ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập khô xen kẽ, liều lượng phân lân lên sinh trưởng và năng suất lúa om2517 vụ đông xuân 2012 2013 trên vùng đất phèn tại tà đảnh, tri tôn, an giang - Pdf 30


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN ANH PHA ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP TƯỚI NGẬP -
KHÔ XEN KẼ, LIỀU LƯỢNG PHÂN LÂN LÊN
SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA OM2517
VỤ ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013 TRÊN VÙNG ĐẤT
PHÈN TẠI TÀ ĐẢNH, TRI TÔN, AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ - 2014

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

XEN KẼ, LIỀU LƯỢNG PHÂN LÂN LÊN SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA OM2517 VỤ ĐÔNG
XUÂN 2012 - 2013 TRÊN VÙNG ĐẤT PHÈN TẠI TÀ
ĐẢNH, TRI TÔN, AN GIANG”

Do sinh viên NGUYỄN ANH PHA thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày……tháng… năm …
Cán bộ hướng dẫn
Ts. Phạm Phước Nhẫn

ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP TƯỚI NGẬP - KHÔ XEN KẼ, LIỀU
LƯỢNG PHÂN LÂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA

Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2011, theo Ngành Nông Học, khóa 37
Tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Nghiệp chuyên ngành Nông Học năm 2014. iv
LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!
Cha mẹ những người suốt đời tận tụy vì chúng con, xin cảm ơn những
người thân đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian qua.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Phạm Phước Nhẫn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em
trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Quí Thầy Cô trong ban lãnh đạo dự án CLUES đã cho phép em thực hiện
các thí nghiệm trong dự án và hoàn thành tốt các nghiên cứu này.
Nguyễn Anh Pha vi
MỤC LỤC

LÝ LỊCH CÁ NHÂN iii
LỜI CẢM TẠ iv
LỜI CAM ĐOAN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
TÓM LƯỢC xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.5.2.3 Lân dễ tiêu 25
1.5.2.4 Sự biến đổi của lân trong đất ngập nước 26
CHƯƠNG II: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 27
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM 27
2.2 PHƯƠNG TIỆN 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP 28
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 28
2.3.2 Biện pháp canh tác 29
2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.3.3.1 Các chỉ tiêu nông học 29
2.3.3.2 Chỉ tiêu nước 29
2.3.3.3 Chỉ tiêu năng suất 30
2.3.3.4 Chỉ tiêu dưỡng chất phân phân tích 31
2.3.4 Xử lí số liệu 31
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
3.1 SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG RUỘNG 32
3.2 SỰ BIẾN ĐỘNG pH CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG RUỘNG 35
3.3 SỰ BIẾN ĐỘNG EC CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG RUỘNG 37
3.4 SỰ BIẾN ĐỘNG pH VÀ EC CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG
RUỘNG 38
3.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ THÍ NGHIỆM LÊN SỰ
SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 39
3.5.1 Chiều cao cây 39
3.5.2 Số chồi/m
2
40

viii
3.5.3 Chỉ số diệp lục tố 42
3.6 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ THÍ NGHIỆM LÊN SINH

DANH SÁCH BẢNG

Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Mức độ chịu đựng của cây lúa đối với những độc tố trong đất
9
1.2
Năng suất, sử dụng nước, và hiệu quả sử dụng nước ở chế độ tưới
AWD và tưới ngập liên tục. Dữ liệu từ Bouman và ctv. (2006)
18
1.3
Đánh giá khả năng cung cấp lân cho lúa nước
22
1.4
Đánh giá đất theo hàm lượng lân tổng số, %P
2
O
5
(Lê Văn Căn,
1978)
24
3.1
Tổng lượng nước bơm vào trong vụ cho 1 ha (m
3
)
33
3.2
Ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm lên chiều cao cây (cm)
x
DANH SÁCH HÌNH

Hình
Tên hình
Trang
1.1
Sự cân bằng nước ở vùng rễ ruộng lúa nước (Nguyễn Ngọc Đệ,
2008)
16

ET
Bốc thoát hơi nước
IRRI
Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế
KPa
Hiệu thế nước
N
Đạm
NSLT
Năng suất lí thuyết
NSTT
Năng suất thực tế
NSKS
Ngày sau khi sạ
P
Lân
pH
Độ pH
SPAD
Chỉ số diệp lục tố


năng suất lúa vẫn được đảm bảo đạt 7,34 đến 7,73 tấn/ha, tiết kiệm được từ
1.336 đến 1.352 m
3
nước/ha, khoảng 53% nước tưới. Việc kết hợp kĩ thuật
tưới ngập – khô xen kẽ và giảm lượng phân lân có thể làm tăng lợi nhuận đến
4,9 triệu đồng/ha. EC và pH của nước ruộng không khác biệt giữa hai chế độ
tưới ngập – khô xen kẽ và ngập liên tục. Kết hợp biện pháp tưới tiết kiệm và
giảm liều lượng phân lân không ảnh hưởng đến các thành phần năng suất, hàm
lượng lân trong thân lá, hạt, chỉ số diệp lục tố và sinh khối trên mặt đất của cây
lúa.
Từ khóa: Kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ, AWD, liều lượng phân lân.
1
MỞ ĐẦU
Cây lúa có tên khoa học là Oryza sativa L, là một trong những cây lương
thực chủ yếu và quan trọng trên thế giới, có ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất
65% số dân trên thế giới. Ở Việt Nam, lúa vừa đảm bảo lương thực cho hầu
hết dân số vừa đóng góp vào việc đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu
gạo đứng thứ 2 thế giới (Theo Nguyễn Như Hà, 2006). Mùa vụ 2011 – 2012
nước ta xuất khẩu 7,72 triệu tấn gạo trong tổng sản lượng 27,15 triệu tấn, tiếp
tục giữ vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, sau Ấn Độ. Theo Hiệp hội
Lương thực Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu gạo nước ta đạt 3,45 tỉ đô la
Mỹ (Theo Cục xúc tiến thương mại, 2013).
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng kinh tế quan trọng của cả
nước, giàu tiềm năng về nhiều mặt, chiếm vị trí quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội và là chìa khóa chính trong chiến lược an ninh lương thực
quốc gia. Sản lượng lúa chiếm trên 50% (xuất khẩu 95%). Tập quán tưới nước
cổ truyền (tưới ngập, tưới nhiều lần/vụ) của nông dân đã được duy trì từ bao

nghiên cứu liều lượng phân lân trên vùng đất phèn ở tỉnh An Giang là cần thiết
nhằm xác định công thức phân lân thích hợp để khuyến cáo vào sản xuất.
Mục tiêu của đề tài “Ảnh hưởng của biện pháp tưới ngập – khô xen kẽ và
liều lượng phân lân lên sinh trưởng và năng suất lúa OM2517 vụ Đông – Xuân
2012 – 2013 trên vùng đất phèn tại Tà Đảnh, Tri Tôn, An Giang” là xem xét
các ảnh hưởng của việc kết hợp 2 yếu tố: tưới ngập – khô xen kẽ (AWD) và
các liều lượng phân lân lên sinh trưởng và năng suất lúa OM2517 vụ Đông
Xuân 2012 – 2013.


ctv., 2012). Diện tích trồng lúa vụ Đông Xuân năm 2010 của toàn huyện là
39.959 ha với năng suất cây lúa vụ Đông Xuân năm 2010 của toàn huyện đạt
68,11 tạ/ha. Sản lượng lúa của toàn huyện đạt 272.161,6 tấn/ha. Trong đó Xã
Tà Đảnh có 3.460 ha trồng lúa với năng suất 7,2 tấn/ha và sản lượng 24.912
tấn (Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, An Giang, 2006 – 2010).
4
1.1.3 Giống lúa thí nghiệm
 Giống lúa
OM2517 là giống được chọn từ tổ hợp lai OM1325/OMCS94.
Được công nhận giống theo Quyết định số 2182 QĐ/BNN-KHCN, ngày 29
tháng 7 năm 2004.
 Đặc tính nông sinh học
OM2517 là giống lúa có thể gieo cấy được ở cả 2 vụ. Thời gian sinh
trưởng ở trà Đông xuân (các tỉnh phía Nam) là 90 – 95 ngày. Chiều cao cây:
90 - 100 cm. Khả năng đẻ nhánh khá. Hạt thon dài, màu vàng sáng. Chiều dài
hạt trung bình: 7,30 mm. Tỷ lệ chiều dài/chiều rộng hạt là: 3,30. Trọng lượng
1000 hạt: 27 – 28 gram. Gạo hạt dài, ít bạc bụng. Hàm lượng amylose (%):
25,0. Năng suất trung bình: 45 - 50 tạ/ha, cao có thể đạt: 60 – 80 tạ/ha. Khả
năng chống đổ khá. Là giống kháng vừa với bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ với bệnh
khô vằn, kháng với rầy nâu.
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA VÀ
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA
1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây lúa
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín. Theo
Yoshida (1981) cây lúa thường chiếm 3 – 6 tháng từ lúc nẩy mầm cho đến khi
chín, phụ thuộc vào giống và môi trường sinh trưởng. Có thể chia làm 3 giai
đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản

này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới.
Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít
nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Giai
đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
 Thời kì chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm
quang hợp được chuyển vào trong hạt. Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là
do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ. Kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng
dần làm đầy vỏ trấu. Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là “cong trái me”. Hạt
gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên được gọi là thời kỳ lúa
ngậm sữa.
 Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn
còn xanh.
 Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển
sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót
bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi
dần.
 Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20%
hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần. Thời
điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của
giống.
6
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
a. Số bông/đơn vị diện tích
Số bông trên đơn vị diện tích hình thành dựa vào hai yếu tố chủ yếu: mật
độ cấy và tỉ lệ đẻ nhánh của cây lúa. Mật độ thưa, ánh sáng đầy đủ, dinh
dưỡng nhiều thì lúa đẻ nhánh mạnh và cuối cùng đạt được một số lượng bông
nhất định trên đơn vị diện tích. Mật độ cấy dày, lúa đẻ nhánh ít và cuối cùng

bông, đặc tính sinh lí của cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại
cảnh. Thường số hoa trên bông quá nhiều dễ dẫn đến tỉ lệ hạt chắc thấp. Các
giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển vị các chất mạnh, cộng
với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong
điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỉ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại. 7
Muốn có năng suất cao, tỷ lệ hạt chắc phải đạt trên 80% (Nguyễn Ngọc Đệ,
2008).
d. Trọng lượng hạt
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) trọng lượng hạt được quyết định ngay từ
thời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kì
giảm nhiễm tích cực và vào chắc rộ. Trọng lượng hạt tùy thuộc cỡ hạt và độ
mẩy (no đầy) của hạt lúa. Đối với lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt
bằng trọng lượng của 1000 hạt với đơn vị là gram. Ở phần lớn giống lúa, trọng
lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20 – 30 g. Theo Đinh
Văn Lữ (1978) trọng lượng hạt quyết định do hai yếu tố: hạt thóc to nhỏ và
phôi nhũ đẫy nhiều ít. Hạt thóc to nhỏ phụ thuộc vào vỏ trấu to hay nhỏ. Mức
độ hạt đẫy nhiều ít phụ thuộc vào quá trình tích lũy tinh bột trong hạt sau khi
lúa trổ bông. Cần chú ý điều kiện dinh dưỡng và ngoại cảnh trước và sau khi
trổ bông để có biện pháp tăng trọng lượng hạt.
1.3 ĐẤT PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.3.1 Định nghĩa đất phèn
Theo Nguyễn Như Hà (2006) nhóm đất phèn có tên gọi theo FAO –
UNESCO là Thionic Fluvisols (FLt). Đất phèn (Acid sulphate soil) là tên gọi
dùng để chỉ đất có chứa các vật liệu mà kết quả của các tiến trình sinh hóa xảy
ra là acid sulphuric được tạo thành hoặc sẽ sinh ra với một số lượng có ảnh
hưởng lâu dài đến những đặc tính chủ yếu của đất (Pons, 1973 trích trong Võ
Thị Gương, 2010). Theo Đỗ Thanh Hải và ctv. (2006) axit sulfuric phá hủy

Nguyễn Mỹ Hoa, 2010) ở miền Nam Việt Nam, đất phèn chủ yếu phân bố ở 2
miền: miền Tây và miền Đông Nam bộ (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước,
Đồng Nai và khu ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh). Ở Đồng bằng sông Cửu
Long nhóm đất phèn chiếm diện tích rộng lớn gần ½ tổng diện tích tự nhiên
của đồng bằng (chiếm 1,6 triệu ha) phân bố tập trung thành các vùng: Vùng
phèn Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, Vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười,
Vùng phèn phía Tây sông Hậu và khu vực trũng giữa sông Tiền và sông Hậu,
và vùng phèn mặn Bán đảo Cà Mau và ven Vịnh Thái Lan. Vùng phèn Tứ
Giác Long Xuyên – Hà Tiên: Chủ yếu phân bố ở các huyện: Hà Tiên, Hòn Đất
thuộc tỉnh Kiên Giang và Tịnh Biên, Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang. Bao gồm
các biểu loại đất chính như: Sulfuric Humaquepts, Typic Sulfaquepts, Sunfuric
Tropaquepts. Vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười: Đại diện là các biểu loại đất
Sulfidic Humaquepts, Sulfuric Humaquepts, Typic Sulfaquepts và Umbric
Sulfaquepts. Vùng phèn phía Tây sông Hậu và khu vực trũng giữa sông Tiền
sông Hậu: Đất phèn phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Tam Bình,
Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long và huyện Phụng Hiệp thuộc tỉnh Cần Thơ,
gồm các biểu loại đất: Sulfuric Humaquepts, Sulfidic Humaquepts, Typic
Sulfaquepts. Vùng phèn mặn Bán đảo Cà Mau và ven Vịnh Thái Lan chiếm
khoảng 24% so với tổng diện tích đất Đồng bằng sông Cửu Long.
1.3.3 Các trở ngại của đất phèn
Có nhiều yếu tố hạn chế cho sản xuất nông nghiệp trên đất phèn. Tầng
pyrite (FeS
2
) trong đất phèn khi tiếp xúc với oxy sẽ bị oxy hóa tạo ra acid
sulfuric, làm cho đất chua và gây bất lợi cho sự phát triển của cây trồng (Trần
Thị Nhe và Nguyễn Mỹ Hoa, 2010). Các yếu tố bất lợi chính của đất phèn là
pH thấp, nhôm và sắt hòa tan trong dung dịch đất cao, ảnh hưởng bất lợi đến 9

4
2-
, H
+
, Cl
-
và hợp chất của sắt với lưu huỳnh là pyrite, jarosit) luôn có hàm
lượng rất cao, trên mức chịu đựng của cây trồng rất nhiều, vì vây gọi là độc tố
trong đất phèn.
a. Ảnh hưởng pH
Theo Thúy Hằng (2001) độ pH tác động nhiều đến các tính chất vật lý,
hóa học và vi sinh vật của đất đến sự phát triển và năng suất của cây lúa. pH
đất thấp gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp thu các dưỡng chất làm ảnh
hưởng đến sinh trưởng của cây. Quan trọng nhất là pH đất thấp đưa đến nồng
độ Fe, Al và Mn rất cao gây độc cho cây trồng. Mặt khác, pH đất thấp làm
giảm đáng kể độ hữu dụng của N, P, Ca, Mg trong đất, gây thiếu dinh dưỡng
nếu không được cải thiện pH và không cung cấp bổ sung các dưỡng chất này.
Thông thường sự phóng thích các kim loại gia tăng khi pH giảm, vì vậy
các nguyên tố kim loại thường dễ hòa tan trong môi trường acid. Ở giá trị pH<
4,5 Al
3+
có khả năng hòa tan cao và hàm lượng của nó có tương quan rất chặt
với pH, hàm lượng Al
3+
tăng lên 10 lần khi pH hạ xuống 1 đơn vị (Lê Huy Bá,
1982). Theo Astrom (1998) thì pH là một yếu tố quan trọng kiểm soát nồng độ
của hầu hết các kim loại nặng trong các kênh thoát nước vùng đất phèn, trừ As.
Mức độ phóng thích của các kim loại như Al, Cu, Cr, V có liên quan nhiều
vào pH (Trích Ngô Ngọc Hưng, 2009).
b. Ảnh hưởng của Sắt (Fe

)
3
hay Fe(HCO
3
)
2
, cũng có khi là hợp chất sắt hữu cơ.
Theo Lê Huy Bá (2000) Fe
2+
là nguyên tố độc của môi trường sinh thái đất
phèn, Fe
2+
xuất hiện trong đất phèn trước Al
3+
. Trong đất yếm khí chúng ở
dạng có thể kết hợp kết hợp với H
2
S tạo thành FeS bám vào rễ cây và làm ngộ
độc cho cây.
Nồng độ Fe
2+
cao gây độc cho cây: ngộ độc sắt chỉ thấy trên đất phèn khi
pH khoảng 5,0. Ngộ độc sắt có thể nghi ngờ khi thấy xuất hiện Fe(OH)
3
trên
mặt đất làm thành cặn bã màu nâu trong hơi đỏ, trên mặt làm thành ván dầu
(Van Breemen et al., 1982). Nồng độ Fe
2+
hòa tan vượt quá 300 – 400 ppm
gây độc cho cây. Nồng độ này thường ít tìm thấy trên đất Sulfaquepts ngập

Theo Đào Thái Học và ctv. (2005) độc chất nhôm có hóa trị là +3 (Al
+3
).
Trong dung dịch khi pH = 4,1 nhôm sẽ lắng tụ (điểm đó được gọi là điểm trầm
lắng của nhôm). Trong môi trường axit H
2
SO
4
, Al
+3
có khả năng di động mạnh.
Độc chất nhôm: đối với cây trồng cạn thì độc chất nhôm là trở ngại rất
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất. Đất phèn có pH đất thấp,
nồng độ ion H
+
, Fe và Al
3+
cao, nhôm bị thủy phân phóng thích ion H
+
làm đất
càng chua hơn (Van Breemen, 1978). Nồng độ Al hòa tan vượt quá 10 – 50
ppm có thể gây độc cho cây trồng, tùy thuộc vào giống và giai đoạn sinh
trưởng của cây trồng (Van Breemen, 1993). Ngộ độc Al là một trong những
nhân tố chính giới hạn năng suất cây trồng trên đất phèn và thường kết hợp với
thiếu lân. Nhôm hòa tan tích lũy trong mô rễ sẽ ngăn cản sự phân chia của tế
bào, làm ức chế sự hoạt động của các enzyme liên quan đến sự tổng hợp tế bào
làm cho bộ rễ cây còi cọc và bị xù xì. Thêm vào đó sự thu hút phosphate của
cây bị cản trở vì nhôm đã cố định lân trong đất và ngay cả trong rễ cây. Sự
giới hạn chiều dài của rễ cây trồng cũng là thông số cơ bản cho việc nghiên
cứu khả năng chịu đựng của cây trồng đối với độc chất nhôm. Ngộ độc Al

phèn rất thấp do chúng dễ bị cố định dưới dạng các hợp chất khó hòa tan (Võ
Thị Gương và ctv., 1994). Đặc tính cố định P của đất tùy thuộc vào pH, hàm

Trích đoạn SỰ BIẾN ĐỘNG pH CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG RUỘNG SỰ BIẾN ĐỘNG EC CỦA NƯỚC TRÊN ĐỒNG RUỘNG Chiều cao cây Chỉ số diệp lục tố Thành phần năng suất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status