ñó nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành sản xuất lúa, góp phần bảo vệ môi
trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Phân viên nén nhả chậm mặc dù có

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

nhiều ưu ñiểm, tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế. Mặt khác, sử dụng phân

3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có
giá trị về việc sử dụng phân viên nén nhả chậm và ảnh hưởng của nó ñối với
sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa, ñề xuất lượng bón và phương pháp
bón phân viên nén nhả chậm thích hợp.
- Góp phần xây dựng cơ sở khoa học về sử dụng phân viên nén nhả
chậm cho lúa.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
- ðề tài góp phần hoàn thiện quy trình bón phân PVNC cho lúa nhằm
mở rộng diện tích sử dụng loại phân này.
- Việc sử dụng loại phân này giúp làm tăng thu nhập cho người trồng
lúa trong khi giảm thiểu ñược tác ñộng xấu ñến môi trường do dư thừa phân
bón. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở lý luận
Phân bón là thức ăn của cây trồng, nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho cây
phát triển. Trên từng loại ñất, từng loại cây trồng cũng như ở các giai ñoạn
sinh truởng và phát triển mà cây cần những số lượng và chất lượng khác nhau.
Theo khối lượng, chất dinh dưỡng có 2 nhóm, ña lượng: nitơ, photpho, kali…
và vi lượng: Mg, Mn, Bo, Zn…. Theo nguồn gốc, phân bón chia thành hai
loại: Phân bón hữu cơ có nguồn gốc từ ñộng thực vật và phân vô cơ ñược
tổng hợp từ các loại hóa chất hoặc khoáng chất phân rã.
ðối với sản xuất nông nghiệp, phân bón ñã góp phần ñáng kể làm tăng
năng suất cây trồng, chất lượng nông sản. Theo ñánh giá của Viện Dinh

2
O
5
), phân Kali (K
2
O) và phân hỗn hợp NPK
như sau:
Bảng 1.1. Lượng phân bón vô cơ ñã sử dụng ở Việt Nam
ðơn vị tính: nghìn tấn
Năm N P
2
O
5
K
2
O NPK N+P
2
O
5
+K
2
O
2005 1332,0 501,0 450,0 180,0 2283,0
2008 1155,1 554,1 354,4 115,9 2063,6
2010 1357,5 551,2 516,5 179,7 2425,2

Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây
trồng cứ tăng lên mãi và càng không phải là tất cả lượng phân bón ñược cho
vào ñất, ñược phun trên lá….cây sẽ hấp thụ hết ñể nuôi cây lớn lên từng ngày.


trong các keo ñất là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho vụ sau; một phần bị rửa trôi
theo nước mặt và chảy vào các ao, hồ, sông suối gây ô nhiễm nguồn nước
mặt; một phần bị trực di (thấm rút theo chiều dọc) xuống tầng nước ngầm và
một phần bị bay hơi do tác ñộng của nhiệt ñộ hay quá trình phản nitrat hóa
gây ô nhiễm không khí….Như vậy gây ô nhiễm môi trường của phân bón trên
diện rộng và lâu dài của phân bó là việc xẩy ra hàng ngày hàng giờ của vùng
sản xuất nông nghiệp.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Phân bón ñi vào nguồn nước mặt gây ảnh hưởng xấu như: Gây phì hóa
nước và tăng nồng ñộ nitrat trong nước. Hiện tượng tăng ñộ phì trong nước
(còn gọi là phú dưỡng) làm cho tảo và thực vật cấp thấp sống trong nước phát
triển với tốc ñộ nhanh trong toàn bộ chiều sâu nhận ánh sáng mặt trời của
nước. Lớp thực vật trôi nổi này làm giảm trầm trọng năng lượng ánh sáng ñi
tới các lớp nước phía dưới, vì vậy hiện tượng quang hợp trong các lớp nước
phía dưới bị ngăn cản, lượng oxy ñược giải phóng ra trong nước bị giảm, các
lớp nước này trở nên thiếu oxy. Mặt khác, khi tảo và thực vật bậc thấp bị chết,
xác của chúng bị phân hủy yếm khí, tạo nên các chất ñộc hại, có mùi hôi, gây
ô nhiễm nguồn nước.
Nồng ñộ Nitrat trong nước cao (do phân ñạm chứa Nitrat) làm ảnh
hưởng ñến sức khỏe con người, ñặc biệt ñối với trẻ em dưới 4 tháng tuổi.
Trong ñường ruột, các Nitrat bị khử thành Nitrit, các Nitrit ñược tạo ra ñược
hấp thụ vào máu kết hợp với hemoglobin làm khả năng chuyên chở oxy của
máu bị giảm. Nitrit còn là nguyên nhân gây ung thư tiềm tàng.
Phân bón bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm chủ yếu là
phân ñạm vì các loại phân lân và kali dễ dàng ñược giữ lại trong keo ñất.
Ngoài phân ñạm ñi vào nguồn nước ngầm còn có các loại hóa chất cải tạo ñất
như vôi, thạch cao, hợp chất lưu huỳnh, Nếu như phân ñạm làm tăng nồng

hiệu suất sử dụng phân bón trong canh tác lúa
1.2.1.1. Hiệu quả của phương pháp bón phân truyền thống
Phân bón là thức ăn của cây trồng, nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho cây
phát triển. Trên từng loại ñất, từng loại cây trồng cũng như ở các giai ñoạn sinh
truởng và phát triển mà cây cần những số lượng và chất lượng khác nhau. Theo
khối lượng, chất dinh dưỡng có 2 nhóm, ña lượng: nitơ, photpho, kali và vi
lượng: Mg, Mn, Bo, Zn…. Theo nguồn gốc, phân bón chia thành hai loại: Phân
bón hữu cơ có nguồn gốc từ ñộng thực vật và phân vô cơ ñược tổng hợp từ các
loại hóa chất hoặc khoáng chất phân rã.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

ðối với sản xuất nông nghiệp, phân bón ñã góp phần ñáng kể làm tăng
năng suất cây trồng, chất lượng nông sản. Theo ñánh giá của Viện Dinh
dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón ñóng góp khoảng 30-35% tổng
sản lượng cây trồng. Như vậy cho thấy vai trò của phân bón có ảnh hưởng ñến
năng suất, sản lượng quốc gia và thu nhập của nông dân thật là to lớn.
Trong các loại phân bón thì phân hoá học có chứa nồng ñộ các chất
khoáng cao hơn cả. Từ ngày có kỹ nghệ phân hoá học ra ñời, năng suất cây
trồng trên thế giới cũng như ở nước ta ngày càng ñược tăng lên rõ rệt.
Việt Nam ñang là nước có nhu cầu sử dụng phân bón tương ñối cao, năm
2010 nhu cầu phân bón vào khoảng 9-9,5 triệu tấn, trong ñó gồm 2,2 triệu tấn
urê, 3,5 triệu tấn NPK, 800.000 tấn DAP, và các loại phân khác như lân, SA,
Kali hiện lượng phân bón vô cơ trên ñơn vị diện tích của Việt nam mới sử
dụng tương ñương 50% so với Trung Quốc và Hàn Quốc, tuy nhiên lại cao hơn
khá nhiều so với Thái Lan và Indonesia (Báo cáo ngành hàng phân bón tháng
01/2011). Theo Vũ Hữu Yêm, 1995, từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX Việt Nam
ñã là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới.
Nhu cầu phân bón của Việt Nam có xu hướng tăng về lượng, theo tính

sau làm ñòng ñến chín.
Theo tác giả Bùi ðình Dinh năm 1995, cây lúa cũng cần nhiều ñạm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

trong thời kỳ phân hoá ñòng và phát triển ñòng thành bông, tạo ra các bộ
phận sinh sản. Thời kỳ này quyết ñịnh cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, trọng
lượng nghìn hạt (P1000).
Giai ñoạn cuối của quá trình sinh trưởng, sự hấp thu ñạm của lúa cũng
rất cần thiết phải bón thêm nhiều ñạm.
Tuy nhiên, phân ñạm ñược chia ra bón nhiều lần dẫn ñến người nông
dân rất khó xác ñịnh thời gian và lượng bón chính xác cho lúa. Nhiều trường
hợp bón quá nhiều ñạm ở giai ñoạn sau, lúa quá tốt, nhiều sâu bệnh dẫn ñến
năng suất lúa rất thấp. Mặt khác, việc chia phân ñạm làm nhiều lần bón phụ
thuộc vào thời tiết, nhiều trường hợp bón xong gặp mưa ngay làm hầu hết
lượng ñạm bón bị rửa trôi. Biện pháp bón phân cho lúa bao gồm bón lót (ñược
vùi vào ñất hay là bón trên mặt) và bón thúc một ñến hai lần. Biện pháp bón
phân truyền thống này nói chung là tiện lợi, nhưng rất nhiều nghiên cứu ñã
chứng minh rằng bón phân ñạm theo kiểu trên thường cho hiệu quả rất thấp.
Các yếu tố khác cũng làm giảm hiệu quả của phân bón cho lúa nước như trong
ñiều kiện nhiệt ñới mưa thường tập trung, nhiều khi với những lượng mưa lớn
ñã làm cho nước chảy tràn bờ từ thửa ruộng này ñến thửa ruộng khác mang
theo lượng ñạm bị rửa trôi rất lớn.
Trong ñiều kiện ngập nước khi bón vãi và bón thúc Urê cho lúa, ñạm bị
hydrat hoá, do vậy dễ dàng bị mất ñi do bay hơi. Tương tự như vậy trong ñiều
kiện ngập nước ở ñất có ñộ thấm cao như ñất có thành phần cơ giới nhẹ, ñất có
dung tích hấp thụ thấp, không có tầng ñế cày, thường dẫn ñến việc rửa trôi urê
và amôn theo chiều sâu. Mặt khác khi bón vãi thường rất dễ xảy ra quá trình
phản nitrat hoá ở lớp ñất mặt và ở vùng ñất xung quanh bộ rễ lúa.

diện tích trồng lúa ít, tương ñối dư thừa lao ñộng.
1.2.1.2. Tổng quan về hiệu suất sử dụng phân bón của cây lúa
Tại Việt Nam hệ số sử dụng chất dinh dưỡng của phân bón ñối với lúa:
ñạm là 40%; lân là 22% và kali là 45% (Trần Thúc Sơn, 1999). Như vậy, có
hơn 50% lượng ñạm, 50% lượng kali và gần 80% lượng lân tồn dư ở trong ñất
tiếp tục biến ñổi và trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường nói chung
và môi trường ñất nói riêng. Sự biến ñổi của phân ñạm khi bón vào ñất theo

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

các hướng chính kết hợp với tuần hoàn của nó sẽ giải thích bản chất gây ô
nhiễm của việc bón phân ñạm không hợp lý.
• Hiệu suất sử dụng phân ñạm của cây lúa
Phân ñạm ñược sử dụng khá rộng rãi trong trồng lúa, vì giá sản xuất
phân tương ñối rẻ và chi phí vận chuyển thấp, hàm lượng ñạm trong phân cao
(46%). Tuy nhiên hiệu quả sử dụng phân ñạm của cây trồng rất thấp, ñặc biệt
là ñối với lúa nước. Lượng ñạm bị mất ñi phụ thuộc vào ñiều kiện ñất ñai, khí
hậu và biện pháp canh tác ñược áp dụng. Ở nước ta, trong mùa mưa, do mưa
tập trung với cường ñộ lớn, ñạm bị rửa trôi theo nước chảy bề mặt và xói mòn
là rất ñáng kể. Nhìn chung, ñạm bị mất dưới dạng thể khí (NH
3
) và do quá
trình phản ñạm hoá là những nguyên nhân chủ yếu làm mất ñạm trong nhiều
hệ thống nông nghiệp khác nhau.
ðạm là yếu tố quan trọng hàng ñầu ñối với cây trồng vì nó là thành
phần cơ bản của các protein - chất cơ bản biểu hiện sự sống. ðạm nằm trong
nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các
chất men. Các bazơ có ñạm, thành phần cơ bản của axit nucleic, trong ADN,
ARN của nhân bào, nơi cư trú các thông tin di truyền, ñóng vai trò tổng hợp

ñó giảm dần. Với liều lượng bón ñạm thấp thì bón vào lúc lúa ñẻ và trước trỗ
10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) . Theo Prasat và Dedatta (1979) thấy
hiệu suất sử dụng ñạm của cây lúa cao ở mức bón thấp, bón sâu và bón vào
thời kỳ sinh trưởng sau.
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón ñạm theo 9
cách tương ứng với các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển. Mỗi lần bón với 7
mức ñạm khác nhau, 2 tác giả trên ñã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của ñạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng ñạm bón ở
mức thấp.
+ Có 2 ñỉnh về hiệu suất, ñỉnh ñầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ ñẻ nhánh,
ñỉnh thứ 2 xuất hiện ở 1- 9 ngày trước trỗ, nếu lượng ñạm nhiều thì không có
ñỉnh thứ 2. Nếu bón liều lượng ñạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ,
nếu bón liều lượng ñạm cao thì bón vào lúc cây lúa ñẻ nhánh.
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng ñã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
ñất, mùa vụ và liều lượng phân ñạm bón vào ñến tỷ lệ ñạm do cây lúa hút.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Không phải do bón nhiều ñạm thì tỷ lệ ñạm của lúa sử dụng nhiều. Ở mức
phân ñạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng ñạm là 46,6%, so với mức ñạm này có
phối hợp với phân chuồng tỷ lệ ñạm hút ñược là 47,4%. Nếu tiếp tục tăng liều
lượng ñạm ñến 160 kg N và 240 kg N có bón phân chuồng thì tỷ lệ ñạm mà
cây lúa sử dụng cũng giảm xuống. Trên ñất bạc màu so với ñất phù sa Sông
Hồng thì hiệu suất sử dụng ñạm của cây lúa thấp hơn. Khi bón liều lượng ñạm
từ 40 kg N- 120 kg N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống tuy lượng ñạm
tuyệt ñối do lúa sử dụng có tăng lên .
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón ñạm trên ñất phù sa sông Hồng
của Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam ñã tổng kết các thí nghiệm 4 mức
ñạm từ năm 1992 ñến 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân ñạm ñối với

là không có hiệu quả.
Theo Yoshida (1980) ñạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất ñối
với cây lúa trong các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển.
Khi cây lúa bón ñủ ñạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác
như lân và kali ñều tăng. Theo Bùi Huy ðáp, ñạm là yếu tố chủ yếu ảnh
hưởng ñến năng suất lúa, cây có ñủ ñạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết
ñược tác dụng.
ðể tránh việc mất ñạm do bón sớm, theo A. Dobermann (2000) chia
làm nhiều lần bón như sau:
Bảng 1.3 Thời kỳ bón ñạm theo A. Dobermann và cộng sự, 2000
Thời kỳ Mùa khô Mùa mưa
Lót 23 kg N/ha (20%)
Thúc ñẻ (20 ngày sau cấy) 30 kg N/ha (25%) 28 kg N/ha (40%)
Bắt ñầu phân hóa ñòng (PI)
(40 ngày sau cấy)
47 kg N/ha (40%) 43 kg N/ha (60%)
Trước khi trỗ (65 ngày) 18 kg N/ha (15%)
Tổng 118 kgN/ha (100%) 71 kgN/ha (100%)

Cũng theo A.Dobermann, nếu dự kiến năng suất 7 tấn/ha thì cần bón
118 kg N; 57kg P
2
O
5
và 48 kg K
2
O/ha. Còn với mức 5 tấn/ha chỉ cần bón 71
kg N; 35 kg P
2
O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status