LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC
CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
GIAI ĐOẠN GIỐNG KHI CHO ĂN THỨC ĂN
CÓ BỔ SUNG TINH DẦU THIẾT YẾU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS. DƯƠNG THỊ HOÀNG OANH
NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN
12/2013
i
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô Dương Thị Hoàng Oanh, thầy Huỳnh
Trường Giang, cô Nguyễn Thị Kim Liên và tất cả quý thầy cô, anh, chị làm
việc tại bộ môn Thủy sinh học ứng dụng – Khoa Thủy sản – Trường Đại học
Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Chân thành cảm ơn anh Lê Văn Lợi lớp Nuôi trồng thủy sản K35, bạn Trần
Văn Nam lớp Sinh học biển K36 và các bạn lớp Nuôi trồng thủy sản K36 đã
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận văn.
Lời cảm ơn cuối cùng con xin gửi đến cha mẹ, cha mẹ là nguồn động viên lớn
nhất giúp con vượt qua những khó khăn, giúp con có đủ tự tin trong học tập và
trong cuộc sống.
Chân thành cảm ơn!
ii
TÓM TẮT
Đề tài đánh giá các chỉ tiêu huyết học của cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) giai đoạn giống khi cho ăn tinh dầu thiết yếu được thực hiện
từ ngày 17/12/2012 đến ngày 25/01/2013 với mục tiêu tìm ra tỷ lệ tinh dầu
thích hợp bổ sung trong nuôi cá tra giống nhằm tăng cường khả năng miễn
dịch góp phần nâng cao chất lượng con giống, cải thiện chất lượng sản phẩm
cao nhất là nghiệm thức 0,04% (1,08×10
5
tb/mm
3
) và thấp nhất là nghiệm thức
0,06% (0,50×10
5
tb/mm
3
) khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Mật
độ bạch cầu có xu hướng giảm từ đầu đến cuối đợt ở các nghiệm thức ĐC;
0,02%; 0,06%. Hàm lượng hemoglobin thấp nhất là 6,63 g/100 mL ở nghiệm
thức 0,06%; cao nhất là 12,17 g/100 mL ở nghiệm thức 0,02%. Qua quá trình
thí nghiệm thì nghiệm thức 0,04% cho kết quả tốt hơn so với các nghiệm thức
còn lại. Mật độ bạch cầu tăng 24,14% sau 35 ngày nuôi nhưng không khác biệt
(p>0,05).
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
Chương 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
) 30
4.1.5 Nitrite (N-NO
2
-
) 32
4.1.6 Lân hòa tan (P-PO
4
3-
) 32
4.2 Ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung tinh dầu lên các chỉ tiêu huyết học 33
4.2.1 Mật độ hồng cầu và bạch cầu qua từng đợt thu mẫu 33
4.2.2 Mật độ hồng cầu và bạch cầu qua 6 đợt thu 41
4.2.3 Biến động hàm lượng hemoglobin khi cho cá ăn thức ăn có bổ sung
tinh dầu 44
Chương 5. KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề xuất 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
v
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu các yếu tố môi trường
nước 25
Bảng 2: Mật độ hồng cầu giữa các nghiệm thức trong cùng một đợt 40
Bảng 3: Mật độ bạch cầu giữa các nghiệm thức trong cùng một đợt 41
Bảng 4: Hàm lượng hemoglobin ở các nghiệm thức trong cùng một đợt 50
vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống 3
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASTT: áp suất thẩm thấu
BCĐN: bạch cầu đơn nhân
BCTT: bạch cầu trung tính
CIARA: hiệp hội ngành công nghiệp dầu ăn CIARA - Argentina
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐC: đối chứng
Hb: hemoglobin
MOS: mannan oligosaccharide
Tb: tế bào
VINAFIS: Hội nghề cá Việt Nam
G: gram
Kg: kilogram 1
Chương 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi bên cạnh sự tích lũy kinh nghiệm từ
nhiều năm qua của người dân, nghề nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) ở Việt Nam nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) nói riêng đang phát triển mạnh, đã và đang là một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích nuôi cá tra phát triển
nhanh, mức độ thâm canh hóa cao dẫn đến môi trường nuôi bị ô nhiễm. Thêm
vào đó mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng, dịch bệnh tràn lan gây tổn thất
nặng cho người nuôi. Để phòng và trị bệnh cho cá nuôi người dân đã dùng
nuôi thương phẩm. Để cải thiện chất lượng sản phẩm thịt cá thì việc cải thiện
chất lượng con giống đang là một yêu cầu thực sự cần thiết hiện nay. Nhằm
góp phần giải quyết vấn đề trên đề tài “Đánh giá các chỉ tiêu huyết học của
cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống khi cho ăn tinh
dầu thiết yếu“ được thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
- Tìm ra tỷ lệ tinh dầu thích hợp bổ sung trong nuôi cá tra giống nhằm
tăng cường khả năng miễn dịch góp phần nâng cao chất lượng con giống, cải
thiện chất lượng sản phẩm thịt cá nuôi.
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng tăng cường miễn dịch của cá tra giống thông qua các
chỉ tiêu huyết học khi cho ăn thức ăn có bổ sung tinh dầu thiết yếu.
- Đánh giá chất lượng nước trong hệ thống thí nghiệm khi có bổ sung
tinh dầu.
3
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hệ thống phân loại cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Giới: Animalia
Ngành: Chorda
Ngành phụ: Vertebrata
Tổng lớp: Osteichthyes
Bộ cá nheo Siluriformes
Họ cá tra Pangasiidae
Giống cá tra dầu Pangasianodon
Loài cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Bleeker, 1878). (Nguyễn
Văn Thường, 2005).
2.2 Đặc điểm sinh học
Cá tra phân bố nhiều ở lưu vục sông Mê Kông ở cả 4 nước: Lào,
máu (15 con). Máu của cá có màu đỏ sậm và khi quan sát dưới kính hiển vi
(vật kính 100X) thì thấy nhân tế bào chất phân chia rõ ràng, nhân tế bào bắt
màu đỏ sậm. Mật độ tế bào hồng cầu của cá tra dao động khoảng từ 1,5×10
6
đến 5,5×10
6
tb/mm
3
, trung bình là 2,97×10
6
tb/mm
3
. So với các nghiên cứu
trước đây mật độ hồng cầu ở nghiên cứu này không khác biệt như cá rô phi:
2,31×10
6
tb/mm
3
(Hrubec et al, 2000), cá mè trắng: 2,52×10
6
tb/mm
3
(Quách
Thị Tài, 1990), cá nheo Mỹ 2,44×10
6
tb/mm
3
(Grizzle, 1976, trích dẫn bởi
Phạm Thanh Hương, 2006). Qua sự phân tích, số lượng tế bào bạch cầu của cá
dao động trong khoảng từ 10,74×10
3
tb/mm
3
), kế đến là Monocyte (27%; 15,3×103 tb/mm
3
), Thrombocyte (6,37%;
5,03×10
3
tb/mm
3
) và ít nhất là Neutrophil (1,63%; 1,17×10
3
tb/mm
3
). Kết quả
này không có sự sai khác quá lớn so với tỷ lệ các loại bạch cầu của một số loại
cá khác theo một số tác giả nghiên cứu trước. Ví dụ ở cá tra khỏe Lymphocyte
(88%) > Monocyte (11,7%) > Neutrophil (0,3%). Ở cá vượt thì Lymphocyte
(91,4%) > Monocyte (5,69%) > Neutrophil (2,95%) (Hrubec, 2002, trích dẫn
bởi Phạm Thanh Hương, 2006).
Nghiên cứu các chỉ tiêu huyết học trên cá tra và cá rô phi (Oreochromis
niloticus) ở các giai đoạn khác nhau. Cá tra trọng lượng từ 28 – 30 g (cá tra
nhỏ) và trọng lượng trung bình là 1000 g (cá tra lớn). Kết quả phân tích trên cá
5
tra nhỏ có mật độ hồng cầu là 1,86×10
6
tb/mm
3
thành chức năng trong một điều kiện thích hợp. Vì thế bất kì sự thay đổi nào
của môi trường trong đều ảnh hưởng đến hoạt động sống của tế bào. Do đó,
môi trường trong phải ở trạng thái cân bằng và đây là sự duy trì những điều
kiện không đổi của nội môi trường trong cơ thể. Máu lưu thông qua bề mặt
rộng lớn của cơ thể với một tốc độ tương đối nhanh nên phần dịch ngoại bào là
quan trọng nhất, góp phần lớn vào việc điều tiết một cách chính xác môi
trường giữ cho hoạt động tế bào luôn bình thường.
Ở giáp xác không giống như động vật có xương sống, không có chất dịch
trung gian phân biệt với máu. Máu sẽ đi vào trong tiếp xúc trực tiếp với mô.
Chức năng của máu là liên kết chức năng chất dịch trong và chất dịch tuần
hoàn gọi là dịch máu (hemolymph). Dịch máu là thành phần chất lỏng trong
hệ thống tuần hoàn của giáp xác kể cả nhóm nhuyễn thể, thành phần bao gồm
nước, chất đạm, mỡ, đường, hormone và các ion (Lockwood, 1967 trích bởi
Đỗ Thị Thanh Hương, 2010).
a. Chức năng chủ yếu của máu
1. Chức năng vận chuyển
Máu vận chuyển chất dinh dưỡng cung cấp cho tế bào và tổ chức mô.
Các chất dinh dưỡng (axit amin, glucose, axit béo và vitamin,…) sau khi hấp
6
thụ từ con đường tiêu hóa ngang qua thành ruột sẽ được máu dẫn đến các tổ
chức trong cơ thể cung cấp cho tế bào. Ví dụ sự vận chuyển đường lactate
(C
12
H
22
O
11
) từ cơ đến mang và gan và sau đó vận chuyển đường glucose
(C
máu giúp cho cơ thể tránh bị nhiễm độc. Những chất ngoại vi (hoặc những vật
chất lạ xâm nhập vào cơ thể) được vận chuyển đến thận nơi mà nó được hòa
tan, được tiết ra hay bị thực bào. Kết quả là kháng thể được đưa trở lại hệ tuần
hoàn tỏa khắp các cơ quan nhằm bảo vệ cơ thể.
Máu có chức năng bảo vệ hoạt động của hệ thống tuần hoàn, tế bào máu
được tạo ra từ thận trước sẽ được vận chuyển đi khắp cơ thể. Các thành phần
liên quan đến sự đông máu và tiểu cầu sẽ liên kết lại để chống lại sự chảy máu
khi mà hệ thống tuần hoàn bị tổn thương.
4. Duy trì môi trường trong
Máu có thành phần là các ion như Na
+
, Cl
+
, K
+
,Mg
2+
, Ca
2+
,…và các chất
hóa học khác tạo nên áp suất thẩm thấu ổn định và pH tương đối bền vững để
duy trì môi trường bên trong thích hợp với hoạt động sống bình thường của tế
bào.
b. Thành phần hóa học của máu
Theo Đỗ Thị Thanh Hương (2010) thì máu bao gồm các thành phần:
7
c. Đặc tính lý hóa học của máu
2
/KHbO
2
d. Các loại tế bào máu
1. Đặc điểm chung
Huyết thanh
Tế bào máu
Huyết tương
Hồng cầu
Bạch cầu
Máu
Fibrinogen
Tiểu cầu
Nước
Protein
Lipid Đường Chất điện phân
sinh này từ từ phát triển thành những dạng khác nhau và có những chức năng
khác nhau, thường thì chúng được phân biệt rõ ràng trước khi vào hệ thống
tuần hoàn. Những tế bào chưa trưởng thành chỉ xuất hiện ở mô tạo máu, đôi
khi có thể quan sát được ở phần thận trước; hay bề mặt của mạch máu trong hệ
thống tuần hoàn khi bị sinh vật kích thích (như bị stress). Vì vậy, sự xuất hiện
của nhiều tế bào máu chưa trưởng thành trong hệ thống tuần hoàn sẽ cho biết
cá đang ở tình trạng sinh lý không bình thường có thể đang bị bệnh hoặc ở một
trạng thái tiềm ẩn của một bệnh tật nào đó.
Tỷ lệ huyết cầu (hematocrit) là tỷ lệ thể tích giữa tế bào máu và huyết
tương. Tỷ lệ huyết cầu sẽ thay đổi theo giống loài và điều kiện dinh dưỡng.
Tế bào tăng sinh
(Hemocytoblast
totipotent cell)
Tế bào máu gốc lớn
Large lymphoid
Circulating
macrophase
Tế bào máu gốc nhỏ
Small lymphoid
Lymphocyte
Erythrocyt
e
Thrompocyte
Granulocyte
Hình 3: Quá trình hình thành tế bào máu cá (Smith, 1982)
9
Ngoài việc xác định được số lượng tế bào máu như hồng cầu, bạch cầu
và tiểu cầu, tỷ lệ huyết cầu (Hct) thì trong máu còn có các chỉ số khác như
hàm lượng huyết sắc tố (Hb), thể tích của hồng cầu (MCV – mean corpuscular
và gia tăng sự kết hợp của FeCl
2
vào hồng cầu. Sự gia tăng hồng cầu của cá
vàng (Carassius auratus) cũng xảy ra khi tiêm chất chiết trong huyết thanh
của người (ESF, erythropotein stimulating factor). Như vậy, quá trình tạo hồng
10
cầu của cá cũng chịu tác động của hormon của chúng và một số loài khác
(Taglialatela & Della Corte, 1997)
+Kích thước
Kích thước hồng cầu biến động lớn tùy theo loài cá, to nhất là cá miệng
tròn, cá sụn rồi đến cá xương. Kích thước hồng cầu càng nhỏ thì số lượng tế
bào hồng cầu trong một đơn vị thể tích càng lớn.
Lớp cá myxin (hagfish, lamprey): cá Lampetra fluviatilis có tế bào hồng
cầu hình oval (hai mặt lồi), có kích thước đường kính khoảng 7,5 µm, diện
tích bề mặt 285 µm
2
và thể tích 288 µm
3
với thể tích này dày gấp 3 lần tế bào
hồng cầu của người (Hagerstrand et al., 1999). Nhân tế bào hồng cầu nằm lệch
và điều đặc biệt nữa là tế bào không chứa những vi ống ngoại biên giống tế
bào hồng cầu của nhóm động vật có xương sống khác. Thể tích máu nhóm cá
này nhiều hơn so với nhóm cá khác, chiếm khoảng 14-18% khối lượng cơ thể
(Forster, et al., 1989, 2001) được xác định bằng phương pháp gắn kết Cr- vào
tế bào hồng cầu. Thể tích cao gấp đôi so với thể tích máu cá hồi. Như vậy,
nhóm cá này có thể tích máu cao tương đương với nhóm bò sát lưỡng cư. Ví
dụ ở rùa (Graptemys geographica) hay rắn (Acrochordus granulates) đều có
thể tích máu khoảng 12% khối lượng cơ thể.
Ở nhóm cá này người ta còn tìm thấy vòng tuần hoàn tế bào hồng cầu
thuộc vào số lượng tế bào hồng cầu có trong máu, kích thước hồng cầu càng
nhỏ thì số lượng sẽ có nhiều.
Một dạng tế bào hồng cầu khác cũng tìm thấy ở một số loài cá sống ở
biển sâu như cá Maurolicus mulleri và Vinciguerria lucetia là tế bào hồng cầu
nhỏ (7×3 µm), hình ê-lip, đặc biệt là không có nhân và hai đầu lồi rất rõ. Như
vậy, các loài cá sống ở tầng nước sâu có kích thước tế bào nhỏ hơn các loài cá
sống gần tầng mặt. Kích thước của hồng cầu còn phụ thuộc vào sự trưởng
thành của tế bào hồng cầu, tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có kích thước
nhỏ hơn tế bào hồng cầu trưởng thành.
Tuy nhiên, một số loài cá có kích thước hồng cầu trưởng thành nhỏ hơn
tế bào hồng cầu chưa trưởng thành. Tế bào hồng cầu cá nheo Mỹ (Ictalurus
punctatus) có kích thước là 11,0×8,3 µm trong khi kích thước tế bào hồng cầu
chưa trưởng thành là 11,5×9 µm (Fijan, 2002 trích bởi Đỗ Thị Thanh Hương,
2010).
+ Số lượng
Số lượng hồng cầu biến động theo tình trạng sinh lý của cá, theo giống
loài, theo chế độ dinh dưỡng, theo giới tính, theo tuổi, đẻ trứng, di cư, hay khi
bị stress cũng như sự biến động các yếu tố môi trường.
Số lượng hồng cầu trong máu cá thay đổi rất lớn. Ở cá nước ngọt số
lượng hồng cầu dao động trong khoảng 1-3,5 triệu tb/mm
3
, ở cá biển số lượng
này dao động từ 0,9 - 4 triệu tb/mm
3
(http://www.agriviet.com). Số lượng
hồng cầu của cá nhỏ hơn động vật bậc cao. Số lượng được chia làm 2 nhóm từ
500.000 đến 2.500.000 tb/mm
3
(µL) và nhóm 5,0-10,0 triệu/µL (Glomski &
Pica, 2006).
Các chỉ số về số lượng hồng cầu,bạch cầu, hàm lượng hemoglobin, thể
tích máu, hàm lượng huyết sắc tố trung bình trong hồng cầu hay nồng độ huyết
sắc tố trên thể tích của hồng cầu thể hện sức khỏe của cá trong tự nhiên cũng
như trong ao nuôi. Số lượng tế bào hồng cầu, hàm lượng hemoglobin và tỷ lệ
huyết cầu thay đổi theo loài và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tình trạng
sinh lý của cơ thể và các yếu tố bên ngoài.
+ Nhiệm vụ của hồng cầu
Nhiệm vụ của hồng cầu là chuyển oxy từ môi trường ngoài vào cơ thể
bằng cách là Hb của tế bào máu kết hợp với oxy tạo oxy hemoglobin (HbO
2
)
từ đó sẽ theo động mạch đi khắp cơ thể. Khi HbO
2
đến tế bào thì áp suất riêng
của oxy tại tế bào thấp hơn ở động mạch nên oxy dễ dàng tách khỏi Hb và
thấm qua màng tế bào. Khả năng kết hợp của Hb với oxy khác nhau tùy loại
mặc dù cùng áp suất oxy. Ngoài ra, sự kết hợp này còn phụ thuộc vào áp suất
CO
2
, nhiệt độ, và pH. Hồng cầu còn làm nhiệm vụ chuyển CO
2
từ tế bào ra
môi trường bên ngoài.
Hiện tượng tiêu huyết ở hồng cầu: khi pha chế dung dịch sinh lý để tiêm
các loại thuốc hóa chất hay kháng sinh,… vào cơ thể cá tôm cần phải đảm bảo
thẩm áp tương đương của máu. Sự ổn định áp suất thẩm thấu (ASTT) máu có
ý nghĩa sinh lý quan trọng. Nếu ASTT của hồng cầu và huyết tương bằng nhau
hồng cầu giữ nguyên hình dạng và kích thước. Trong dung dịch nhược trương,
có ASTT thấp hơn ASTT của hồng cầu thì nước sẽ thấm vào trong hồng cầu
làm vỡ hồng cầu. Trong dung dịch ưu trương, có ASTT cao hơn ASTT của
cầu trung tính (neutrophil leucocyte). Ở cá trong thành phần tế bào chứa nhiều
bạch cầu trung tính (neutrophyl), tỉ lệ 50%-70%. Nhân là một dãy hay có dạng
như hình móng ngựa, nhân bắt màu xanh nhạt hoặc hơi hồng.
Bạch cầu không hạt: là bạch cầu nhân không chia thành thùy, không bắt
màu nhuộm. Có hai loại là monocyte (có một nhân) và lymphocyte (có nhiều
nhân). Tế bào lympho (lymphocyte) phổ biến trong máu, chiếm 20%-40%; có
tế bào chất trong suốt và nhân lớn nên chiếm gần hết tế bào; nhân bắt màu
xanh đậm với thuốc nhuộm Giemsa. Bạch cầu đơn nhân (monocyte) chiếm 3-
8%, nhân hình móng ngựa và bắt màu xanh đậm (Smith, 1982).
+Kích thước
Kích thước tế bào bạch cầu thay đổi theo loài cá, bạch cầu trung tính
trong máu cá bơn sao 8-10 µm (Ainsworth, 1992), cá nheo Mỹ 9-15 µm, cá
chình Nhật là 10-15 µm, cá chép là 5-8 µm. Ở cá chẽm sọc (Morone saxatilis)
thì kích thước tế bào bạch cầu trung tính (9×12 µm) nhỏ hơn tế bào bạch cầu
14
ưa axít (9×15 µm). Những loài cá có cơ quan hô hấp phụ thì kích thước bạch
cầu trung tính thay đổi theo kích thước của chúng.
Kích thước tế bào ưa kiềm cũng tương đương với các tế bào bạch cầu
khác, bạch cầu ưa kiềm của cá vàng là 11-15 µm (Dunn, et al., 1989). Nhìn
chung, tế bào bạch cầu ưa kiềm của cá có kích thước tương đương với tế bào
bạch cầu của động vật bậc cao.
+Số lượng bạch cầu
Biến đổi lớn theo loài, tình trạng sinh lý, tuổi, dinh dưỡng, nhiệt độ và sự
thành thục sinh dục.
+Chức năng của bạch cầu
Bạch cầu bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn bằng phương
thức thực bào (monocyte và neutrophil leucocyte thực hiện) và tạo kháng thể
(lymphocyte thực hiện). Ở các nơi viêm nhiễm sinh ra những chuỗi peptid
(polypeptide) gọi là leucotaxin có tác dụng hấp dẫn bạch cầu. Ngoài ra, loại
hạt mỡ chưa được nhũ tương rồi đưa vào máu.
4. Sơ lược về hemoglobin
Hemoglobin (Hb) còn gọi là huyết cầu tố, là một chromoprotein có chứa
nhân porphyrin và sắt. Ở hồng cầu động vật Hb làm nhiệm vụ vận chuyển oxy
từ phổi tới các tế bào hô hấp. Hemoglobin chứa 0,34% sắt, mỗi phân tử Hb có
4 nguyên tử sắt. Khi oxy hóa thì sắt II biến thành sắt III. Hemoglobin đóng vai
trò vận chuyển hầu hết lượng oxy và phần lớn lượng khí carbonic trong cơ thể
(Bùi Lai và ctv, 1985, trích dẫn bởi Mai Diệu Quyên, 2010).
Công thức hóa học của hemoglobin là: H
4816
O
872
N
780
S
8
F
4
.
Hemoglobin trong máu tồn tại dưới dạng HbO
2
và Hb khử oxy nên máu
có màu đỏ thẫm và đỏ anh đào. Khi Hb kết hợp với axit thì sắt hóa trị II sẽ
biến thành sắt hóa trị III, lúc này Hb biến thành methemoglobin (MHb) và
máu có màu vàng nâu hoặc nâu (Dương Tuấn, 1981, trích dẫn bởi Mai Diệu
Quyên, 2010).
Lượng Hb trong máu biến đổi theo sự biến đổi số lượng hồng cầu. Sắt
của Hb ở dạng Fe
2+
, khi sắt trong Hb oxy hóa thành Fe
trong máu cá tra khỏe cho thấy tế bào lympho có số lượng nhiều nhất 112,75
ngàn tế bào/mm
3
(chiếm 67,7%), kế đến là tiểu cầu 31,57 ngàn tb/mm
3
(chiếm
19%), bạch cầu trung tính (BCTT) có số lượng 15,82 ngàn tb/mm
3
(chiếm
9,5%) và ít nhất là bạch cầu đa nhân (BCĐN) có số lượng là 6,32 ngàn tb/mm
3
(3,8%) ở cá. Trong khi đó, số tế bào lympho ở cá bệnh giảm 0,42-0,47 lần. Số
lượng tiểu cầu cũng giảm ½ lần. Ngược lại, số lượng BCĐN và BCTT lại tăng
ở cá bệnh. BCĐN và BCTT là thành phần chủ yếu và đóng vai trò quan trọng
trong hệ miễn dịch không đặc hiệu của cá vì vậy khi cá bị nhiễm vi khuẩn thì
hoạt động của hệ bạch huyết gia tăng nhằm tiêu diệt vi khuẩn. Toida et al.
(2003) cho rằng do sự tập trung nhanh chóng tế bào lympho ở những vùng bị
viêm làm cho quá trình cung cấp bổ sung tế bào này ở vùng ngoại vi của máu
bị giảm (http://uv-vietnam.com.vn/NewsDetail.aspx?newsId=1709).
Kết quả nghiên cứu huyết học của Từ Thanh Dung và Phạm Thanh
Hương về số lượng các loại tế bào máu cá tra khỏe, cá bệnh vàng da và cá
chưa biểu hiện bệnh trong ao có bệnh cho thấy số lượng tế bào hồng cầu cả 3
nhóm cá khác nhau có ý nghĩa (p<0,05). Ở cá bệnh vàng da, số lượng tế bào
hồng cầu là 0,31 x10
6
tb/mm
3
giảm còn 10-20% so với cá khỏe 1,69 x 10
6