TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
……… ………
NGUYỄN HUỲNH NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG
SUẤT LÚA OM6976 VỤ HÈ THU 2013 TẠI
HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: NÔNG NGHIỆP SẠCH
KHÓA 36
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Trần Thị Bích Vân Nguyễn Huỳnh Nghiệp
MSSV: 3103413
Lớp: Nông Nghiệp Sạch khóa 36
Cần Thơ - 2013
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Nghiệp Sạch với đề tài ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA OM6976
VỤ HÈ THU 2013 TẠI HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
Do sinh viên Nguyễn Huỳnh Nghiệp thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét. Cần Thơ, ngày ….tháng….năm 2013
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
NGUYỄN HUỲNH NGHIỆP
4
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Con xin thành kính biết ơn công lao sinh thành và nuôi dưỡng tựa trời
biển của cha mẹ đã nuôi dạy con khôn lớn nên người và tận tâm lo lắng, tạo
mọi điều kiện cho con được học tập đến ngày hôm nay.
Thành kính biết ơn!
ThS.Trần Thị Bích Vân đã đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức,
kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian thực
Địa chỉ: Xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ.
2.Trung học cơ sở
Thời gian học: Từ năm 2003 đến năm 2007
Trường Trung học cơ cở Thường Thạnh.
Địa chỉ: Phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
3.Trung học phổ thông
Thời gian học: Từ năm 2007 đến năm 2010
Trường trung học phổ thông Tầm Vu 2.
Địa chỉ: Thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
4. Đại học
Thời gian học: Từ 2010 đến năm 2014
Người khai ký
Nguyễn Huỳnh Nghiệp 6
MỤC LỤC
Xét duyệt luận văn i
Lời cam đoan iii
Lời cảm tạ iv
Tiểu sử cá nhân v
Mục lục vi
Danh sách chữ viết tắt viii
Danh sách bảng ix
Tóm lược x
7
2.3.5 Đánh giá chỉ tiêu về năng suất 14
2.3.6 Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại chính 14
2.3.7 Phương pháp phân tích số liệu 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT 16
3.2 CHỈ TIÊU NÔNG HỌC 16
3.2.1 Chiều cao cây 16
3.2.2 Số chồi trên mét vuông 18
3.2.3 Tỷ lệ chồi hữu hiệu 20
3.2.4 Chiều dài bông 21
3.3 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 21
3.3.1 Số bông trên mét vuông 21
3.3.2 Số hạt chắc trên bông 22
3.3.3 Tỷ lệ hạt chắc (%) 23
3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt 23
3.4 NĂNG SUẤT 24
3.4.1 Năng suất lý thuyết 24
3.4.2 Năng suất thực tế 25
3.5 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ 25
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
4.1 KẾT LUẬN 27
4.2 ĐỀ NGHỊ 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
8
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
2
qua các giai đoạn
sinh trưởng của lúa OM6976 vụ Hè Thu 2013 tại huyện
Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. 21
3.4 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến tỷ lệ chồi hữu hiệu của lúa
OM6976 vụ Hè Thu 2013 tại huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc
Liêu. 23
3.5 Ảnh hưởng của mật độ sạ đến chiều dài bông của giống lúa
OM6976 vụ Hè Thu 2013 tại huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc
Liêu. 24
3.6 Thành phần năng suất của giống OM6976 vụ Hè Thu 2013
tại huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
27
3.7 Năng suất của lúa OM6976 vụ Hè Thu 2013 tại huyện
Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
2
cao nhất nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và
năng suất lại thấp nhất, không đem lại hiệu quả kinh tế vì không giảm được
chi phí cho sản xuất. Khi sạ với mật độ 150 kg/ha có số chồi/m
2
và số bông/m
2
thấp hơn sạ 200 kg/ha nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và
năng suất thì cao hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn khi lợi nhuận tăng thêm
1.416.000 đồng/ha. Sạ với mật độ 100 kg/ha cho số chồi/m
2
, số bông/m
2
thấp
nhất nhưng chiều dài bông, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất cao
nhất, hiệu quả kinh tế cao nhất khi lợi nhuận tăng thêm 2.319.000 đồng/ha.
11
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, lúa là cây lương thực chính giữ vai trò quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp và chiếm 80% tổng sản lượng lương thực quốc gia. Tuy
nhiên, việc canh tác sản xuất lúa ngày nay gặp rất nhiều khó khăn do tình hình
biến động bất ổn của thời tiết, đất canh tác bị thu hẹp dần trong khi dân số
ngày càng gia tăng gây áp lực lớn cho việc đáp ứng nhu cầu lương thực. Trong
mỗi vụ canh tác nông dân phải đầu tư nhiều chi phí cho giống, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, công tác chuẩn bị đất, thu hoạch,…nhưng năng suất
cũng như hiệu quả kinh tế đạt được lại không cao. Do đó, cần có giải pháp
nâng cao sản lượng lúa, giúp người dân giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận
12
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC GIỐNG LÚA
Giống lúa OM6976 là giống mới triển vọng được chọn từ tổ hợp lai
IR68144/OM997/OM2718. Đây là giống được giới thiệu từ vụ Hè Thu 2009,
có hàm lượng vi chất sắt trong hạt gạo khá cao, cơm mềm và ngọt; thời gian
sinh trưởng của lúa gieo sạ vụ Đông Xuân 95-97 ngày, vụ Hè Thu 98-100
ngày. Giống OM6976 thấp cây 95-105 cm, dạng hình đẹp, rất cứng cây, đẻ
nhánh ít, bông to chùm, đóng hạt dầy, trong lượng nghìn hạt trung bình 25-26
g. Gạo hạt dài trung bình, trong, ít bạc bụng. Giống OM6976 thuộc nhóm
giống lúa bông to, thân rạ to, thích nghi rộng trên nhiều loại đất, từ phù sa ngọt
đến nhiễm phèn; chống chịu rầy nâu và bệnh đạo ôn tốt, chống chịu bệnh vàng
lùn, lùn xoắn lá. Tiềm năng năng suất giống OM6976 cao và ổn định trong cả
hai vụ Đông Xuân và Hè Thu có thể đạt tới 9 tấn/ha.
1.2 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009), sự phát triển của cây lúa bắt đầu từ lúc
hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn tăng
trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn
chín.
1.2.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc hạt nảy mầm đến lúc cây lúa phân hóa đòng.
Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi
mới. Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước ngày càng lớn giúp cây lúa nhận
được nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng
chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ
dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi
có lá thứ 5-6 (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Giai đoạn tăng trưởng dài hay ngắn là
phẩm quang hợp được chuyển vào hạt. Kích thước hạt gạo tăng dần làm đầy
vỏ trấu. Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa nên gọi là thời kỳ
ngậm sữa.
- Thời kỳ chín sáp: Hạt lúa mất nước, từ từ cô đặc lại, nhưng vỏ trấu vẫn
còn xanh.
- Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, vỏ trấu bắt
đầu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa.
- Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại. Thời điểm thu hoạch tốt
nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu vỏ trấu đặc trưng của giống.
Ở các hoa lúa được thụ tinh sẽ xảy ra quá trình tích lũy tinh bột và sự
phát triển hoàn thiện của phôi. Nếu dinh dưỡng đủ, không bị sâu bệnh phá hại,
thời tiết thuận lợi thì các hoa đã được thụ tinh sẽ phát triển thành hạt chắc (Vũ
Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999). Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều
nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai
đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009). Đinh Thế
Lộc (2006) cho rằng, trong thời gian chín nếu gặp điều kiện thuận lợi thì sẽ
giảm tỷ lệ hạt lép, tăng tỷ lệ hạt chắc và nhất là tăng khối lượng hạt.
14
1.3 YÊU CẦU CỦA CÂY LÚA
1.3.1 Yêu cầu về đất đai
Lúa có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất phù sa, đất
phèn, đất mặn cho đến xám bạc màu. Tuy nhiên, năng suất lúa trên các loại
đất khác nhau thì tương đối khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố hạn chế của
từng loại đất.
Nói chung, đất trồng cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng
khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám
chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt
pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa.
suất lúa.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), điều kiện thủy văn quyết định
chế độ nước, mùa vụ, tập quán canh tác và hình thành vùng trồng lúa khác
nhau. Ở mỗi nơi tùy theo địa hình cao hay thấp, gần hay xa sông mà thời gian
15
ngập nước và độ sâu cạn khác nhau. Từ đó, đã hình thành các vùng trồng lúa,
kiểu canh tác và mùa vụ khác nhau.
1.4 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4 yếu tố,
gọi là 4 thành phần năng suất lúa.
Năng suất lúa = Số bông/đơn vị diện tích x Số hạt/ bông x Tỉ lệ hạt
chắc(%) x Trọng lượng hạt(g).
Các thành phần năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong phạm vi
giới hạn, 4 thành phần này càng gia tăng thì năng suất lúa càng cao, cho đến
lúc 4 thành phần này đạt được cân bằng tối hảo thì năng suất lúa sẽ tối đa.
Vượt trên mức cân bằng này, nếu một trong 4 thành phần năng suất tăng lên
nữa, sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành phần còn lại, làm giảm năng suất. Lúc
bấy giờ, sẽ có sự mâu thuẫn lớn giữa số hạt trên bông với tỷ lệ hạt chắc và
trọng lượng hạt, giữa số bông trên đơn vị diện tích với số hạt trên bông,….
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2009).
Mức cân bằng tối hảo giữa các thành phần năng suất để đạt năng suất cao
thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết và kỹ thuật canh tác.
Hơn nữa, ảnh hưởng của mỗi thành phần năng suất đến năng suất lúa không
chỉ khác nhau về thời gian nó được xác định mà còn do sự góp phần của nó
trong năng suất hạt. Để biết tầm quan trọng tương đối của mỗi thành phần
năng suất đối với năng suất hạt, Yoshida và Parao (1976), đã phân tích tương
quan hồi qui nhiều chiều, sử dụng phương trình log Y = log N + log W + log F
+ R. Phương trình này được rút ra từ phương trình năng suất rút gọn như sau:
- Chọn giống thích hợp với đất đai và mùa vụ tại chổ.
- Làm mạ tốt để có cây mạ to khỏe, có chồi ngạnh trê, xanh tốt và không
sâu bệnh.
- Chuẩn bị đất chu đáo, mềm, sạch cỏ và giữ nước thích hợp.
- Cấy đúng tuổi mạ, đúng khoảng cách thích hợp cho từng giống cấy cạn
để lúa nở bụi khỏe. Đối với lúa sạ thì ngâm ủ đúng kỹ thuật và sạ với mật độ
thích hợp.
- Bón phân lót đầy đủ, bón thúc sớm để lúa chóng hồi phục và nở bụi
sớm mau đạt chồi tối đa và chồi khỏe cho nhiều bông và bông to sau này.
- Làm cỏ, sục bùn đúng lúc, giữ nước vừa phải và liên tục để điều hòa
nhiệt độ và khống chế cỏ dại.
- Phòng trừ sâu bệnh kịp thời.
1.4.2 Số hạt trên bông
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009), số hạt trên bông được quyết định từ lúc
tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân
hóa hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn này, số hạt trên bông có ảnh
hưởng thuận đối với năng suất lúa do ảnh hưởng đến số hoa được phân hóa.
Sau giai đọan này, số hạt trên bông đã hình thành có thể bị thoái hóa.
Như vậy, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa
bị thoái hóa. Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và
điều kiện thời tiết. Nói chung, đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh
tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa
phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông
cao.
17
Các biện pháp kỹ thuật cần lưu ý để tăng số hạt trên bông:
- Chọn giống tốt, loại hình bông to, nhiều hạt, nở bụi sớm (chồi ra càng
sớm càng có khả năng cho bông to).
18
- Chăm sóc chu đáo, tránh cho lúa bị khô hạn hoặc bị sâu bệnh trong thời
gian này.
1.4.4 Trọng lượng 1000 hạt
Trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hoá hoa đến khi
lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm nhiễm tích cực và vào
chắc rộ. Trọng lượng hạt tùy thuộc cỡ hạt và độ mẩy (no đầy) của hạt lúa. Đối
với lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt bằng trọng lượng của 1000
hạt với đơn vị là gram. Ở phần lớn các giống lúa, trọng lượng 1000 hạt thường
biến thiên tập trung trong khoảng 20-30 g (khối lượng ở độ ẩm 14%). Trọng
lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định, điều kiện môi
trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ)
trên cỡ hạt; cho đến khi vào chắc rộ (15-25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của
hạt.
Các biện pháp kỹ thuật cần lưu ý để tăng trọng lượng hạt:
- Chọn giống có cỡ hạt lớn, trổ tập trung.
- Bón phân nuôi đòng để tăng cỡ hạt đến đúng kích thước di truyền của
giống và bón phân nuôi hạt, giữ nước đầy đủ, bảo vệ nước không bị ngã đổ
hoặc sâu bệnh phá hoại, bố trí thời vụ cho lúa ngậm sữa, vào chắc trong điều
kiện thuận lợi để tăng sự tích lũy vào hạt làm hạt chắc và no đầy.
1.4.5 Những trở ngại chính làm giảm năng suất lúa trên đồng ruộng
Trong thực tế, khi môi trường canh tác càng ít được kiểm soát như mong
muốn theo yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây lúa, năng suất lúa thường
đạt được thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng của nó. Gomez (1977), đã tổng
kết nhiều nghiên cứu và đưa ra sơ đồ so sánh năng suất trong điều kiện thí
nghiệm, năng suất tiềm năng và năng suất thực tế có thể đạt được trên đồng
ruộng của nông dân. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng sụt giảm này bao
gồm cả các lý do sinh học, thời tiết và kinh tế xã hội.
kiện nhiệt đới ở nước ta thì cấy với mật độ dày là hợp lý, mỗi bụi nên cấy ít
tép, bụi lúa cấy ít tép sẽ đẻ nhánh thuận xòe ra 4 phía, bụi lúa tròn khỏe. Nếu
cấy với mật độ quá dày với số tép cao trên bụi dễ đưa đến tình trạng lốp, đỗ
non và có thể không thu hoạch được, năng suất quần thể giảm nhiều.
- Đối với giống lúa thấp cây, ngắn ngày có những đặc tính thích hợp hơn
so với giống cây cao dài ngày nhất là kiểu lá, số lá trên cây (ít hơn), độ dày lá,
góc lá hẹp,…Tất cả các ưu điểm trên cho phép cây lúa có thể chịu được những
mật độ dày hơn những giống cao cây. Đối với giống này sạ với mật độ càng
dày thì số chồi hữu hiệu càng giảm thấp.
Theo Đào Thế Tuấn (1984), để cải thiện một thành phần năng suất lại
đưa đến giảm thành phần năng suất khác, chẳng hạn như tăng số bông trên đơn
vị diện tích thì số hạt trên bông giảm. Theo tác giả, để cải thiện năng suất cây
trồng thì dựa vào mật độ cây trồng, diện tích lá, điều kiện đất đai để đạt năng
suất cao nhất.
1.6.1 Những nghiên cứu về mật độ gieo sạ
Mật độ gieo sạ là một những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và chi
phối chặt chẽ quá trình phát trển của cá thể lúa. Mật thích hợp là tạo điều kiện
20
cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng có hiệu quả các chất dinh dưỡng, nước và
ánh sáng. Mật độ thích hợp còn tạo sự tướng tác hài hòa giữa các cá thể cây
lúa và quần thể ruộng lúa để đạt mục đích cuối cùng là cho năng suất cao
(Hiraoka, 1996).
Cây lúa có khả năng điều chỉnh mật độ, khả năng này nằm trong phạm vi
nhất định phụ vào bản chất di truyền của giống, khả năng để nhánh, chiều cao
và góc độ lá, độ màu mỡ của đất, điều kiện trong ruộng lúa và những điều sinh
thái khí hậu khác, nhất là nhiệt độ và phân bón (Trinh Quang Khương, 2010).
Theo Đinh Văn Lữ (1978), tăng mật độ sẽ kéo theo sự gia tăng số chồi
trên mét vuông, hiệu suất sử dụng ánh sáng mặt trời, chất dinh dưỡng trong đất
Mật độ sạ thay đổi tùy thuộc vào điều kiện đồng ruộng và quản lý đầu
vụ, nếu đất bằng phẳng và quản lý tốt mật độ sạ 63,4 kg/ha, thấp nhất là 36,8
kg/ha và cao nhất là 100 kg/ha (Marrdi, 1983). Trường đại học Nông nghiệp
Kyuchu ở Thái Lan đã kết luận mật sạ thích hợp cho năng suất cao nhất là 500
hạt/m
2
, tương đương với 120 kg lúa giống/ha (Wasano, 1987). Đối với khí hậu
ôn đới như, Ý, Bắc Mỹ thì mât độ sạ từ 120-840 hạt/m
2
đều cho năng suất 9,8-
10,6 tấn/ha (HiII và ctv., 1990). Ở Nhật Bản thí nghiệm về mật sạ từ năm
1984-1987 đã cho biết chỉ cần sạ 23-37 kg giống /ha cho năng suất 4,64-5,35
tấn/ha (Asai và ctv., 1998). Kết quả nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy trong mùa
mưa với chuẩn bị đất tốt, chỉ cần sạ 30-60 kg/ha, trong mùa khô mật độ sạ 40-
50 kg/ha (Moorty và ctv., 1990). Philippines khuyến cáo sạ 100 kg/ha. Tuy
nhiên, hầu hết nông dân vẫn sạ ở mật độ cao hơn để trừ hao do chim, chuột và
tăng khả năng cạnh tranh giữa lúa và cỏ dại (Fajando và Moody, 1990; Singh,
1990)
22
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
2.1.1 Thời gian
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Hè Thu năm 2013 (từ tháng 4 năm
2013 đến tháng 7/2013).
2.1.2 Địa điểm
Thí nghiệm tại xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu trên giống
lúa cao sản OM6976 có thời gian sinh trưởng 90 ngày.
Nghiệm Thức Mật độ
1
2
3
Sạ với mật độ 200 kg/ha (theo nông dân)
Sạ với mật độ 150 kg/ha
Sạ với mật độ 100 kg/ha 23
2.3.2 Thu thập số liệu
- Khả năng phản ứng với sâu bệnh: Rầy nâu, đạo ôn.
- Đặc điểm sinh trưởng: Số chồi/m
2
, chiều cao cây (cm), chiều dài bông
(cm) và tỷ lệ chồi hữu hiệu (%).
- Thành phần năng suất: Số bông/m
2
, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc (%)
và trọng lượng 1000 hạt (g).
- Năng suất: Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế (tấn/ha).
2.3.3 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu nông học
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao cây đối với cây lúa chưa có bông là khoảng cách từ mặt đất đến
chóp lá cao nhất, đối với cây lúa đã có bông thì chiều cao được xác định từ
mặt đất đến chóp bông cao nhất. Đo chiều cao giai đoạn 10, 20, 30, 40, 50, 60,
70 và 80 ngày sau sạ (NSS) của cây lúa trong mỗi khung có diện tích 0,5m
2
.
(gram)
- Đo độ ẩm mẫu
Số chồi giai đoạn 80 NNS
Số chồi giai đoạn 40 NNS
x 100