ảnh hưởng của mật độ tảo chlorella sp đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bóp (rachycentron canadum) bột ương trong bể - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN TUẤN CƯỜNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TẢO Chlorella sp ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA
CÁ BÓP (Rachycentron canadum) BỘT ƯƠNG TRONG BỂ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS.Ts Trần Ngọc Hải
Ts. Lý Văn Khánh

2013

1
LỜI CẢM TẠ

Qua thời gian học tập tại trƣờng, tại Khoa Thủy sản trƣờng Đại học
Cần Thơ, em đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy, Cô ở trƣờng và
các anh chị ở bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản chính vào sự giúp đỡ đó đã giúp
em hoàn thành tốt đề tài và báo cáo của mình.
Nhân đây em xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Thủy sản nói
chung, em xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Ngọc Hải, Thầy Lý Văn Khánh
và Thầy Lê Quốc Việt đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ và cho em nhiều kinh
nghiệm quý báu trong suốt thời gian em làm đề tài và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này. Cám ơn các cán bộ và các anh em trong Trung Tâm Khuyến Nông

Chông - Trung tâm Khuyến Ngƣ Kiên Giang trong 13 bể có thể tích 1 m
3
với
mật độ tảo Chlorella sp là 0,25 triệu tế bào/mL, ở mật độ 8 con/lít, độ mặn
28‰ và đƣợc sục khí liên tục. Thời gian ƣơng 14 ngày. Kết quả sau 14 ngày
ƣơng đạt tỷ lệ sống cao nhất là 11,9 %, chiều dài và tốc độ tăng trƣởng của cá
đạt trung bình 12,3 mm/con và 0,66 mm/ngày (9,84 %/ngày). Mật độ tảo
Chlorella sp 0,25 triệu tế bào/mL phù hợp cho ƣơng cá bóp bột.

3
DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1: Sự biến động nhiệt độ, pH trong quá trình thí nghiệm 15
Bảng 4.2: Sự biến động NH
3
/NH
4
và NO
2
-
trong quá trình thí nghiệm 15
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trƣởng của cá ƣơng ở mật độ tảo khác nhau 17
Bảng 4.4: Hệ số biến động (CV) về chiều dài của cá sau 10 ngày ƣơng 18
Bảng 4.5: Nhiệt độ và pH ở các bể ƣơng cá bột 19
Bảng 4.6: Các yếu tố thủy hóa ở các bể ƣơng cá bột 19
Bảng 4.7: Tốc độ tăng trƣởng về chiều dài của cá sau 14 ngày ƣơng 21
Bảng 4.8: Hệ số biến động CV về chiều dài của cá sau 14 ngày ƣơng 22
2.1. Đặc điểm sinh học cá bóp 9
2.1.1. Phân loại 9
2.1.2. Đặc điểm phân bố 9
2.1.3. Hình thái 10
2.1.4. Đặc điểm dinh dƣỡng 10
2.1.5. Đặc điểm sinh trƣởng 10
2.1.6. Đặc điểm về sinh sản 10
2.2. Tình hình sản xuất giống cá bóp trên thế giới và ở Việt Nam 11
2.2.1. Trên thế giới 11
2.2.2. Trong nƣớc 12
CHƢƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.1.1. Thời gian 15
3.1.2. Địa điểm 15
3.2. Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu 15
3.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 15
3.2.2. Vật liệu nghiên cứu 15
3.2.3. Chuẩn bị thí nghiệm 15
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 16
3.3.1. Bố trí thí nghiệm: 16
3.3.1.1. Thí nghiệm 1: Ƣơng cá bóp bột với các mật độ tảo Chlorenlla sp khác
nhau 16
3.3.1.1.1 Chăm sóc và quản lý 17
3.3.1.1.2 Các chỉ tiêu theo dõi 17
3.3.1.2 Thí nghiệm 2: Triển khai ƣơng cá bóp bột với các mật độ tảo chlorenlla
sp 0,25 triệu tế bào/mL ở trại Hòn Chông – Trung tâm Khuyến Ngƣ Kiên Giang
19
3.3.1.2.1 Chăm sóc và quản lý 19
3.3.1.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 20
3.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu 21

7
Chƣơng 1: ĐẶT VẤN ĐỀ


đƣợc nguồn giống cá mặn/lợ. Mặc dù nghề nuôi cá biển của Việt Nam phát
triển mạnh trong những năm gần đây và đòi hỏi một số lƣợng lớn con giống có
chất lƣợng cao để đáp ứng cho yêu cầu của ngƣời nuôi nhƣng việc sản xuất
giống các đối tƣợng biển còn rất hạn chế nên nghề nuôi vẫn còn phụ thuộc rất
nhiều vào nguồn giống tự nhiên. Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Ảnh
hƣởng của mật độ tảo Chlorenlla sp đến tăng trƣởng và tỷ lệ sống của cá
bóp (Rachycentron canadum) bột ƣơng trong bể” đƣợc thực hiện.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm xác định mật độ tảo phù hợp trong ƣơng cá bóp bột, để nâng cao tỷ lệ
sống và sức tăng trƣởng của cá bóp bột góp phần hoàn chỉnh quy trình ƣơng
nhằm ứng dụng kết quả vào thực tiển sản xuất.

8
1.3. Nội dung nghiên cứu
Theo dõi tăng trƣởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bóp khi ƣơng có bổ sung
tảo với các mật độ khác nhau.
Theo dõi tăng trƣởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bóp khi triển khai ƣơng với
mật độ tảo thích hợp. 9
Chƣơng 2: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Đặc điểm sinh học cá bóp
2.1.1. Phân loại
Cá bóp là loài đại diện duy nhất thuộc họ Rachycentridae. Theo hệ thống
phân loại của Linnaeus(1766), cá bóp đƣợc phân loại nhƣ sau:
Ngành: Chordate
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes

trên. Lƣng và hai bên lƣng có màu nâu sẫm. Có 2 sọc hẹp màu trắng hai bên
thân và một sọc đen ở đƣờng bên kéo dài từ miệng đến đuôi và mở rộng ở mắt.
Đƣờng màu đen thể hiện rất rõ ở giai đoạn cá giống, nhƣng có xu hƣớng mờ ở
cá trƣởng thành (Shaffer and Nakamura, 1989)
Vẩy cá nhỏ và sát vào da,vây lƣng phía trƣớc có các gai ngắn riêng rẽ có 7 – 9
gai lƣng và 28 -33 tia vi, vây hậu môn có từ 1 -3 gai cứng và 23 – 27 tia vi, có
thân hình thon dài và chiều dài bằng 5,5-7,5 lần chiều cao.
2.1.4. Đặc điểm dinh dƣỡng
Cá bóp là loài cá ăn thịt, thức ăn là cá tạp,cua, giáp xác và một số loài
động vật sống ở biển. Cá bóp là loài ăn động vật nên cần hàm lƣợng protein
trong khẩu phần cao và thức ăn công nghiệp thích hợp cho tăng trƣởng của cá
phải có hàm lƣợng protein cao (45%) (Chou et al., 2001).
Trong suốt quá trình nuôi ấu trùng cá bóp dùng các loại thức ăn nhƣ: tảo
Isocrysis sp, luân trùng Brachionus picatilis, artemia ở giai đoạn đầu. Sử dụng
kỹ thuật nƣớc xanh để nuôi ấu trùng trong giai đoạn cho ăn luân trùng từ 3- 8
ngày tuổi. Từ ngày tuổi thứ 11 thi bắt đầu tập dần cho cá ăn thức ăn công
nghiệp, khi cá ở 20 ngày tuổi thì chỉ dùng thức ăn công nghiệp để ƣơng cá và
ở giai đoạn này cá có sự phân đàn. Sau 35 ngày tuổi thì chuyển sang nuôi
thƣơng phẩm (Ngô Trọng Lƣ, Thái Bá Hồ và Nguyễn Kim Độ, 2004).
2.1.5. Đặc điểm sinh trƣởng
Sinh trƣởng của cá là quá trình gia tăng về kích thƣớc và tích lũy thêm về
khối lƣợng cơ thể trong sự thay đổi đều đặn của cá và quá trình này đặc trƣng
cho mỗi loài cá và thể hiện qua mối tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng
của cá (Nikolski, 1963)
Cá bóp là loài có kích thƣớc lớn, trong tự nhiên cá sinh trƣởng nhanh, cá
có thể đạt 3-5 kg sau 1 năm nuôi, con cái thƣờng lớn nhanh và đạt cỡ lớn hơn
so với con đực, cá có thể đạt kích cỡ lớn 2m và nặng 68 kg (Nhu et al, 2011).
Cá bóp tăng trƣởng nhanh về chiều dài trong 2 năm tuổi đầu cho cả cá đực và
cá cái, sau đó cá đực tăng trƣởng chậm hơn cá cái, tốc độ tăng trƣởng của cá
có liên quan đến giới tính. Cá bóp phân hóa giới tính khác nhau giữa tỷ lệ tăng

3 và giảm nhẹ trong giai đoạn 4.
Theo Ngô Trọng Lƣ, Thái Bá Hồ và Nguyễn Kim Độ ( 2004) thì ấu trùng
cá bóp phát triển qua các giai đoạn nhƣ: mở miệng (3 ngày), bắt đầu biến thái
(11 ngày) và xuất hiện sắc tố chuyển sang tập tính bơi sau 18 ngày và kích cỡ
dài 2,5 cm.
2.2. Tình hình sản xuất giống cá bóp trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Trên thế giới
Theo FAO (2009), nghiên cứu cá bóp lần đầu tiên đƣợc báo cáo vào năm
1975 tại Bắc Carolina - Hoa Kỳ với nghiên cứu thu trứng cá từ tự nhiên để ấp
nở, ƣơng ấu trùng và cá con. Nghiên cứu cho thấy đây là loài có tiềm năng rất
lớn cho nuôi trồng thủy sản do lớn nhanh và chất lƣợng thịt cao. Các nghiên
cứu tiếp theo về nuôi vỗ và sinh sản cá bóp đƣợc thực hiện từ những năm 1980
– 1990 ở Hoa Kỳ đến năm 1997 công nghệ nâng tỷ lệ sống của ấu trùng cá
bóp đã đƣợc phát triển ở Đài Loan. Kỹ thuật sản xuất giống cá bóp nhân tạo và
bán nhân tạo cũng đƣợc áp dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ từ 1996, đặc biệt từ năm
2006. Ở các nƣớc Châu Mỹ La tinh cũng phát triển sản xuất giống và nuôi cá
bóp trong lồng.
Ở Đài Loan việc sinh sản nhân tạo cá bóp đƣợc tiến hành lần đầu tiên vào
năm 1992. Kỹ thuật nhân giống với số lƣợng lớn đã đƣợc phát triển vào năm
1997. Loài cá này nhanh chóng trở thành một trong những loài thích hợp nhất
cho ngành nuôi cá lồng xa bờ ở Đài Loan và đƣợc xem là đối tƣợng tiềm năng
cho phát triển nghể nuôi lồng biển của Đài Loan và đƣợc dự báo là bộ phận
quan trọng đối với ngành thuỷ sản của nƣớc này (Nguyễn Quang Huy, 2000).
Ngoài Đài loan, Trung Quốc, cá bóp đã đƣợc nuôi ở Việt nam, Philiphine với
quy mô nhỏ. Ngoài ra ở một số nƣớc khác nhƣ Australia và Mỹ, cá bóp trƣớc
đây vốn chỉ là cá phục vụ thể thao, giải trí nay đã có những dự án nghiên cứu
sản xuất giống và nuôi đối tƣợng này.

12
Faulk et al. (2007) ƣơng cá bớp bột trong hệ thống tuần hoàn với mật độ

Artemia, từ ngày 15 – 20 cho cá ăn Artemia, Copepoda và kết hợp thức ăn
công nghiệp. Khi sử dụng luân trùng và Artemia giàu hóa bằng dầu gan cá và
acid béo HUFA cho cá ăn đều cho thấy tỷ lệ sống cao hơn (5,91% sau 30 ngày
ƣơng) so với thức ăn không giàu hóa. Điều đó cho thấy việc giàu hóa luân
trùng và Artemia là rất quan trọng. Trần Đình Mão và Phạm Đức Hùng,
(2009) đã ƣơng cá bóp giống (với khối lƣợng trung bình 12,69 g ± 0,89) với
các mức thay thế của bột đậu nành khác nhau. Sau 8 tuần ƣơng cho thấy có
khả năng thay thế 80% dầu cá bằng bột đậu nành không làm ảnh hƣởng đến
tăng trƣởng và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá bóp giống. Tốc độ tăng trƣởng
đặc biệt, tỷ lệ sống của cá giống ở nghiệm thức thay thế 40% đạt đƣợc
(4,18%/ngày; 100%), cho thấy sự kết hợp 40% đậu nành và 60% dầu cá sẽ cho
tăng trƣởng tốt hơn khi sử dụng riêng dầu cá hay đậu nành. Cá bóp giống
(18,4 cm; 30,8 g) cũng đƣợc ƣơng trong lồng sử dụng thức ăn viên ẩm với mật
độ 35 con/m
3
. Sau 4 tuần thả ƣơng, tăng trƣởng về chiều dài và khối lƣợng của
cá là 28,8 cm và 181,7 g. Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá thấp (theo khối
lƣợng tƣơi) 1,45, tỷ lệ sống của cá 99,3 ± 0,5%. Điều đó cho thấy cá sử dụng

13
thứ ăn viên ẩm cho tốc độ tăng trƣởng và tỷ lệ sống cao và mang lại hiệu quả
kinh tế (Nguyễn Quang Huy ctv., 2003).
Theo Lê Xân (2005) và Chang (2008), nghiên cứu sản xuất giống và nuôi
cá biển ở nƣớc ta hiện vẫn còn khá mới mẻ, chỉ mới đƣợc bắt đầu từ những
năm 1990. Năm 2005, cả nƣớc chỉ đạt 3.500 tấn cá biển, chủ yếu là cá mú, cá
chẽm, cá hồng, cá bóp,… so với kế hoạch là 38.000 tấn. Năm 2006, cả nƣớc
chỉ sản xuất đƣợc 2 triệu con giống với 6 loài cá biển.
Theo Quyết định số 1523/QĐ-BNN-TCTS của Bộ trƣởng Bộ NN &
PTNT về việc phê duyệt qui hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và
định hƣớng năm 2010. Mục tiêu đến năm 2015, tổng sản lƣợng cá biển nuôi ở

2
.
sau 22-25 ngày ƣơng, có thể cho ấu trùng ăn thức ăn nhân tạo bổ sung.
Đỗ Văn Khƣơng ctv. (2001), đã sử dụng LHRHa để kích thích cá bóp
sinh sản với liều lƣợng 20 µg/kg cá cái và 10 µg/kg cá đực. Sau thời gian 26 –
35 giờ tiêm kích dục tố cá bắt đầu đẻ trứng. Trong năm 1999, đã tiến hành cho
sinh sản 3 cặp cá bóp bố mẹ, 2 cá thể đƣợc tiêm thuốc kích thích LHRHa và
đã đẻ trứng sau 27 giờ. Tổng số trứng thu đƣợc 3.000.000, đạt tỷ lệ thụ tinh
50%. Số cá bột thu đƣợc 1.300.000, đạt tỷ lệ nở rất cao 86,6%. Vào năm 2000
đã chọn đƣợc 3 cặp cá bóp bố mẹ thành thục tốt và cho sinh sản với tổng số

14
trứng thu đƣợc trong đợt sinh sản là 1.550.000, đạt tỷ lệ thụ tinh 85%, đạt tỷ lệ
nở 52% số cá bột thu đƣợc 630.700. Ngoài ra cá bóp cũng đƣợc cho sinh sản
bằng cách phối hợp LHRHa, HCG và DOM để kích thích cá sinh sản. Liều
lƣợng LHRHa tiêm cho con cái từ 5 – 10 µg/kg ở liều sơ bộ và 10 µg/kg ở liều
quyết định kết hợp với 1.000 UI/kg và 10 mg DOM, cá đực có thể dùng
LHRHa hoặc testosteron với liều lƣợng khoảng 20 – 25% tổng lƣợng thuốc
tiêm cho cá cái. Tỷ lệ cá cái rụng trứng khoảng 70%. Trứng cá đƣợc ấp trên
giá thể nilon trong bể composite hoặc xi măng. Tỷ lệ nở 76 – 90% (Trần Văn
Đan, 2005). Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phƣơng, (2006) có thể chọn cá
bóp bố mẹ thu từ tự nhiên hoặc chọn cá có kích cỡ lớn từ nuôi thịt để cho sinh
sản. Chọn cá từ 2 - 3 tuổi, thời gian nuôi vỗ cá từ tháng 2 – 3, cho cá ăn cá tạp,
mực, ghẹ với khẩu phần ăn 4 – 5% trọng lƣợng thân. Đối với cá đực cần bổ
sung 17α – Methyltestosterone khoảng 0,3 – 0,8 mg/kg cá. Cá thành thục kích
thích sinh sản cá bằng LHRHa với liều lƣợng 20 mg/kgcho cá cái, cá đực tiêm
10 mg/kg. Sau 24 – 28 giờ tiêm cá sẽ hiệu ứng thuốc, tỷ lệ đẻ 65 – 75%, tỷ lệ
thụ tinh trung bình đạt 90%. Ấp trứng trong bể ấp với mật độ 2.000 – 3.000
trứng/L. Sau 24 giờ kể từ khi cá đẻ trứng sẽ nở với tỷ lệ nở trung bình 60%.
Cá bóp đƣợc nuôi ở khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh với kích cỡ

bệnh. 15
CHƢƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Thời gian
Đề tài sẽ đƣợc thực hiện từ tháng 09/2013 đến tháng 12/2013
3.1.2. Địa điểm
Đề tài đƣợc bố trí tại trại nƣớc lợ, Khoa Thủy sản-trƣờng Đại học Cần
Thơ và trại Hòn Chông-Trung tâm Khuyến Ngƣ Kiên Giang.
3.2. Đối tƣợng và vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nguồn cá bóp bột từ cá đƣợc cho sinh sản nhân tạo tại đảo Nam Du -
Kiên Giang.
3.2.2. Vật liệu nghiên cứu
Hệ thống bể ƣơng: Gồm 12 bể ƣơng composite có thể tích 500 L/bể, 13
bể bể ƣơng composite có thể tích 1 m
3
/bể và bể chứa nƣớc ót, bể nuôi luân
trùng, bể nuôi tảo cá rô phi, bể ấp Artemia
Dụng cụ trang thiết bị: Máy bơm nƣớc, máy thổi khí, dây sục khí, đá
bọt, thƣớc kẽ, nhiệt kế, khúc xạ kế, buồng đếm, kính hiển vi, lame, cân điện
tử, vợt Artemia, túi lọc vải 1µm, lƣới thực vật phiêu sinh và động vật phiêu
sinh.
Các loại hóa chất và test kiểm tra môi trƣờng nƣớc: Chlorine xử lý
nƣớc, Na
2
S

Luân trùng: Nguồn nƣớc sử dụng trong ƣơng luân trùng là nƣớc có độ
mặn 25‰, đƣợc lọc qua túi vải. Nguồn luân trùng (Brachionus plicatilis) ban
đầu đƣợc lấy từ phòng thí nghiệm nuôi thức ăn tự nhiên, Bộ môn Thủy sinh
học ứng dụng, Khoa Thủy sản của trƣờng Đại học Cần Thơ. Ban đầu luân
trùng đƣợc nuôi trong bể 500 L, sục khí liên tục, cho ăn men bánh mì 4
lần/ngày với liều lƣợng 0,3 – 0,4 g men bánh mì/triệu luân trùng/ngày. Khi
mật độ luân trùng khoảng 1.000 ct/mL, trung bình 70 – 200 ct/mL thì tiến
hành sang luân trùng sang bể 4 m
3
. Định kỳ 3 – 4 ngày siphon 1lần.

Hình 3.1: Bể nuôi luân trùng
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Bố trí thí nghiệm:
3.3.1.1. Thí nghiệm 1: Ƣơng cá bóp bột với các mật độ tảo Chlorenlla sp
khác nhau
Thí nghiệm thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Thủy sản, gồm 4 nghiệm
thức đƣợc bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức đƣợc lặp lại 3 lần với
mật độ tảo Chlorella sp khác nhau:
- Nghiệm thức 1: 0,25 triệu tế bào/mL tảo Chlorella sp
- Nghiệm thức 2: 0,5 triệu tế bào/mL tảo Chlorella sp
- Nghiệm thức 3: 1 triệu tế bào/mL tảo Chlorella sp
- Nghiệm thức 4: 1,5 triệu tế bào/mL tảo Chlorella sp
Hệ thống thí nghiệm gồm 12 bể composite, có thể tích 500 L/bể, ở độ
mặn 30‰ và sục khí liên tục. Cá bóp bột đƣợc bố trí vào bể với mật độ 8
con/lít. Thời gian thí nghiệm 10 ngày. Trƣớc khi bố trí thí nghiệm, cá bóp bột
đƣợc đo ngẫu nhiên 30 con để xác định chiều dài ban đầu cho tất cả các
nghiệm thức.

17

đƣợc đo 3 ngày/lần bằng bộ test hiệu Sera.
Chiều dài cá, tỷ lệ sống và sự phân đàn của cá đƣợc xác định sau 10
ngày ƣơng.
Chiều dài cá đƣợc đo bằng thƣớc kẽ với mỗi vạch tƣơng ứng với 1 mm.
Tăng trƣởng theo chiều dài (mm/con)
LG (mm/con) = Lc – Lđ
Tốc độ tăng trƣởng đặc biệt (%/ngày)
[Ln(Lc) – Ln(Lđ)]
SGR (%/ngày) = x 100
t
Tốc độ tăng trƣởng tuyệt đối (DLG, mm/ngày)
Lc – Lđ
DLG (mm/ngày) =
t
Trong đó:
L
đ
: Chiều dài ban đầu của cá (mm)
L
c
: Chiều dài cuối của cá (mm)
t: Thời gian thí nghiệm (ngày)

18
Tổng số cá thả ban đầu
Tỷ lệ sống của cá (%) = x 100
Tổng

số cá thu đƣợc



Hình 3.3: Hệ thống bể ƣơng cá bóp
3.3.1.2.1 Chăm sóc và quản lý
Ở các nghiệm thức thí nghiệm cá đƣợc cho ăn với các loại thức ăn luân
trùng, Artemia. Luân trùng đƣợc cho ăn từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 10 với mật
độ 3-10 cá thể/mL (cho ăn 3 lần/ngày: 6h00, 12h00 và 18h00); Artemia mới
nở cho ăn từ ngày thứ 7 – 10 với mật độ 0,5 – 3 cá thể/mL (cho ăn 2 lần/ngày:
9h00 và 15h00). Từ ngày thứ 11 đến ngày 14 mật độ Artemia từ 1 – 6 cá
thể/mL và cho ăn 2 lần/ngày (6h00 và 18h00). Luân trùng và Artemia trƣớc
khi cho ăn phải giàu hóa từ 6-12 giờ, giàu hóa bằng DHA selco, vitamin C,
vitamin nhóm B và antibio.
Đối với thực nghiệm bổ sung tảo Chlorella sp thì tảo đƣợc cung cấp
hằng ngày và duy trì theo mật độ của thực nghiệm . Định kỳ 7 ngày siphon và
thay nƣớc, mỗi lần thay 20 – 30% thể tích nƣớc trong bể ƣơng.
Theo dõi các yếu tố môi trƣờng, tăng trƣởng và tỷ lệ sống của cá ƣơng
trong thời gian thí nghiệm. 20

3.3.1.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Các yếu tố nhiệt độ, pH đƣợc đo bằng máy mỗi ngày 2 lần vào lúc 7h
và 14h. Các yếu tố TAN, N-NO
2

số cá thu đƣợc

Độ lệch chuẩn21
Hệ số phân đàn (CV, %) = x 100
Chiều dài trung bình3.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập đƣợc tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
bằng phần mềm Excell, xử lý thống kê Anova 1 nhân tố bằng phần mềm
Statistica 11.0, ở mức ý nghĩa (p < 0,05).


Chiều
0,25 triệu tb/ml
26,2 ± 0,40
28,0 ± 0,60
8,30 ± 0,00
8,30 ± 0,00
0,5 triệu tb/ml
26,2 ± 0,40
27,9 ± 0,60
8,30 ± 0,00
8,40 ± 0,10
1 triệu tb/ml
26,2 ± 0,40
27,9 ± 0,50
8,30 ± 0,00
8,40 ± 0,10
1,5 triệu tb/ml
26,3 ± 0,40
27,9 ± 0,50
8,30 ± 0,00
8,40 ± 0,10
Trong quá trình thí nghiệm nhìn chung pH luôn ổn định giữa các
nghiệm thức chênh lệch không nhiều, buổi sáng pH trung bình 8,30, buổi
chiều pH trung bình dao động (8,30-8,40. Do hằng ngày bổ sung lƣợng tảo
phù hợp với các nghiệm thức, nên môi trƣờng không biến động lớn, luôn ổn
định. Với kết quả trên cho thấy pH trong thí nghiệm nằm trong khoảng thích
hợp cho sự sinh trƣởng và phát triển cá ƣơng. Theo Lawson (1995), khoảng
pH lý tƣởng cho nuôi thủy sản là 6,50 – 9,00. Nếu pH cao hoặc thấp hơn
khoảng thích hợp sẽ tăng trƣởng chậm, thay đổi thẩm thấu của màng tế bào,
dẫn tới rối loạn quá trình trao đổi nƣớc giữa cơ thể với môi trƣờng ngoài.

0,10 ± 0,12
0,5 triệu tb/ml
0,00
0,10 ± 0,14
1 triệu tb/ml
0,00
0,10 ± 0,05
1,5 triệu tb/ml
0,00
0,10 ± 0,05
NO
2
-
là một trong những yếu tố gây độc đối với thủy sinh vật, khi NO
2
-

cao đƣợc cá hấp thu thì nó sẽ kết hợp với hemolgobin tạo thành

23
methemoglobin, methemoglobin không có khả năng kết hợp oxy, máu chứa
nhiều methemoglobin sẽ có màu nâu nên đƣợc gọi là bệnh máu nâu (Nguyễn
Đình Chung, 2004). Qua quá trình thí nghiệm thì thấy NO
2
-
rất ổn định có
khuynh hƣớng tăng dần về cuối thí nghiệm, hàm lƣợng trung bình giữa các
nghiệm thức dao động từ 0,10 ± 0,05 – 0,10 ± 0,14 (mg/L). Armstrong et al
(1976) cho rằng hàm lƣợng nitrite trong môi trƣờng ƣơng nuôi không nên vƣợt
quá 1 mg/L. Với kết quả qua Bảng 4.2 cho thấy nitrite trong thí nghiệm này

1 triệu tb/ml
1,5 triệu tb/ml
a
a
aa
aaaa
aaaa

Hình 4.1: Chiều dài của cá ƣơng với mật độ tảo khác nhau
Các giá trị trên cùng một cột mang mẫu tự (a) giống nhau thể hiện sự khác biệt không ý
nghĩa thống kê (p>0,05)
4.1.2.2 Tốc độ tăng trƣởng của cá ƣơng ở các mật độ tảo khác nhau
Qua Bảng 4.3 ta thấy tốc độ tăng trƣởng tuyệt đối của cá ở các nghiệm
thức hầu nhƣ không thay đổi sau 5 ngày ƣơng (0,20 mm/ngày) và sau 10 ngày

Trích đoạn Triển khai ƣơng cá bóp bột với các mật độ tảo Chlorenlla sp 0,25 triệu tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status