so sánh khả năng kháng khuẩn của các dòng lược vàng (callisia fragrans lindl.) - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

VÕ HỮU VUI SO SÁNH KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN
CỦA CÁC DÒNG LƯỢC VÀNG
(Callisia fragrans Lindl.)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y

Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y


Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào cùng cấp khác trước đó.
Sinh viên thực hiện Võ Hữu Vui
iii

LỜI CẢM TẠ

Để đạt được thành tựu như ngày hôm nay, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản
thân còn có sự giúp đỡ vô cùng quan trọng của gia đình, thầy cô và bạn bè.
Con xin chân thành gửi đến cha mẹ lòng biết ơn sâu sắc, những người đã
vượt qua bao nhiêu khó nhọc để nuôi con khôn lớn và đã luôn an ủi động viên

2.1.4 Bộ phận dùng 3
2.1.5 Thành phần hóa học 3
2.1.6 Tác dụng dược lý 4
2.1.7 Công dụng 5
2.2 Các loại vi khuẩn dùng trong thí nghiệm 5
2.2.1 Nhóm vi khuẩn Gram dương 5
2.2.2 Nhóm vi khuẩn Gram âm 8
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
3.3 Phương tiện nghiên cứu 18
3.3.1 Nguyên liệu 18
3.3.2 Thiết bị, dụng cụ, hóa chất chính 18
3.3.3 Vi khuẩn thí nghiệm 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Điều chế cao thô 19
3.4.2 Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cây Lược vàng 20
3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 24
4.1 Kết quả chiết xuất của 4 dòng Lược vàng 24
4.2 Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với vi khuẩn của 4 dòng Lược vàng 24
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Đề nghị 29
KHẢO TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ CHƯƠNG 34 v


RAPD Random Amplified Polymorphic DNA

vi

DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
4.1
4.2
4.3
4.4

Hiệu suất chiết xuất cao 4 dòng Lược vàng
So sánh nồng độ ức chế tối thiểu của cao lá các dòng Lược vàng
So sánh khả năng kháng khuẩn của các dòng Lược vàng
So sánh khả năng kháng khuẩn của cao Lược vàng trên các chủng
vi khuẩn thử nghiệm.
24
25
26
27

vii

DANH MỤC HÌNH


coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella spp, Aeromonas hydrophila,
Edwardsiella ictaluri, Edwardsiella tarda được thực hiện bằng cách sấy khô lá 4
dòng cây Lược vàng và được li trích riêng bằng methanol trong 5 ngày (lần 1: 3
ngày, lần 2 và 3: cách nhau 1 ngày) và dùng phương pháp pha loãng trong thạch
(xác định nồng độ ức chế tối thiểu MIC) để thử khả năng kháng khuẩn của cao
thô. Kết quả cho thấy hiệu suất chiết xuất cao của 4 dòng Lược vàng chênh lệch
nhau không đáng kể (nhóm LV1 là 1,67%, nhóm LV2 là 1,05%, nhóm LV3 là
1,43%, nhóm LV4 là 1,0). Về khả năng kháng khuẩn: đối với Staphylococcus
aureus cả 4 dòng cao Lược vàng có hoạt tính kháng khuẩn tốt nhất với 512 μg/ml
≤ MIC ≤ 1024 μg/ml, trong đó đạt hiệu quả cao nhất với MIC= 512 μg/ml là
dòng LV1, LV3 và LV4. Trên 3 chủng Strep. faecalis, Pseu. aeruginosa, Aero.
hydrophila hoạt tính kháng khuẩn của 4 dòng cao Lược vàng là như nhau (2048
μg/ml ≤ MIC ≤ 4096 μg/ml). Trên 2 chủng E. coli và Samonella spp thì hoạt tính
kháng khuẩn của 4 dòng cao Lược vàng không có hiệu quả tốt, ở nồng độ MIC=
4096 μg/ml vẫn không ức chế được 2 chủng vi khuẩn này. Trên 2 chủng gây
bệnh trên cá Ed. tarda và Ed. ictaluri thì hoạt tính kháng khuẩn của 4 dòng Lược
vàng là khá tốt (1024 µg/ml ≤ MIC ≤ 2048 μg/ml) và đạt hiệu quả tốt nhất với
dòng LV1 (MIC=1024 µg/ml) .Với các kết quả thu được như trên, sau khi được
xử lý thống kê chúng tôi nhận thấy dòng LV4 là có khả năng kháng khuẩn tốt
nhất trong 4 dòng Lược vàng được khảo sát.
Từ khóa: cây Lược vàng, khả năng kháng khuẩn.
1

CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội ngày nay dân số mỗi lúc càng đông, khoa học kĩ thuật phát
triển không ngừng thì bên cạnh đó thì bệnh tật cũng phát triển đa dạng và theo
hướng khó điều trị và chẩn đoán hơn. Phần lớn các bệnh hiện nay được điều trị
bằng thuốc tây y, mặc dù có hiệu quả khá tích cực nhưng cũng mang lại nhiều rủi
ro do hiện tượng kháng thuốc, sốc thuốc và nhiều tác dụng phụ khác khi sử dụng.


2.1 Giới thiệu cây Lược vàng

Hình 1: Cây Lược vàng
( />luoc-vang/)
2.1.1 Phân loại
Tên khoa học: Callisia fragrans Lindl.
Tên khác: (địa) lan vòi, lan rũ, cây bạch tuộc, trái lá phất dũ, giả khóm.
Họ: Thài lài (commelinaceae).
2.1.2 Mô tả đặc điểm
Cây thảo, sống lâu năm. Thân đứng cao từ 15-40cm, có thân bò ngang trên
mặt đất. Thân chia đốt và có nhánh. Đốt ở phía thân dưới dài từ 1-2 cm, ở nhánh
trên có thể dài tới 10 cm.
Lá đơn, mọc so le, phiến lá thuông hình ngọn giáo (15-20 cm x 4-6 cm), bề
mặt nhẵn, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới, mọng nước. Bẹ lá ôm khít thân, mép
lá nguyên, thường có màu vàng khi về già. Gân lá song song. Lá thường có màu
tím ở những nơi cây có nhiều ánh sáng.
3

Hoa hợp thành xim, sắp xếp ở ngọn một trục dài và cong thành chum. Cụm
hoa không cuốn, gồm 6-12 bông. Hoa màu trắng, cuống hoa dài 1mm. Lá bắc
ngoài cụm hoa hình vỏ trấu (1 cm x 1 cm), màu vàng. Lá bắc ngoài có hình lòng
thuyền, kích thước 1,5 mm x 3 mm, phần dưới trắng, phần trên xanh, mép lá
nguyên. Đài 3, hình trứng, rời nhau (3 cm x 1,5 cm). Phần dưới xanh, phần trên
có màu tím, mép nguyên, có lông mịn phía dưới. Tràng 3, hình trứng kích thước
khoảng 1 mm x 2,5 mm, màu trắng, mép nguyên. Nhị 6, rời, chỉ nhị dài khoảng
1,5 mm, phần dưới đính vào cánh hoa, bao phấn hình hạt đậu, kích thước 1/3 x
1/4 mm, đính vào 2 bên trung đới. Bầu trên 3 ô, cao khoảng 0,5 mm, vòi nhụy
hình trụ, dài khoảng 1,5 mm, núm nhụy hình chổi. ( />thuoc-vi-thuoc/278-cay-thuoc-vi-thuoc/992-luoc-vang.html)
2.1.3 Phân bố, sinh thái

Cây Lược vàng đã được sử dụng rất rộng rãi ở Nga, Việt Nam hỗ trợ và
chữa trị nhiều bệnh như ung thư, bỏng, viêm nhiễm, lao phổi, bệnh tim mạch
nhưng tác dụng dược lý của cây này chưa được nghiên cứu nhiều (Chemenko et
al., 2007; Shantanova et al., 2008). Gần đây, một nghiên cứu ở Viện Dược liệu
đã chỉ ra rằng với liều 50 g lá tươi/kg thể trọng, Lược vàng không có tác dụng
chống viêm nhưng có khả năng kháng vi khuẩn Staphylococcus aureus. Cao chiết
Lược vàng gây chết chuột ở liều tương đương 2100-3000 g dược liệu tươi/kg thể
trọng. Liều gây chết 50% số chuột là 2430 g dược liệu tươi/kg thể trọng (Trịnh
Thị Điệp, 2008).
Theo Susan et al., (2006) kháng thể IgE trong huyết thanh của chó có thể
xảy ra sốc phản vệ khi tiếp xúc với nhựa cây Lược vàng. Bằng phương pháp
SDS-PAGE (Sodium dodecyl sulfate-polyacrylamide gel) chiết lấy dịch chiết của
lá, hoa khi cho tiếp xúc với huyết thanh chó (huyết thanh này không có tiền sử,
dấu hiệu dị ứng của kháng thể IgE với dịch chiết này). Kết quả không xảy ra sự
quá mẫn trực tiếp từ nhựa của lá nhưng nếu pha loãng huyết thanh 1:200 thì
huyết thanh chó gây chứng sốc phản vệ khi tiếp xúc với chất nhựa này. Theo
Khoi et al., (2011) đánh giá hiệu quả từ dịch chiết của lá và thân cây Lược vàng
gây ức chế hệ thống miễn dịch induced cyclophosphamid trên chuột. Sử dụng với
các liều 0,1 g/kg, 0,4 g/kg, 0,023 g/kg và 0,092 g/kg mỗi ngày trong 9 ngày. Tất
cả đều kích thích sinh miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào với việc gia tăng
trọng lượng của lách và tuyến ức, số lượng các tế bào bạch cầu đồng thời phục
hồi sự suy giảm miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào.
Tuy nhiên, các nhà khoa học Nga nhận thấy Lược vàng cũng có tác dụng
phụ như: gây tổn thương thanh quản, dị ứng nổi ban đỏ, phù nề tứ chi, phù toàn
thân,…Các phản ứng phụ đó hay gặp nhất ở những người có khả năng miễn dịch
yếu và cơ địa dị ứng. Chính những nhược điểm đó đã hạn chế việc mở rộng ứng
dụng Lược vàng trên lâm sàng, cây thuốc này không thấy đề cập trong các sách y
học dân tộc hay các sách tra cứu lớn về thảo dược ở Nga và xuất bản trong thời
Liên Xô cũ. Mặc dù hiện nay cây Lược vàng được quan tâm nhiều nhưng có rất ít
công trình khoa học được đăng trên các tạp chí khoa học. Thông tin về thành

Loài: Aureus. Hiện tại có 32 loài.
(Merchant and Packer, 1967).
Tụ cầu khuẩn là các cầu khuẩn Gram dương không tạo nha bào, có đường
kính 0,7-1 µm, không di động và sắp xếp theo mọi hướng và thường tạo thành
cụm (tụ) trông giống như chùm nho, là một loại vi khuẩn sinh mủ điển hình, vết
thương mưng mủ gây những chứng viêm có mủ, một số trường hợp chuyển sang
6

chứng huyết nhiễm mủ và bại huyết. Da và niêm mạc của người và động vật là
nơi khu trú chủ yếu của tụ cầu khuẩn (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977). Sta. aureus là
loại gây bệnh thường hay gặp nhất, nó có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với y
học và thú y học. Khoảng 30% người khỏe mạnh mang Sta. aureus ở trên da và
niêm mạc, khi có những tổn thương ở da và niêm mạc hoặc những rối loạn về
chức năng thì các nhiễm trùng do Sta. aureus dễ dàng xuất hiện. Sta. aureus là
nguyên nhân gây viêm xoang, viêm amydale, viêm vú cho người (Trần Thị Phận,
2004).
Nhiệt độ thích hợp để phát triển của tụ cầu khuẩn từ 32-37
o
C, pH thích hợp
7,2-7,6. Sau 12-24 giờ khuẩn lạc tròn đường kính 2-4 mm, màu trắng, vàng, vàng
chanh, hơi ướt. Phần lớn khuẩn lạc có màu vàng thẫm (Nguyễn Vĩnh Phước,
1977).
Vi khuẩn không có nha bào nên đối với tác nhân lí hóa đề kháng kém. Nhiệt
độ 70
o
C diệt vi khuẩn trong môi trường 1 giờ, 80
o
C làm chết vi khuẩn trong 10-
30 phút, đun sôi 100
o

kém hoặc tổ chức bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh. Vi khuẩn có thể
gây những ổ mủ ở ngoài da, niêm mạc. Một số trường hợp vi khuẩn vào máu gây
nhiễm khuẩn huyết, huyết nhiễm mủ. Ngoài ra, ở người còn thấy độc tố ruột do tụ
cầu tiết ra gây nên nhiễm độc thức ăn và viêm ruột cấp tính (Nguyễn Như Thanh
và ctv., 1997). Trong tự nhiên, ngựa cảm nhiễm nhất rồi đến chó, bò, heo, cừu.
Gia cầm có sức đề kháng cao với tụ cầu khuẩn (Lưu Hữu Mãnh, 2010).
2.2.1.2 Vi khuẩn Streptococcus faecalis (S. faecalis)
Streptococcus faecalis thuộc họ Enterococceace, sống chủ yếu trong ruột
của con người, vật nuôi. Ở động vật liên cầu thường gây những chứng mưng mủ,
những bệnh biến chung hay cục bộ như viêm vú (Nguyễn Như Thanh và ctv.,
1997).
Theo Trần Thị Phận (2004), liên cầu khuẩn gram dương, hiếu khí hoặc vi
hiếu khí, phát triển tốt trên môi trường có huyết thanh và máu. Liên cầu khuẩn có
hình cầu hoặc bầu dục, xếp thành chuỗi, uốn khúc, dài ngắn khác nhau, đường
kính có khi đến 1 µm, đôi khi có vỏ, bắt màu Gram dương, không di động. Chiều
dài của chuỗi tùy thuộc vào điều kiện môi trường (Lưu Hữu Mãnh, 2010).
Hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc tốt ở tất cả môi trường. Phần lớn
các liên cầu gây bệnh thích hợp ở 37
o
C. Môi trường thạch thường sau 24 giờ nuôi
cấy: khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Liên cầu có sức đề kháng kém đối với nhiệt độ và hóa chất. Ở 70
o
C liên cầu
chết trong 35-40 phút, ở 100
o
C chết trong 1 phút. Các chất sát trùng thông thường
dễ tiêu diệt liên cầu (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997).
8


2.2.2.1 Vi khuẩn Escherichia coli (E. coli)
Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaeceae. Được xem là nguyên nhân
gây bệnh tiêu chảy ở người và động vật.
9

E. coli là một trực khuẩn Gram âm hình gậy ngắn, kích thước 2-3 x 0,6 µm,
hai đầu tròn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông ở chung quanh
thân nên có thể di động, không hình thành nha bào, thỉnh thoảng thấy hiện tượng
bắt màu ở 2 đầu. E. coli thường ở phần dạ dày ruột của heo nhưng gây bệnh
đường ruột và ngoài đường ruột ở heo (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Theo Merchant and Packer (1967) và Nguyễn Vĩnh Phước (1977), trực
khuẩn hiếu khí và hiếu khí tùy tiện có thể sinh trưởng ở nhiệt độ từ 15 đến 24
o
C,
nhiệt độ thích hợp 37
o
C, pH thích hợp 7,4. Nhưng sự tăng trưởng có thể xảy ra
trong khoảng 15
o
C đến 45
o
C. Phát triển tốt nhất ở mật độ pH = 7 nhưng phát triển
trong phạm vi pH rộng hơn. E. coli không sinh nha bào, chịu được nhiệt độ đun
55
o
C trong 1 giờ, 60
o
C trong 30 phút và 100
o
C chết ngay. Các chất sát trùng

da cho chuột bạch, chuột lang, thỏ có thể gây viêm cục bộ, nếu tiêm liều cao có
sinh ra bại huyết, làm chết con vật. Thường gọi Colibacillois là một bệnh đường
ruột: ngựa, bê, cừu, heo và gia cầm non do E. coli gây ra. Ở người cũng có thể
gây viêm phổi, viêm não, đặc biệt bệnh tiêu chảy ở trẻ em (Nguyễn Thị Chính và
Trương Thị Hòa, 2005). Tính gây bệnh trong ruột, vi khuẩn gắn vào niêm mạc
ruột nhờ tiêm mao, độc tố do vi khuẩn tạo ra được hấp phụ vào niêm mạc ruột.
Độc tố dễ bị nhiệt phá hủy kích thích men adenylcyclase làm biến đổi ATP thành
AMP. Độc tố bền vững với nhiệt làm tăng sự tiết ion Cl

và ức chế sự hấp thu
Na
+
gây mất nước (Lưu Hữu Mãnh, 2010).
Theo nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Minh Trang và ctv. (2011), thực
hiện trên heo con 1-60 ngày tuổi tại tỉnh Trà Vinh đã cho kết quả, vi khuẩn
Escherichia coli nhạy cảm mạnh với imipeneme (97,06%), nhạy cảm tương đối
với gentamycin (46,03%), streptomycin (39,68%), ciprofloxacin (38,97%),
enprofloxacin (32,35%), amoxicllin/clavulanic acid (30,15%). Vi khuẩn đề kháng
cao với nhiều loại kháng sinh gồm tetracycline (97,06%),
trimethoprim/sulphamethoazole (86,51%), colistin (86,51%), florfenicol
(80,95%), streptomycin (60,32%), gentamycin, cephalothin lần lượt là 53,17% và
25%.
Theo Bùi Thị Tho (2003), kết quả kiểm tra tính kháng thuốc của vi khuẩn
phân lập từ heo con bệnh phân trắng của bộ môn Nội Chẩn Dược Độc chất học
trường Đại học Nông nghiệp I (Hà Nội) từ năm 1976 đến nay cho thấy tỷ lệ
kháng thuốc của Escherichia coli đối với chloramphenicol là 25,78%, với
chlortetracycline là 23,21%, với streptomycin và sulphonamide lần lượt là
77,07% , 89,97%.
2.2.2.2 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa)
Trực khuẩn mủ xanh Pseudomonas aeruginosa còn có tên là Pseudomonas

Trong môi trường dinh dưỡng dạng lỏng như NB, TSB, vi khuẩn làm đục
môi trường, hình thành màng và cặn, canh trùng già làm môi trường trở nên nhớt
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Trên môi trường thạch dinh dưỡng như Trypticase Soy Agar (TSA),
Nutrient Agar (NA) khuẩn lạc hơi tròn, rìa không phẳng, trong óng ánh, môi
trường xung quanh khuẩn lạc màu xanh, mùi trái cây (Carter G.R, 1978).
Trên môi trường thạch máu: có dung huyết. Huyết thanh đông: tan chảy một
phần sau 14 ngày và sữa đông, sau đó pepton hoá.
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), Pseudomonas aeruginosa sống rất lâu
trong môi trường nuôi cấy và trong thiên nhiên, bị diệt sau khi đun 55
0
C trong 2
12

giờ và chết nhanh chóng ở 100
0
C. Theo Lê Huy Chính (2007), trong môi trường
ẩm, thoáng, không có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, chúng sống được hàng
tuần. Trong môi trường có dinh dưỡng tối thiểu, ở 5
0
C chúng có thể sống hơn 6
tháng
Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn duy nhất tiết ra pyocyanin. Vì vậy bất
cứ trực khuẩn gram âm nào tiết ra pyocyanin chính là Pseudomonas aeruginosa
(Botzenhart and Ruden, 1987).
Pseudomonas aeruginosa có được tính kháng thuốc cao là do cấu tạo của
màng tế bào làm giảm khả năng thấm của kháng sinh vào bên trong tế bào của vi
khuẩn, một yếu tố khác là do Pseudomonas aeruginosa có mang plasmid – R có
khả năng truyền gen kháng thuốc qua trung gian plasmid (Lê Huy Chính, 2007).
Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn kháng thuốc phổ biến, do đó là một

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), vi khuẩn có sức đề kháng yếu với nhiệt
độ, bị tiêu diệt ở nhiệt độ 60
0
C trong 1 giờ, 70
0
C bị diệt trong 20 phút, 75
0
C trong
5 phút. Ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn trong nước sau 5 giờ,
trong nước đục sau 9 giờ. Các chất sát trùng thông thường cũng diệt vi khuẩn
hoàn toàn: phenol 5%, formol 2% diệt vi khuẩn trong 15–20 phút. Salmonella spp
có thể tồn tại trong nước, nước thải, phân gia súc – gia cầm, thực phẩm, thức ăn
gia súc một thời gian dài. Trong xác động vật chết có thể sống 100 ngày, trong
đất bùn hoặc cát khô. Trong thịt ướp muối nồng độ 29%, ở nhiệt độ 6 – 12
0
C có
thể sống từ 4 – 8 tháng.
Theo Bùi Thị Tho (2003), Salmonella spp có tỷ lệ kháng thuốc với nhiều
loại kháng sinh: tetracycline và nalidixic acid (82,4%), amoxicillin (76,5%),
sulfonamide (64,7%), chloramphenicol (58,8%), cotrimoxazole/bactrim (52,9%),
kháng thấp với cefoxitine (5,9%), gentamycin và cephalothin (23,5%).
Theo Trần Thị Phận và ctv. (2004), từ tháng 12 năm 2000 đến tháng 4 năm
2004 ở Tân Phú Thạnh, thành phố Cần Thơ trong 30 chủng Salmonella có 11
chủng đề kháng với kháng sinh chiếm 36,6%, trong đó 7 chủng kháng với 1 loại
kháng sinh và 4 chủng kháng với 2 loại kháng sinh. Tỷ lệ kháng ampicillin
(54,5%), chloramphenicol (36%), tetracycline (36%), cephalexin (9%).
Tính sinh độc tố: Salmonella tiết ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại
độc tố (Koupal, 1997).
Tính gây bệnh: tính gây bệnh trên con vật còn phụ thuộc vào độc lực của
chủng vi khuẩn Salmonella, sức đề kháng của cơ thể ký chủ, số lượng mầm bệnh

khuẩn lạc tròn, rìa đều hơi lồi, ướt, nhẵn bóng, màu vàng rất nhạt (Từ Thanh
Dung và ctv., 2005). Khuẩn lạc màu kem, tròn, lớn lên, đường kính từ 2-3 mm
phát triển trong vòng 48 giờ ở 25°C (Austin and Austin, 1993).
Sức đề kháng: Aeromonas hydrophila kháng nhiều kháng sinh mạnh như
ampicillin (100%), tetracycline (26%), oxacillin (100%), bacitracin (100%),
streptomycin (26%), clindamycin (43%), nalidixic acid (26%), novobiocin
(87%), rifampicin (4%), vancomycin (9%) (Orozoval et al., 2008).
A. hydrophila có khả năng sinh các độc tố như: độc tố đường ruột
(enterotoxins), dung huyết (hemolysins), phân giải protein (proteinase), độc tố
gây hoại tử da (dermonecrotic), đông máu (haemagglutinins) và nội độc tố
(endotoxin) (Cahill, 1990).
Theo Bùi Quang Tề và ctv. (2004), ở Việt Nam cá nuôi lồng, bè và ao hồ
nước ngọt đều có thể bị bệnh đốm đỏ do A. hydrophila như: trắm cỏ, cá trôi, cá
chép, cá mè, cá basa, cá bống tượng, tôm càng xanh,…tỷ lệ tử vong ở động vật
thủy sản thường 30-70%, nhưng ở giai đoạn giống của cá trê, basa có thể là
15

100%. Theo Josh Martin (2004), ở người vi khuẩn được lây truyền qua đường
miệng do tiếp xúc với thức ăn, nước uống, chất thải, phân bị nhiễm khuẩn hoặc
do ăn phải cá hay bò sát bị nhiễm bệnh và xâm nhập qua vết thương hở trong môi
trường nước có sự hiện diện của vi khuẩn. Thời kỳ đầu người bệnh sốt và cảm
lạnh. Sau đó vết thương bị nhiễm trùng gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy… Nếu
điều trị kịp thời với thuốc thích hợp thì kết quả rất tốt. Trường hợp nặng hơn
thường phải cắt bỏ vùng mô bị nhiễm trùng. Khi điều trị có thể sử dụng một số
kháng sinh như: chloramphenicol và tetracycline. ()
2.2.2.5 Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri (E. ictaluri)
Giống Edwardsiella ictaluri thuộc họ Enterobacteriaceae, bộ
Enterobacteriales, lớp Gammaproteobacteria, ngành Proteobacteria, được công
bố 1981 (Hawke et al., 1981). E. ictaluri là tác nhân chính gây bệnh gan thận mủ
trên cá tra Việt Nam, chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (Từ Thanh

vùng hẹp xung quanh khuẩn lạc.
Edwardsiella ictaluri có khả năng tồn tại ở môi trường pH khoảng 3-4, di
động ở 25
o
C và phát triển được ở độ muối 1,5%, vi khuẩn có khả năng đề kháng
tác động của muối mật. Tuy nhiên, khả năng chịu đựng nồng độ muối cao lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status