ảnh hưởng của mật độ gieo sạ đến năng suất giống lúa om4218 trong vụ hè thu năm 2012 tại xã vĩnh thuận tây, huyện vị thủy, tỉnh hậu giang - Pdf 10


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ NÔNG HỌC

Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012 TẠI XÃ
VĨNH THUẬN TÂY, HUYỆN VỊ THỦY,
TỈNH HẬU GIANG Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Gs.Ts Nguyễn Bảo Vệ Trang Kiên Bush
Ths Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103495
Lớp: NH K36



Gs.Ts. Nguyễn Bảo Vệ
Ths. Trần Thị Bích Vân
ii

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
 O 

Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA OM 4218 VỤ HÈ THU NĂM 2012
TẠI XÃ VĨNH THUẬN TÂY, HUYỆN VỊ THỦY,
TỈNH HẬU GIANG”

Do sinh viên TRANG KIÊN BUSH thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng.
Ý kiến hội đồng:
…………………………………………………………………………………………

… ……………………………………………………………………………………
……… ………………………………………………………………….……………
…………
Luận văn đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức: ……………
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng

iv

CẢM TẠ

Kính dâng
Cha mẹ đã tận tụy nuôi dƣỡng và tạo điều kiện cho tôi đƣợc học tập và rèn luyện.
Chân thành cảm tạ
Thầy Nguyễn Bảo Vệ và cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn
Quý thầy cô của Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Khoa Thủy Sản,
Trƣờng Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong quá
trình học tập và rèn luyện tại trƣờng.
Các bạn sinh viên nghành Nông Học, Khóa 36 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá
trình học tập và thực hiện đề tài.



vi

TRANG KIÊN BUSH, 2012 “ Ảnh hƣởng của mật độ sạ đến năng suất giống lúa
OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu
Giang”. Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trƣờng Đại học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: Gs. Ts Nguyễn Bảo Vệ và Ths. Trần
Thị Bích Vân.

TÓM LƢỢC
Hiện nay, tập quán sản xuất lúa của nông dân còn mang tính truyền thống là
sạ dày, bón nhiều phân đạm nên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu
bệnh làm giảm rất đáng kể đến năng suất. Do đó, đề tài “Ảnh hƣởng của mật độ
gieo sạ đến năng suất giống lúa OM4218 trong vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh
Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu xác
định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành trong vụ Hè Thu 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây,
huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm đƣợc bố trí theo thể thức khối hoàn
toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm các nghiệm thức: sạ ở mật độ 100 kg/ha, sạ
ở mật độ 150 kg/ha, sạ ở mật độ 200 kg/ha.
Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Hè Thu, sạ ở mật độ 200 kg/ha có

1.2.2. Số hạt/bông 6
1.2.3. Tỷ lệ hạt chắc 7
1.2.4. Trọng lƣợng 1000 hạt 8
1.3. PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ 9
1.3.1. Phƣơng pháp sạ lan 10
1.3.2. Phƣơng pháp sạ hàng 10
1.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ 11
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT 13
1.5.1. Nhiệt độ 13
1.5.2. Ánh sáng 14
1.5.3. Lƣợng mƣa 14
1.5.4. Nƣớc 14
1.5.5. Gió 15
viii

1.5.6. Ảnh hƣởng của đất 15
1.5.7. Ảnh hƣởng của sâu bệnh 15
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP 16
2.1. PHƢƠNG TIỆN 16
2.1.1. Thời gian và địa điểm 16
2.1.2. Phƣơng tiện 17
2.2. PHƢƠNG PHÁP 17
2.2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm 17
2.2.2. Biện pháp canh tác 18
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 19
2.2.4. Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất 19
2.2.5. Đánh giá chỉ tiêu về năng suất. 20
2.2.6. Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại 20
2.2.7. Phƣơng pháp phân tích số liệu 21
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22


Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 18
Bảng 3.1 Ghi nhận tổng quan thí nghiệm giống lúa OM4218 sạ với các mật độ khác
nhau tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2012 22
Bảng 3.2 Thành phần năng suất của giống lúa OM4218 đƣợc thí nghiệm ở các mật
độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu
2012 28
Bảng 3.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa OM4218 đƣợc thí
nghiệm ở các mật độ khác nhau tại xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu
Giang vụ Hè Thu 2012 32
Bảng 3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế 34
xi

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 16
Hình 3.1: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến chiều cao của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 23
Hình 3.2: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến số chồi/m
2
của giống lúa OM4218 vụ
Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 25
Hình 3.3: Ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ đến chiều dài bông của giống lúa OM4218
vụ Hè Thu năm 2012 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 27
pháp cổ truyền, chọn lọc theo kiểu phả hệ, lai hữu tính, ứng dụng công nghệ sinh
học nhƣ tạo biến dị, nuôi cấy mô, biến đổi gen. Nhờ chính sách đổi mới và khoa học
kỹ thuật trong công tác lai tạo, chọn lọc giống lúa ở các viện, trƣờng, trung tâm và
cá nhân trong cả nƣớc, qua nhiều năm đã tạo ra rất nhiều giống lúa có năng suất
cao, ngắn ngày thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở từng địa phƣơng.
Do ngƣời dân có tập quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200
kg/ha, nhƣng trong thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể,
nếu sạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô
hiệu cao, thậm chí cây bị chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc bón nhiều
phân đạm dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất (Nguyễn
Trƣờng Giang, 2010 ). Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông
càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định việc tăng số bông không làm giảm số hạt/
bông và khối lƣợng nghìn hạt nhƣng nếu vƣợt qua giới hạn nhất định, số hạt/ bông
sẽ giảm dần và khối lƣợng nghìn hạt sẽ giảm dần do sự cạnh tranh dinh dƣỡng và
ánh sáng, vì thế khi cấy quá dầy sẽ làm năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên,
nếu cấy mật độ quá thƣa đối với giống có thời gian sinh trƣởng ngắn ngày khó đạt
đƣợc số bông tối ƣu. Vì vậy, chọn mật độ thích hợp là phƣơng pháp tối ƣu nhất để
đạt đƣợc số lƣợng hạt chắc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn
Thị Nga, 2011). Do đó, đề tài “ Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất giống
lúa OM4218 vụ Hè Thu năm 2012 tại xã Vĩnh Thuận Tây, Huyện Vị Thủy, Tỉnh
2

Hậu Giang” đƣợc thực hiện nhằm tìm ra mật độ gieo sạ thích hợp làm tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế.
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 THỜI KỲ SINH TRƢỞNG CỦA CÂY LÚA
Về mặt nông học, ngƣời ta chia đời sống của cây lúa thành ba giai đoạn
chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.1 Giai đoạn tăng trƣởng

ra trƣớc hoặc ngay khi cây lúa đạt đƣợc số chồi tối đa. Ngƣợc lại các giống lúa dài
ngày (trên 4 tháng) thƣờng đạt đƣợc số chồi tối đa trƣớc khi phân hóa đòng. Thông
thƣờng, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay là chồi có ích) thấp hơn so với
số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trƣớc khi đạt đƣợc số chồi tối đa. Các chồi
ra sau đó, thƣờng sẽ tự rụi đi không cho bông đƣợc, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả
năng cạnh tranh dinh dƣỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu, trong
canh tác ngƣời ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này
bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc
thêm chồi từ khoảng 7 ngày trƣớc khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dƣỡng
cho những chồi hữu hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông, giai đoạn
này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình là 30 ngày, giống lúa dài ngày hay
ngắn ngày thƣờng không khác nhau nhiều, lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh,
chiều cao bắt đầu tăng rõ rệt do sự vƣơn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ
bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Trong đời sống của cây lúa, giai đoạn này đƣợc đặc trƣng bởi hiện tƣợng
thân chính của lúa vƣơn cao nhanh làm tăng chiều cao cây, giảm nhanh chóng số
nhánh vô hiệu, xuất hiện lá đòng, kéo dài tốt và cuối cùng là trổ bông (Nguyễn
Thành Hối, 2003).
Trong giai đoạn này, điều quan tâm nhất chính là sự hình thành và phát triển
của đòng lúa, sự phân hóa đòng thƣờng diễn ra sau khi cây lúa đạt đƣợc số chồi tối
đa. Đây chính là thời kỳ báo hiệu cây lúa chuyển từ pha sinh trƣởng sang pha sinh
sản. Dấu hiệu đầu tiên là sự vƣơn lóng diễn ra ở lóng đầu tiên và kế đến là quá trình
4

hình thành đòng lúa. Sự phát triển của đòng lúa trải qua nhiều quá trình phân chia tế
bào và giảm nhiễm. Theo Nguyễn Xuân Trƣờng (2004), thì quá trình này trải qua
chín bƣớc, sau khi đòng lúc hình thành hoàn chỉnh thì nhờ sự vƣơn dài của hai lóng

Nhƣ vậy, trong giai đoạn này thời kỳ chín sữa là quan trọng nhất, do sự tích
lũy vật chất khô vào hạt tăng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và dinh dƣỡng. Đó là
quá trình ảnh hƣởng rất lớn đến trọng lƣợng hạt.
1.2 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì năng suất đƣợc hình thành và chịu ảnh
hƣởng của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện
tích, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lƣợng 1000 hạt. Năng suất lúa đƣợc
tính theo công thức:

Y = N x F x w x 10
-5

Trong đó:
Y: Năng suất (tấn/ha)
N: số hạt/m
2

F: tỷ lệ hạt chắc
w: trọng lƣợng 1000 hạt (g)

Năng suất là chỉ tiêu tổng hợp của tất cả các yếu tố cấu thành năng suất. Trên
thực tế, các yếu tố cấu thành năng suất có quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Muốn tăng
năng suất lúa không chỉ tác động riêng rẽ từng yếu tố mà phải tác động tổng hợp
(Nguyễn Thị Nga, 2011).
1.2.1 Số bông/m
2

Số bông/m
2
là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến năng suất lúa. Với mật

Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999), số bông trên đơn vị diện
tích đƣợc quyết định bởi hai yếu tố: mật độ sạ và tỷ lệ đẻ nhánh. Mật độ sạ đặt cơ sở
cho việc hình thành số bông. Trong điều kiện thâm canh cần mật độ sạ phù hợp tùy
giống, đất đai, phân bón, thời vụ,
Nói chung, đối với các giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu,
nhiều nắng nên gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích. Ngƣợc lại, trên
đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lƣợng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nƣớc thích
hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể gieo cấy thƣa hơn. Các giống lúa cải thiện thấp cây
có số bông/m
2
trung bình phải đạt 500 – 600 bông đối với lúa sạ hoặc 350 – 450
bông đối với lúa cấy mới có đƣợc năng suất cao (Phạm Sĩ Tân, 2008).
Tóm lại, số bông/m
2
là một thành phần năng suất góp phần quan trọng trong
việc tạo nên năng suất và chịu ảnh hƣởng của mật độ gieo sạ. Số chồi hữu hiệu là
yếu tố trực tiếp quyết định đến số bông/m
2
.
1.2.2 Số hạt/bông
Số hạt/bông cũng là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất. Số hạt/bông chủ
yếu do yếu tố di truyền của giống quy định. Tuy nhiên nó cũng chịu tác động của
các yếu tố ngoại cảnh do ảnh hƣởng đến quá trình phân hóa hoa. Số hạt/bông phụ thuộc
vào số gié, số hoa phân hóa cũng nhƣ số gié, số hoa thoái hóa. Số hạt/bông = Số hoa phân
hóa - Số hoa thoái hóa (Nguyễn Thị Nga, 2011).
Số hạt trên bông đƣợc quyết định từ lúc tƣợng cổ bông đến 5 ngày trƣớc khi trổ,
nhƣng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn này,
7

số hạt trên bông có ảnh hƣởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hƣởng đến số hoa đƣợc

8

Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa
gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả
năng nảy mầm hoặc trƣớc đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn
bị hại (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt chắc trên bông ảnh hƣởng đến năng
suất thực tế (Phạm Văn Chƣơng, 2002). Kết quả phân tích hệ số tƣơng quan Path năng
suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ gieo sạ thì số hạt chắc/bông
giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv., 1999).
Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Hè Thu xuống giống muộn sẽ gặp bất lợi
nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này mƣa dầm nên vũ lƣợng cao, mƣa kéo dài
và đặc biệt là trời hay mƣa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh và hạt bị lép
nhiều. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, nhƣ nhiệt độ thấp và cao vào giai đoạn
phân bào giảm nhiễm và trổ gié hoa có thể gây ra bất thụ. Các điều kiện thời tiết không
thuận lợi lúc chín có thể ức chế sự sinh trƣởng trực tiếp của vài gié hoa, cho ra những gié
hoa lép (Bùi Huy Đáp, 1980).
Tỷ lệ hạt chắc ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố nhƣ: phân bón, nhiệt độ, mƣa gió và hạn
hán. Đối với mỗi giống có yêu cầu về lƣợng phân bón nhất định. Nhiệt độ trên 20
0
C nếu
duy trì liên tục từ lúc lúa làm đòng đến trổ bông hoặc nhiệt độ cao trên 35
0
C sau khi lúa
trổ xong đều làm giảm tỷ lệ hạt chắc. Gió, mƣa và bão làm ảnh hƣởng đến quá trình thụ
phấn, thụ tinh và gây đỗ ngã làm ảnh hƣởng đến tỷ lệ hạt chắc. Ngoài ra, hạn hán làm thiếu
nƣớc tƣới của một số vùng cũng làm giảm tỷ lệ hạt chắc nhất là khi cây lúa vừa trổ xong
và bắt đầu ngậm sữa (Lê Hữu Toàn, 2009). Tỷ lệ hạt chắc là kết quả của quá trình thụ phấn
và thụ tinh trong môi trƣờng. Và thành phần này chịu sự ảnh hƣởng của nhiều yếu tố môi
trƣờng vào khoảng thời gian trƣớc, trong và sau trổ.

của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác có thể cũng làm thay đổi trọng lƣợng hạt phần
nhỏ, sản phẩm quang hợp sau trổ là yếu tố quyết định đến trọng lƣợng 1000 hạt.
1.3 PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ
Có nhiều phƣơng pháp để gieo sạ. Tuy nhiên, dựa vào điều kiện đất đai và nƣớc
tƣới mà chọn lựa phƣơng pháp sạ thích hợp. Những vùng chủ động đƣợc nguồn nƣớc tƣới
và đất tƣơng đối bằng phẳng thƣờng áp dụng phƣơng pháp sạ ƣớt. Hiện nay, hầu hết diện
tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là lúa cao sản và phƣơng pháp sạ ƣớt đƣợc áp
dụng nhiều nhất (Nguyễn Thành Hối, 2010). 10
1.3.1 Phƣơng pháp sạ lan
Đặc điểm của phƣơng pháp sạ này là cây lúa đẻ nhánh sớm, số bông nhiều, năng
suất quan hệ chặt chẽ với số bông. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là mật độ
thƣờng không đều, bộ rễ ăn cạn, dễ bị chim chuột phá hoại và lúa thƣờng bị đỗ ngã vào
mùa mƣa gió nhiều (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Phƣơng pháp sạ lan đã đƣợc nông dân áp dụng từ khi bắt đầu canh tác lúa cao sản
thay thế cho lúa mùa năng suất thấp. Phƣơng pháp này tỏ ra có những ƣu điểm nổi trội so
với phƣơng pháp sạ hoặc cấy lúa mùa về khả năng gia tăng số bông/m
2
, tính đồng đều về
chiều cao và khả năng nhận ánh sáng (Trần Đức Viên, 2007).
Hiện nay, lƣợng giống cao sản ngắn ngày sạ lan đƣợc khuyến cáo là 150 kg/ha
(Nguyễn Thành Hối, 2010). Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất thƣờng ngƣời dân trồng lúa
theo tập quán với mật độ cao, lƣợng giống gieo sạ từ 200 – 300 kg/ha (Nguyễn Văn Luật,
2001). Với lƣợng giống gieo sạ nhiều nhƣ thế thì sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến sự tiếp nhận ánh
sáng của từng cây lúa trong quần thể ruộng lúa, nhu cầu dinh dƣỡng từ đất trồng và tạo

100-150 kg/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999). Nhƣ vậy, phƣơng pháp sạ hàng có
nhiều ƣu điểm so với sạ lan nhƣ: giảm đƣợc lƣợng giống gieo sạ, giảm sâu bệnh và
có thể tăng năng suất.
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), thì tùy từng giống lúa để chọn mật độ thích
hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các bụi lúa
không chen nhau. Cách bố trí bụi lúa theo hình chữ nhật là phù hợp nhất vì nhƣ thế
mật độ trồng đƣợc đảm bảo nhƣng lại tạo ra đƣợc sự thông thoáng trong quần thể,
tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao
hơn.
Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nƣớc và dinh dƣỡng để
tạo ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/ m
2
,
có nghĩa là 70-100 cây mạ/ m
2
là tốt nhất. Mật độ thƣa sẽ tăng khả năng đẻ nhánh
và có thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của các bông ảnh hƣởng tới chất
lƣợng hạt giống, mật độ thƣa làm tăng cỏ dại cũng làm giảm chất lƣợng hạt giống.
Mật độ trồng quá cao làm giảm năng suất và chất lƣợng hạt giống vì cạnh tranh
nƣớc và dinh dƣỡng, che khuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thƣớc hạt (Nguyễn Thị
Nga, 2011).
Theo Tăng Thị Hạnh (2003) cho rằng mật độ gieo cấy khác nhau ảnh hƣởng
rõ đến khả năng đẻ nhánh của cây lúa. Chỉ số diện tích lá tăng khi mật độ tăng từ
12

25- 165 chồi/ m
2
, nếu cùng số chồi/ bụi khi mật độ tăng trong hai giai đoạn nhƣng
sang giai đoạn chín sữa khối lƣợng chất khô sẽ giảm nếu tiếp tục tăng mật độ. Công

13

hữu hiệu/bụi, khả năng chống chịu sâu bệnh, từ đó mà ảnh hƣởng mạnh đến năng
suất lúa.
Dựa trên sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Bùi
Huy Đáp (1999), đã đƣa ra lập luận các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt
chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh
hƣởng lẫn nhau. Số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/ bông và tỷ lệ hạt
chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhƣng số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ
hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp. Trong 3 yếu tố cấu thành năng suất: số
bông/ m
2
, số hạt chắc/bông và trọng lƣợng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữ vai trò quan
trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lƣợng 1000 hạt của mỗi giống ít
biến động. Vì vậy, năng suất sẽ tăng khi mật độ cấy trong phạm vi nhất định. Phạm
vi này phụ thuộc vào nhiều đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết. Để
tăng số bông/đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy hay tăng số bụi.
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), để có cùng số bông trên đơn vị diện tích nên
cấy ít tép nhiều bụi tốt hơn cấy ít bụi nhiều tép. Không nên cấy quá nhiều tép vì khi
đó cây lúa đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, số hạt/ bông ít
dẫn đến năng suất không đạt yêu cầu.
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trƣởng của cây lúa nhanh
hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30
o
C), nhiệt độ càng tăng cây
lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40
o
C hoặc dƣới 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status