TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN LÊ TUẤN KIỆT KHẢO SÁT YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ CHẼM (Lates calcarifer)
TRONG AO Ở TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
2013
i
LỜI CẢM TẠ
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lý Văn Khánh đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài, cảm ơn thầy đã cung cấp và hỗ trợ cho tôi
rất nhiều thông tin.
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến các thầy, các cô Khoa Thủy sản đã tận tình giảng dạy và cung
cấp cho tôi những kiến thức vô cùng bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường trong
những năm vừa qua.
Xin cảm ơn bạn Nguyễn Tuấn Cường và anh Hồ Việt Hà đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều
trong chuyến đi khảo sát. Xin cảm ơn các anh, các chị, các cô, các bác và các cán bộ địa
phương tại huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã cung cấp cho tôi những
thông tin cần thiết.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các bạn trong lớp Nuôi trồng Thủy sản K36 đã cùng đồng
hành và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đầu năm nhất tới giờ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Lê Tuấn Kiệt
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá chẽm 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 4
2.1.3 Vòng đời của cá chẽm 4
2.1.4 Tính ăn của cá 5
2.2. Tổng quan về tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam và trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới 5
2.2.2. Tình hình nuôi cá chẽm ở Việt Nam 7
2.3 Tổng quan về tỉnh Bến Tre 8
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 9
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội 10
Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu. 11
3.1.1. Thời gian 11
3.1.2. Địa điểm 11
3.2 Vật liệu nghiên cứu 11
3.2.1. Thông tin thứ cấp 11
iv
3.2.2. Thông tin sơ cấp 11
3.3. Phương pháp xử lý số liệu 12
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Thông tin chung về người nuôi 13
4.1.1 Nguyên nhân chọn con cá chẽm 13
4.1.2 Học vấn, giới tính của người nuôi 13
4.1.3 Kinh nghiệm của người nuôi 13
4.1.4 Nguồn thu nhập, nghề nghiệp và lịch sử ao trước khi nuôi cá 13
4.2 Khía cạnh kỹ thuật 14
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cá chẽm (Lates calcarifer) 3
Hình 2.2: Vòng đời cá chẽm 4
Hình 2.3: Sản lượng cá chẽm theo nước sản xuất 7
Hình 2.4: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 9
Hình 4.1: Loại thức ăn sử dụng 17
Hình 4.2 Cơ cấu chi phí nuôi 20
vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
ĐVT: Đơn vị tính
FCR: Hệ số tiêu tốn thức ăn
1
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản đã trở thành thế mạnh kinh tế đặc biệt ở khu
vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), biến nơi đây thành một vùng trọng điểm
về nuôi trồng thủy sản của cả nước. Là vùng nuôi thủy sản lớn nhất cả nước với
tổng diện tích thả nuôi là 1.067 nghìn ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước.
Trong đó diện tích nuôi thủy sản nước lợ là 703 nghìn ha và diện tích nuôi
trồng thủy sản nước ngọt là 364 nghìn ha, cho thấy NTTS ngày càng chiếm vị trí
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực ĐBSCL.
Bến Tre là tỉnh thuộc ĐBSCL với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khá lớn, nhiều
loài thủy sản nổi bậc có giá trị kinh tế khá cao đã và đang được nuôi phổ biến như: tôm
sú, tôm thẻ, tôm càng xanh, cá tra, nhuyễn thể,… Nhưng ngày càng lại xuất hiện nhiều
loại mần bệnh khó trị và xuất hiện tràn lan do điều kiện môi trường bị ô nhiễm, đối
tượng nuôi khá phổ biến nên mần bệnh ngày càng khó trị. Hiện nay, những người dân
Họ: Centropomidae
Giống: Lates
Loài: Lates calcarifer Bloch, 1790
Hình 2.1: Cá chẽm (Lates calcarifer)
(nguồn
Cá chẽm có thân hình thoi, dẹt bên, cuống đuôi khuyết sâu. Chiều dài thân bằng 2,7 -
3,6 lần chiều cao, thông thường thì từ 19 - 25 cm. Đầu to, mõm nhọn, chiều dài hàm
trên kéo dài đến ngang giữa mắt. Vây lưng liền nhau gồm có 2 vi: vi trước có 7 - 9 gai
cứng và vi sau có 10 - 11 tia mềm, lõm giữa. Vây đuôi tròn lồi và có hình quạt. Khi cá
còn nhỏ, mặt trên thân màu xám, bụng trắng bạc hoặc màu nâu vàng tùy vào môi
trường sống. Khi cá ở giai đoạn trưởng thành sẽ có màu xanh lục hay vàng nhạt trên
4
lưng và màu vàng bạc ở mặt bụng (theo đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên
tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790).
2.1.2 Phân bố
Cá chẽm phân bố rộng ở các vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới thuộc Tây Thái Bình
Dương và Ấn Độ Dương, giữa kinh tuyến 500 Đông-1.600 Tây; vĩ tuyến 260 Bắc-250
Nam. Ở nước ta, cá chẽm phân bố ở dọc bờ biển, gần cửa sông từ bắc đến nam. Cá
chẽm rất rộng muối có thể sống ở độ mặn từ 2-32‰ và có tính di cư xuôi dòng, cá lớn
lên chủ yếu ở vùng nước ngọt như sông, hồ. Khi thành thục từ 3-4 năm tuổi, cá sẽ di
cư ra vùng cửa sông, ven biển nơi có độ mặn thích hợp từ 30-32‰ để sinh sản. Ấu
trùng cá chẽm sau khi nở ra sẽ theo dòng nước trôi vào vùng cửa sông, ven bờ và lớn
lên. Cá con sẽ dần dần di cư vào các thủy vực nước ngọt nơi có nhiệt độ từ 15-28
o
C,
độ sâu từ 5-20 m để sinh sống và phát triển thành cá thể trưởng thành (Hòa Phạm,
2010. Kỹ thuật nuôi cá chẽm).
2.1.3 Vòng đời của cá chẽm
Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng trong các thủy vực nước ngọt như
lan rộng ra nhiều nước ở Đông Nam Á do giá trị kinh tế và nhu cầu thị trường cao
(FAO, 2012). Cá chẽm đã được nuôi hơn 20 năm qua ở vùng Đông Nam Châu Á và
Châu Úc, nhưng vẫn chưa phổ biến trên qui mô sản xuất thương mại. Hiện nay, việc
nuôi cá chẽm trong ao nước lợ ở một số quốc gia đã cho thấy có tiềm năng lớn về thị
trường và khả năng lợi nhuận cao. Các nước có sản lượng lớn cá chẽm trong khu vực
như Thái Lan, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Phillipines, Singapore, Đài
Loan, Việt Nam và Australia.
Theo FAO (2012), sản lượng cá chẽm ở Malaysia năm 2008 là 11.705 tấn và 20.022
tấn trong năm 2010. Sản lượng cá chẽm nuôi thế giới đạt trên 70.000 tấn năm 2010. Cá
chẽm nuôi được bán trên thị trường có kích cỡ vào khoảng 500-800 g. Hiện nay, các
nước trên thế giới đã có thế mạnh trong việc nuôi con cá chẽm, vì họ đã sản xuất nhân
6
tạo thành công về con giống, mô hình nuôi phù hợp với điều kiện môi trường, điều
kiện kinh tế đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định.
Ở Australia cá chẽm được nuôi ở hầu hết các bang của Australia ngoại trừ bang
Tasmania, nhưng sản lượng cá chẽm tập trung chủ yếu ở Queensland được nuôi phần
lớn ở nước ngọt, Northern Territory nuôi lồng biển và nuôi ao nước lợ, Nam Australia
nuôi nước ngọt. Cá chẽm được nuôi công nghiệp bắt đầu từ những năm 1980, hiện nay
có khoảng 100 trang trại được cấp phép nuôi. Theo dữ liệu của FAO năm 2004 (trích
dẫn bởi Halwart M., 2007), sản lượng cá chẽm khoảng 1.600 tấn, giá trị đạt 9,9 triệu
USD. Theo báo cáo của O’Sullivan và ctv năm 2005 (trích dẫn bởi Halwart , 2007),
niên vụ 2003/2004 sản lượng cá chẽm khoảng 2.800 tấn, đạt giá trị 17,6 triệu USD.
Niên vụ 2008/2009 sản lượng cá chẽm cả nước ước khoảng 6.000 tấn và sẽ tăng lên
7.000 tấn trong niên vụ 2009/2010.
Sản lượng cá chẽm của thế giới đã tăng từ vài tấn năm 1986 lên đến 65.000 tấn năm
2010. Tuy nhiên, theo số liệu của FAO cũng trong thời gian đó giá cá trung bình đã
giảm hơn một nửa xuống còn khoảng 8 đôla Úc. Đài Loan, Malaixia, Thái Lan và
Indonexia là những nước sản xuất cá chẽm lớn nhất thế giới. Nhưng hiện nay chỉ có
Đài Loan và Indonexia là có số liệu ước tính cho năm 2011-2013, theo đó sản lượng
của Đài Loan dự kiến sẽ tăng từ 24.000 tấn năm 2011 lên khoảng 29.000 tấn năm 2013
8
các loài cá nuôi. Cá nuôi lồng sẽ trở nên dễ mắc bệnh khi mà các thông số môi trường
như nhiệt độ, độ mặn, nồng độ oxy hòa tan và các chất lơ lửng thay đổi nhiều hoặc
đột ngột. Việc xác định sớm sự thay đổi hoạt động và dấu hiệu của bệnh ở cá nuôi là
rất quan trọng để chuẩn đoán bệnh. Một số bệnh thường gặp ở cá biển như: bệnh do
virus, bệnh do vi khuẩn, bệnh do ký sinh trùng… đối với các bệnh hiện nay hầu hết chỉ
mới đề xuất được một số biện pháp phòng bệnh, chưa có thuốc hay các biện pháp chữa
bệnh hiệu quả.
Bảng 2.1: Sản lượng nuôi cá biển 2012 (nguồn Bộ Nông Nghiêp và Phát Triển Nông thôn,
2013)
Tỉnh
Loài nuôi
Hình thức nuôi
Sản lượng (tấn)
Kiên Giang
Cá vược
Ao
1.000
Bạc Liêu
Cá vược
Ao
1.000
Sóc Trăng
Cá vược
Ao
1.000
Cà Mau
Cá vược
Ao
1.000
Thừa Thiên Huế
Cá vược
Ao và lồng
1.500
Từ Quảng Trị - Quảng Ninh
Cá vược, cá Giò, cá Hồng, cá Song,
cá Chim vây vàng
Ao và lồng
7.000
2.3 Tổng quan về tỉnh Bến Tre
Ở Bến Tre, mô hình nuôi cá chẽm thâm canh bằng thức ăn công nghiệp có hiệu quả
cao hơn khi dùng thức ăn tươi sống (nguồn: ).
Theo sở khoa học và công nghệ tỉnh Bến Tre (2009), với diện tích 5.000 m
2
thì nuôi
được 7.500 con cá chẽm giống với kích cỡ 8 cm, cho cá ăn hoàn toàn bằng thức ăn
công nghiệp. Cá nuôi 6 tháng đạt trọng lượng từ 0,4 đến 0,7 kg/con, tỷ lệ sống đạt trên
80%. Năm 2011 mô hình nuôi cá chẽm thâm canh của công ty cổ phần Vĩnh Hoàn tại
Ba Tri, tỉnh Bến Tre gồm 22 ao nuôi với tổng diện tích trên 11 ha mặt nước. Cá nuôi 8
9
tháng thu hoạch đạt trọng lượng trung bình 1 kg/con, năng suất đạt trên 40 tấn/ha (theo
báo Đồng Khởi, 06/2011).
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Bến Tre là tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, có diện tích tự nhiên là 2.360 km
2
,
được hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh
sông Cửu Long bồi tụ thành là sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ
thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển
phong phú với các loại tôm, cua, cá, mực, nhuyễn thể… Đây còn là vùng đất phù sa
trù phú, sản sinh ra vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long và nhiều loại nông sản
mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Bến Tre có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 41.864 ha, trong đó diện tích
nước mặn lợ là 36.154 ha, diện tích nước ngọt là 5.710 ha. Tổng sản lượng thủy sản
năm 2007 là 175.757 tấn, trong đó sản lượng nuôi đạt 99.531 tấn, sản lượng khai thác
đạt 76.226 tấn. Tổng giá trị sản xuất thủy sản khoảng 4,2 tỷ đồng chủ yếu từ nuôi
trồng (Lê Xinh Nhân, 2010). 11
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
3.1.1. Thời gian
Đề tài được thực hiện từ: 9/2013 - 12/2013.
3.1.2. Địa điểm
Khảo sát, thu thập thông tin kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá chẽm
trong ao đất ở tỉnh Bến Tre.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Thông tin thứ cấp
Được thu thập qua các tài liệu có liên quan được xuất bản, các nghiên cứu trước đây
trong và ngoài nước, các báo cáo tổng kết của các cơ quan chuyên ngành của các tỉnh,
các thông tin trên website, các bài báo chuyên ngành có liên quan đến chủ đề nghiên
cứu.
3.2.2. Thông tin sơ cấp
Sử dụng bảng phỏng vấn đã được soạn sẵn để tiến hành thu thập thông tin trực tiếp từ
người nuôi trong khu vực nghiên cứu.
Số mẫu phỏng vấn: Phỏng vấn 10 hộ nuôi cá chẽm ở tỉnh Bến Tre bằng biểu mẫu soạn
- Chi phí thức ăn
- Chi phí nhân công
- Chi phí khác
- Tổng thu
- Lợi nhuận
4
Quản lý dịch bệnh
- Thời điểm xảy ra dịch bệnh
- Diễn biến bệnh dịch
- Ảnh hưởng của bệnh dịch
- Biện pháp xử lý
- Hiệu quả
3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, phân tích và mã hoá trước khi được nhập vào
máy tính. Sử dụng phần mềm Excel để nhập số liệu vào máy tính, kiểm tra và hoàn
chỉnh bổ sung cũng như tính toán trước khi xử lý và phân tích các biến. Phần mềm
Words được dùng kết hợp với Excel để viết báo cáo.
Phương pháp phân tích theo thống kê mô tả sử dụng để mô tả thực trạng sản xuất của
nghề nuôi dưới dạng sử dụng các giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ
lệch chuẩn, tần suất và phần trăm của các biến nghiên cứu. Phương pháp so sánh được
sử dụng để phân tích ảnh hưởng của quy mô sản xuất, tác động của các biện pháp quản
lý tới hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi.
13
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin chung về người nuôi
4.1.1 Nguyên nhân chọn con cá chẽm
Theo thông tin khảo sát được, người dân nuôi tôm gặp quá nhiều khó khăn trong vấn
đề dịch bệnh, nhiều loại bệnh phát tán khắp nơi, khả năng gặp rủi ro là khá cao. Người
Số người nuôi (người)
Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam
10
100
Nữ
-
-
Học vấn
Mù chữ
3
30
Trên cấp III
7
70
Kinh nghiệm nuôi (năm)
1
10
100
Trên 1 năm
-
-
Nguồn thu nhập chính của
gia đình
Thủy sản
8
80
Khác
2
cao nhất là 6 và hộ có số lao động thấp nhất là 1 chiếm tỷ lệ cao nhất.
Bảng 4.2: Diện tích và số lao động trong ao
Nội dung
Trung bình
Lớn nhất
Nhỏ nhất
Diện tích ao nuôi (m
2
/hộ)
7.180 ± 4.695
16.000
1000
Số ao lắng (ao)
0,5 ± 0,53
1
0
Số lao động tham gia thủy sản (người)
2,7 ± 1,83
6
1
15
Đa phần các hộ nuôi cá chỉ là lần đầu tiên với mục đích chính là cải hiện môi trường
nuôi, chuyển đổi đối tượng mới có tiềm năng và là thử nghiệm nên không tiến hành
nuôi quy mô lớn.
4.2.2 Con giống
Theo nguồn thông tin từ các hộ nuôi thì 100% giống nhân tạo được lấy từ các trại
giống gần khu vực nuôi hoặc lấy từ trại giống ở Nha Trang. Con giống từ các trại
giống đảm bảo được yêu cầu của người nuôi về số lượng và chất lượng. Nguồn giống
tự nhiên rất ít, không đảm bảo kích cỡ và chất lượng nên các hộ nuôi không sử dụng.
vào thời điểm thả giống của các hộ nuôi là 4‰ và độ mặn cao nhất là 30‰ . Độ mặn
trung bình trong thời gian nuôi là 12,6 ± 3,24‰, độ mặn thấp nhất trong thời gian nuôi
là 5‰ và độ mặn cao nhất là 15‰.
16
Bảng 4.4: Cỡ giống, mật độ và độ mặn
Nội dung
Trung bình
Lớn nhất
Nhỏ nhất
Cỡ giống (cm)
9,1 ± 2,02
10
4
Mật độ (con/m
2
)
3,6 ± 0,97
5
2
Độ mặn khi thả giống (‰)
11,4 ± 7,26
30
4
Độ mặn trong thời gian nuôi (‰)
12,6 ± 3,24
15
5
4.2.3 Quản lý ao nuôi
Mức nước nuôi được người nuôi sử dụng hiện tại dao động từ 1,2-2,0 m, mức nước
%
Xử lý nước cấp
2
20
8
80
Xử lý nước thoát
1
10
9
90