TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LA QUỐC TRIỆU
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH XUẤT HIỆN MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN
NHIỄM TRÊN CÁ BÓP Rachycentron canadum (Linaeus, 1766)
Ở QUẦN ĐẢO NAM DU, HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS.TỪ THANH DUNG
PGS.TS TRẦN NGỌC HẢI 2013
ii
LỜI CẢM TẠ
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến:
Cô Từ Thanh Dung đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp.
Thầy Trần Ngọc Hải, Thầy Lý Văn Khánh đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện
giúp tôi thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
Thầy cô và các anh chị bộ môn Sinh học và Bệnh học, khoa Thủy sản, trường
Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức quý báu trong
thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
Anh Nguyễn Bảo Trung, chị Nguyễn Thị Thúy An đã đã nhiệt tình hỗ trợ và
truyền đạt những kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này.
khỏe, kết quả kết quả phân tích ký sinh trùng tìm thấy 3 nhóm ký sinh trùng là:
Gyrodactylus spp., Trichodina spp., Cryptocaryon spp., Gyrodactylus spp.có
tần số xuất hiện nhiều nhất. Kết quả phân tích 20 mẫu thu được 15 chủng vi
khuẩn trong đó định danh được 10 chủng Vibrio sp. và 5 chủng Streptococcus
sp. Các mẫu phân tích cá khỏe không tìm thấy vi khuẩn. Nghiên cứu chỉ định
danh vi khuẩn đến giống nên cần có những nghiên cứu chuyên sâu, định danh
vi khuẩn và ký sinh trùng phân lập được đến loài nhằm xác định rõ hơn tác
nhân gây bệnh trên cá bóp nuôi lồng bè ở quần đảo Nam Du.
iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan :
1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của Cô Từ Thanh Dung.
2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng
tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian
trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Sinh viên La Quốc Triệu
v
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
3.3. Thu thập thông tin 13
3.4. Phương pháp thu mẫu 13
3.5. Phương pháp kính phết và nhuộm tiêu bản 13
3.6. Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng 14
3.7. Phương pháp phân lập và định danh vi khuẩn 14
Phương pháp phân lập vi khuẩn 14
3.8. Phương pháp xử lý số liệu 15
PHẦN IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 16
4.1. Khảo sát tình hình bệnh trên cá bóp ở quần đảo Nam Du huyện Kiên Hải
tỉnh Kiên Giang 16
4.1.1. Thông tin chung về địa điểm điều tra 16
4.1.2. Thông tin nông hộ 16
4.1.3. Một số kỹ thuật nuôi 18
4.1.3.1. Con giống 18
4.1.3.2. Thức ăn 19
4.1.3.3. Biện pháp quản lý lồng bè 19
4.1.4. Tình hình bệnh 20
4.2. Thuốc và hóa chất sử dụng 24
4.3. Những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi 25
4.4. Định hướng và chính sách của nhà nước để phát triền nghê nuôi cá bóp ở
quần đảo Nam Du, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. 26
4.5. Kết quả phân tích mẫu 26
4.5.1. Mẫu cá bệnh 26
4.5.2. Kết quả phân tích ký sinh trùng 27
4.5.3. Kết quả phân tích vi khuẩn 27
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31
5.1. Kết luận 31
5.2. Đề xuất 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 36
Hình 4.6: (A) Cá bóp bị mù mắt; (B) Nội quan trương to (gan). 27
Hình 4.7: Ký sinh trùng trên cá bóp 27
Hình 4.8: Tiêu bản phết thận phát hiện sự xuất hiện của nhóm cầu
khuẩn Gram (+). 28
Hình 4.9: Nhuộm Gram và kiểm tra O/F vi khuẩn Vibrio sp 29
Hình 4.10: Nhuộm gram và kiểm tra O/F vi khuẩn Streptococcus sp. 29
Trang
1
PHẦN I
GIỚI THIỆU
Theo Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), sản lượng nuôi thủy sản của thế
giới liên tục tăng trong đó có nghề nuôi cá biển, tuy lịch sử phát triển còn khá
mới so với các nhóm đối tượng nuôi khác nhưng sản lượng cá biển nuôi không
ngừng tăng và Việt Nam là một trong số 20 nước dẫn đầu về thủy sản, đứng
thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản (sau Trung Quốc và Ấn Độ) và đứng
thứ 8 về xuất khẩu các sản phẩm thủy sản. Với lợi thế to lớn về diện tích mặt
nước biển, trên 1 triệu km
2
vùng đặc quyền kinh tế trên Biển Đông, chiều dài
đường bờ biển 3260 km, diện tích mặt nước ngọt và lợ lớn, Việt Nam có tiềm
năng không nhỏ để phát triển nghề nuôi cá biển.
Cùng với sự phát triển của nghề nuôi cá biển trên thế giới, nghề nuôi cá biển ở
Việt Nam có những bước tiến quan trọng và góp phần không nhỏ vào sản
lượng cá xuất khẩu, giúp cải thiện đời sống ngư dân ven biển. Các loại cá biển
được nuôi chính như cá mú (Epinephelus), cá chẽm (Lates calcarifer), cá bóp
(Rachycentron canadum), cá tráp đen (Rhabdosargus sarba), cá đù đỏ
(Sciaenops ocellatus), Trong đó, cá bóp (Rachycentron canadum) xác định là
một trong những đối tượng nuôi quan trọng và hiệu quả trong nuôi cá biển
Xác định sự hiện diện của một số tác nhân gây bệnh trên cá bóp nuôi lồng bè ở
quần đảo Nam Du
3
PHẦN II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Vài nét chung về cá bóp
2.1.1. Vị trí phân loại
Theo phân loại của FAO (1974), cá bóp có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Pices
Bộ: Perciformes
Họ: Rachycentridae
Giống: Rachycentron
Loài: Ranchycentron canadum
Hình 2.1: Cá bóp (Nguồn: />gio.jpg)
Tên thường gọi
Tên tiếng Anh: Black king fish, Cobia
Tên khoa học: Rachycentron canadum
Tên Việt Nam: cá bóp, cá giò
2.1.2. Phân bố
Cá bóp (bớp) hay còn gọi là cá giò, tên tiếng Anh là Cobia (Ranchycentron
canadum), phân bố rộng trên toàn thế giới cả ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
(Liao et al., 2004; Holt et al., 2007 và Nguyen et al., 2008). Ở phía Tây Đại
Tây Dương, cá bóp phân bố từ Bermuda tới Argentina bao gồm cả vịnh
Mexico. Ở phía Đông Đại Tây Dương cá bóp phân bố từ bờ biển Marốc tới
Nam Phi (Monod 1973, Smith 1965). Ở vùng biển Ấn Độ-Tây Thái Bình
4
Dương, cá bóp phân bố từ Hokkaido (Nhật Bản) tới Austraylia và Đông Ấn
kiện nuôi dưỡng. Ở Trung Quốc, nuôi lồng biển sau 1 năm đạt 5-6 kg, sau hơn
2 năm có thể đạt 8-10 kg. Ở Đài Loan, sau 15 tháng, nuôi cá bóp trong lồng 80
m
3
, sử dụng cá tạp làm thức ăn, đạt 7-9 kg, nuôi trên 2 năm tuổi có thể đạt 10-
23 kg.
2.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá bóp
5
2.2.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá bóp trên thế giới
Theo báo cáo của FAO (2012), sản lượng nuôi cá bóp của thế giới năm 2010
trên 40.000 tấn, trong đó Đài Loan và Trung Quốc chiếm trên 80%. Cá bóp
được nuôi từ năm 1990, đến năm 1992 sinh sản nhân tạo cá bóp lần đầu tiên,
kỹ thuật sản xuất giống cá bóp nhân tạo và bán nhân tạo được áp dụng rộng rãi
ở Mỹ từ năm 1996. Theo Sveanevig (2001), Mỹ tiến hành nuôi cá bóp thương
phẩm từ năm 2002 và ngày càng phát triển nghề nuôi.
Trung Quốc tiến hành nuôi cá bóp từ năm 1992 đến nay, từ năm 1997 kỹ thuật
sản xuất giống phát triển với số lượng lớn vì vậy cá bóp nhanh chóng chiếm
ưu thế và trở thành loài nuôi công nghiệp trong hệ thống lồng xa bờ. Nhật Bản
đã nhập con giống từ Trung Quốc và tiến hành nuôi lồng ở khu vực đảo
Okinawa.
Đài Loan bắt đầu nuôi cá bóp vào đầu những năm 1990 (Yeh, 2000; Liao et
al., 2004) và được xem là nước dẫn đầu trong sản xuất giống nhân tạo và nuôi
cá bóp. Nuôi cá thịt năm 1998 đã sản xuất được 2.673 tấn, tăng gấp hai mươi
lần so với năm 1990 là 103 tấn. Sản lượng năm 2003 đạt 2.500 tấn. Với chi
phí sản xuất tương đối thấp (khoảng 2,4 USD/kg cá thương phẩm) giá bán
sang Nhật Bản từ 5-6 USD/kg cá bóp nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi
phổ biến ở Đài Loan, chiếm 80% số lồng nuôi trên biển và được xem là một
trong những đối tượng nuôi quan trọng của nước này (Su et al., 2000).
2.2.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá bóp trong nước
Việt Nam nằm trong khu vực phân bố tự nhiên của cá bóp, chúng được nuôi ở
làm cá giảm hoạt động, gây thiếu oxy, (Kaiser and Holt, 2005).
Các nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn trên cá bóp bao gồm Mycobacteriosis,
Vibriosis, Photobacteriosis và Streptoccosis, được gây ra bởi các tác nhân gây
bệnh bao gồm: Mycobacterium marinum, Vibrio anguillarum, Vibrio ordalii,
Pasteurella piscida và Streptococcus spp. (Liao et al., 2004; Lowery and
Smith, 2006)
2.4.1. Bệnh do ký sinh trùng
Ký sinh trùng không những là tác nhân chính gây nhiều bệnh nguy hiểm mà còn
là tác nhân mở đường tạo điều kiện cho các tác nhân khác xâm nhập vào cơ thể
ký chủ như nấm, vi khuẩn, virus (Nguyễn Trường Phúc, 2011).
Bệnh ký sinh trùng đơn bào do Amyloodinium ocellatum là tác nhân chính gây
chết cá bóp giai đoạn giống, có thể gây chết trong ngày nếu không điều trị kịp
thời. Cá khó hô hấp, bơi lội không định hướng, chán ăn, bung nắp mang, mang
xuất hiện những chấm đen. Licmophora sp. là nhóm ngoại ký sinh trùng, gây
bệnh ở cá bóp sau một tháng thả giống, cá bị bệnh có những dấu hiệu như da
cá có màu vàng hoặc màu gỉ sét. Trùng bánh xe Trichodina được tìm thấy trên
da và mang của cá bóp ở giai đoạn ương giống làm cá chán ăn và nhiễm trùng
thứ cấp. Trùng loa kèn Epistilis làm cá có những dấu hiệu như xuất hiện các
khối màu trắng hoặc đỏ trên da/vây, mang hoặc trong miệng ở giai đoạn ấu
niên (Gomez et al., 2011).
7
Bệnh đốm trắng do nhóm ký sinh trùng Cryptocariosis gây ra: nhóm ký sinh
trùng đơn bào trùng lông (Cryptocaryon iritans) được tìm thấy trên cá bóp,
đây là tác nhân gây bệnh đốm trắng ở cá nước mặn. Cá bị bệnh có dấu hiệu
đặc trưng như: Nổi trái trên thân, vây, cá chán ăn, chậm lớn. Bệnh xảy ra ở cá
giống (Theo B. Williams and Williams, 2006) và các tác giả này cũng báo cáo
về một loài kí sinh trùng khác là Rooklynella hostilis là nguyên nhân gây
chết hơn 30.000 con cá bóp giống bị stress tại Peuerto Rico. Cá bệnh có các
dấu hiệu đặc trưng như màu da nhợt nhạt, bỏ ăn.
Bệnh do sán lá đơn chủ (Monogeneansis) gây hại trên cá bóp nuôi thương
0
C với các dấu hiệu đặc trưng như lồi mắt,
tổn thương trên các gốc vây ngực, tuyến sinh dục xuất huyết. Nghiên cứu đầu
tiên về Vibriosis (Vibrio alginolyticus) trên cá bóp vào năm 2001 tại Đài Loan
Vibrio sp. là mầm bệnh gây ảnh hưởng đến các loài cá biển, tôm he, cũng như
bào ngư (Liu et al., 2004).
Theo Liu et al. (2004), xác định V. alginolyticus gây bệnh trên cá bóp từ
100-120 g, cũng như trên cá bóp 8-12 g, từ hai đợt dịch khác nhau tại Đài
Loan trong mùa hè. Đến năm 2006, V. vulnificus được Liu et al. xác định là
tác nhân gây bệnh trên cá bóp. Cá bị nhiễm V. vulnificus, bệnh lý thường gặp
xuất huyết bên ngoài cơ thể như ở mang, đầu, bụng và vây cá, đặc biệt là các
vây ngực và cũng có thể xuất huyết nội quan gồm gan và ruột. Các triệu chứng
bao gồm vết loét trên vây lưng và bụng, hoại tử cơ thể, ở vùng đầu cũng như
các chấm xuất huyết trên mang và vây.
Một nghiên cứu khác của Liu et al. (2004), xác định Vibrio haveyi (V.
carchariae) là tác nhân gây bệnh viêm dạ dày và ruột ở cá bóp. Cá bệnh có
dấu hiệu như: bụng trương to, bên trong có chứa dịch màu vàng trong suốt.
Liều gây chết LD
50
là 7,48x10
4
CFU/g trọng lượng cá. Theo Rajan et al.
(2001), kết quả cảm nhiễm Vibrio alginolyticus gây xuất huyết trên gan, thận
cá bóp có LD
50
là 4,8 – 6,0x10
5
CFU/g cá.
Bệnh Mycobacteriois: Bệnh thường xuất hiện giai đoạn cá giống (15-20 cm),
cá lờ đờ, xuất hiện vết loét trên da, giảm sắc tố (Leaño et al., 2008).
Những giống nấm thường gặp gồm: Lagenidium, Sirolpidium, Haliphthoros,
Atkinsiella, Fusarium. Nấm sinh sản vô tính bằng bào tử kín: Lagenidium,
A
B
10
Sirolpidium, Haliphthoros, Atkinsiella. Sinh sản bằng bào tử đính: Fusarium
(Bùi Quang Tề, 2008).
Bệnh nấm da: do nấm Saprolegnia sp., Achlya sp. gây ra. Bệnh thường làm
cho cá nổi trái phát triển thành dạng như múi bông trên da và vây. Bệnh
thường xảy ra khi nhiệt độ thấp, cá bị tổn thương trên da.
Bệnh do nấm Branchiomyces sp. và Achlya sp. gây ra trên cá bóp với các dấu
hiệu như: cá bơi nổi trên mặt nước, nắp mang đóng mở liên tục, có các vết đỏ
và trắng ở mang. Bệnh xuất hiện khi nhiệt độ nước thấp, chất hữu cơ trong
môi trường nuôi nhiều (Viên Đại Phúc, 2008).
2.4.4. Bệnh do virus
Bệnh do virus là một trở ngại lớn đối với ngành thủy sản nói chung, nghề nuôi
lồng biển nói riêng vì thiệt hại do chúng gây ra, bệnh virus ở cá biển nuôi lồng
đã được báo cáo ở Đông Á từ những năm 1980 và các nước Đông Nam Á từ
những năm 1990 (Viên Đại Phúc, 2011) với các bệnh sau:
Bệnh khối u tế bào Lympho:
Theo nghiên cứu Leaño et al. (2008), Lymphocytics là tác nhân gây hại cho cá
bóp ở giai đoạn cá giống, gây thiệt hại lớn, cá bệnh thường xuất hiện khối u ở
vây ngực, quản lý thức ăn sẻ giảm tỷ lệ chết cho cá.
Lymphocytics do Iridovirus lớn nhất trong giống này gây ra. Iridovirus có acid
nhân là AND sợi kép, phía ngoài thể virus có cấu trúc hình khối đa diện đều
(20 mặt) (A Siwicki et al., 2001). Iridovirus có lõi đặc biệt, nhân của thể virus
thấy rõ các ống giống như vòng nhẫn và trên bề mặi của thể virus có các
Capsis giống như các mấu (Madeley et al., 1978).
Theo Bùi Quang Tề (2008), bệnh gây ra các dấu hiệu bên trong như: Xuất hiện
PHẦN III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm tiến hành thu mẫu và nghiên cứu: Quần đảo Nam Du, huyện Kiên
Hải, tỉnh Kiên Giang
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Kiên Giang, Quần đảo Nam Du (khoanh tròn màu đỏ) là
địa điểm tiến hành nghiên cứu.
Thời gian tiến hành từ tháng 8/2013-12/2013
3.2. Vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Dụng cụ sử dụng trong nghiên cứu
Dụng cụ gồm tủ cấy, tủ ấm, tủ sấy, tủ đông, máy tiệt trùng, máy vortex, bộ
tiểu phẫu, que cấy vi sinh, đèn cồn, đĩa petri, ống nghiệm, kính hiển vi, kính
lúp, cân điện tử, máy chụp ảnh, lame, lamelle, bình xịt cồn, găng tay, khẩu
trang, khay nhựa và một số dụng cụ khác.
3.2.2. Hóa chất và môi trường trong nghiên cứu
Hóa chất: nước muối sinh lý 0,85%, nước cất, cồn tuyệt đối, cồn 70%, bộ hóa
13
chất nhuộm Gram, thuốc thử oxidase, thuốc thử catalase, môi trường O/F,
glucose, parafin,…
Môi trường nuôi cấy vi khuẩn Thiosulfate Citrate Bile Salts agar (TCBS).
Môi trường nuôi vi khuẩn Brain-Heart-Infusion agar (BHIA) và Brain Heart-
Infusion broth (BHIB) (bổ sung 1.5% NaCl), môi trường nuôi cấy nấm PGYA.
3.3. Thu thập thông tin
Điều tra tình hình bệnh trên cá bóp của nông hộ qua số liệu thứ cấp và số liệu
sơ cấp:
Số liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ các báo cáo của Ủy ban nhân dân
(UBND), Chi Cục Nuôi Trồng Thủy Sản, Cục Thú Y, tỉnh Kiên Giang, qua
các báo cáo của địa phương về tình hình nuôi trồng, tình hình bệnh, những
mang cho vào đĩa lồng có chứa nước muối sinh lý, quan sát dưới kính lúp tìm
KST có kích thước lớn, hoặc cạo nhớt trên cung mang ép tiêu bản quan sát
dưới kính hiển vi tìm KST kích thước nhỏ.
Phương pháp nghiên cứu nội ký sinh: Cá sau khi mổ được tách rời các cơ
quan, quan sát ký sinh trùng trong ruột, gan, thận, tỳ tạng,…
Muốn biết mức độ nhiễm KST cần phải xác định số lượng KST đã kiểm tra.
Mức độ nhiễm KST được đặc trưng bằng 2 đại lượng: Tỷ lệ nhiễm (TLN) và
cường độ nhiễm (CĐN) (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007).
Xác định tỷ lệ nhiễm:
Tỷ lệ nhiễm =
Xác định cường độ nhiễm (CĐN):
CĐN (số trùng/lame) =
3.7. Phương pháp phân lập và định danh vi khuẩn
Phương pháp phân lập vi khuẩn
Trước khi giải phẫu cá phải được giết chết bằng cách hủy não. Đặt cá trên
khay sạch và cân trọng lượng. Quan sát bằng mắt thường, ghi nhận lại các dấu
hiệu như vết thương, điểm xuất huyết, mùi và các triệu chứng của cá bệnh.
Phân lập vi khuẩn từ vết thương: sử dụng cồn 70% sát trùng mặt ngoài của cá
và lau sạch, dùng dao đã tiệt trùng vạch một đường ở vết thương. Sau đó dùng
que cấy lấy mẫu bệnh phẩm từ điểm vừa rạch và cấy trên môi trường BHIA
(bổ sung 1,5% NaCl) và TCBS.
Phân lập vi khuẩn từ gan, thận, tỳ tạng: Dùng dao kéo đã tiệt trùng để mổ cá.
Khi mổ cá tránh làm vỡ các cơ quan nội tạng, lấy dao mổ rạch một đường trên
gan, dùng que cấy để lấy mẫu bệnh phẩm và cấy trên môi trường TCBS và
BHIA (Bổ sung 1,5% NaCl). Lấy mẫu bệnh phẩm trên não, thận, tỳ tạng cũng
Số lượng cá nhiễm KST
Tổng số cá kiểm tra
X 100
Tổng số trùng trong 3 lame kiểm tra
3 3.8. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được kiểm tra mã hóa. Các số liệu thu thập được tính toán bằng phần
mềm excel và word.
Mẫu bệnh phẩm
(não, gan, thận, tỳ tạng)
Nuôi cấy phân lập trên các loại
môi trường (BHIA, TCBS)
Phết mô và nhuộm
Wright-Giemsa
Kiểm tra đặc điểm hình thái, tiến hành tách ròng, nuôi cây thuần chủng
và lưu trữ.
Nhuộm Gram, quan sát tính di
động
Kiểm tra các chỉ tiêu cơ bản:
Catalase, Oxydase, OF, tính di
động
Định danh vi khuẩn dựa vào hệ thống phân loại và các nghiên cứu trước
Hình 3.2: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu vi khuẩn từ cá bệnh
Ủ 28
0
C sau 24-48h
16
PHẦN IV
KẾT QUẢ THẢO LUẬN