BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
PHÂN LẬP VÀ KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH
VI KHUẨN NỘI SINH CÂY LÚA
TRỒNG TRÊN ĐẤT CỦA HUYỆN PHÚ HÒA,
TỈNH PHÚ YÊN
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………….
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký tên)
LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn “Phân lập và khảo sát đặc tính vi khuẩn nội sinh cây lúa
trồng ở huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên”, bên cạnh sự nổ lực của bản thân, em luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô cùng sự chia sẻ từ phía gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô thuộc viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học đã truyền đạt
cho em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập;
Thầy Giáo sư-Tiến sĩ Cao Ngọc Điệp đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện
thuận lợi trong thời gian em thực hiện luận văn;
Cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh vật, thuộc viện Nghiên cứu và Phát triển Công
nghệ Sinh học đã hỗ trợ em hoàn thành đề tài;
Gia đình và bạn bè đã động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tuy em đã cố gắng hoàn thiện luận văn, với thời gian và khả năng còn hạn chế, luận
văn không thể tránh khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý chân thành từ quý thầy
cô và các bạn.
Sau cùng, em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến gia đình, quý thầy cô và
tất cả các bạn.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH v
TỪ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
1.1. Giới thiệu 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên 3
2.2. Sơ lược về cây lúa (Oryza sativa) 4
2.2.1. Nguồn gốc 4
2.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh thái 5
2.2.3. Nhu cầu dinh dưỡng 6
2.2.4. Giá trị dinh dưỡng và vị trí kinh tế 7
2.3. Vi khuẩn nội sinh 9
2.3.1. Các nhóm vi khuẩn nội sinh 9
2.3.2. Một số đặc tính của vi khuẩn nội sinh 11
2.3.2.1. Khả năng cố định đạm 11
2.3.2.2. Khả năng hòa tan lân khó tan 12
2.3.2.3. Khả năng tổng hợp Indole-3-acetic aicd (IAA) 13
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Địa điểm và thời gian thực hiện 15
3.2. Phương tiện nghiên cứu 15
3.2.1. Vật liệu thí nghiệm 15
3.2.2. Hóa chất 15
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iii Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng trong 100 g gạo 8
Bảng 2: Thành phần môi trường NFb (Kireg và Dobereiner, 1984) 15
Bảng 3: Công thức môi trường Burk (Park et al, 2005) 16
Bảng 4: Công thức môi trường NBRIP lỏng (Nautiyal, 1999) 16
Bảng 5: Đường chuẩn NH
4
+
22
Bảng 6: Đường chuẩn P
2
O
5
23
Bảng 7: Đường chuẩn IAA 24
Bảng 8: Nguồn gốc các dòng vi khuẩn được phân lập trên môi trường NFb 25
Bảng 9: Đặc điểm khuẩn lạc của các dòng vi khuẩn phân lập được 28
Bảng 10: Khả năng tổng hợp NH
4
+
của các dòng vi khuẩn nội sinh 30
Bảng 11: Khả năng hòa tan lân của các dòng vi khuẩn nội sinh phân lập được 32
Bảng 12: Khả năng tổng hợp IAA của các dòng vi khuẩn phân lập được 34
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học v Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 1 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Giới thiệu
Lúa là cây lương thực quan trọng, giữ một vị trí không thể thay thế trong các loại
cây trồng được thuần hóa. Hiện nay, diện tích trồng lúa bao phủ hơn 110 vùng lãnh thổ,
thích nghi rất rộng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau từ vĩ độ 350 Nam – 530 Bắc.
Theo thống kê năm 2004: Trong các loại cây lương thực lấy hạt ở Việt Nam thì lúa và ngô
là hai loại cây lương thực chính, song so với tổng sản lượng của hai loại cây này thì sản
lượng ngô chỉ vào khoảng trên dưới 10%, vì vậy, lúa là cây lương thực chính trong mục
tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc
gia và xuất khẩu. Hiện nay diện tích trồng lúa cả nước từ 7,3 dến 7,5 triệu ha, năng suất
trung bình 46 ha, sản lượng dao động trong khoảng 34,5 triệu tấn/năm, xuất khẩu từ 2,5
triệu đến 4 triệu tấn/năm. Việt Nam có bờ biển dài trên 3000 km, sông núi nhiều, địa hình
phức tạp nên đã hình thành nhiều vùng trồng lúa khác nhau, trong đó có vùng đồng bằng
ven biển miền Trung. Tại đây, những cánh đồng lúa thuộc huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên
được xem là có diện tích lớn.
Cây lúa thích hợp với đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH 5,5-
7,5). Trong thực tế, lúa cũng có thể thích nghi được trong những điều kiện đất đai khắc
nghiệt như phèn, mặn, khô hạn, ngập úng. Tuy nhiên, năng suất và sản lượng lúa tùy
thuộc vào phân bón hóa học mà nông dân sử dụng. Để tạo được 1 tạ thóc, cây lúa cần 2
kg N, 0,7- 0,9 kg P, 3,2 kg K và 2 kg Si. Vì vậy, để đạt năng suất hạt 6-7 tấn/ha vụ, cây
lúa cần 8-10 tấn phân chuồng, 100-120 kg N, 100-120 kg P và 30-60 kg K. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, nhiều người lo ngại về ảnh hưởng của phân bón đến môi
trường và sức khỏe con người. Đối tượng độc hại đầu tiên là nguồn nước và đất, mà tác
nhân chính là dư lượng nitrat, dẫn đến ngộ độc nitrat, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái.
Bên cạnh đó, dư lượng phân bón trong lương thực gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng
và gia súc, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 3 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và phương
thức gieo trồng, nghề trồng lúa được hình thành và phân chia thành 3 vùng trồng lúa lớn:
Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Đồng
bằng ven biển miền Trung kéo dài từ Thanh Hóa tới Bình Thuận, cực Nam Trung Bộ,
được chia thành 2 vùng chính: Vùng đồng bằng ven biển Bắc bộ và Vùng đồng bằng ven
biển Trung bộ và nam Trung Bộ. Trong đó, vùng đồng bằng ven biển Trung và Nam
Trung bộ kéo dài từ Quảng Bình tới Bình Thuận, có diện tích là 8250 km
2
( 05/07/2013), trong
đó Phú Yên là một trong những đồng bằng có diện tích trồng lúa lớn.
Huyện Phú Hòa thuộc tỉnh Phú Yên nằm về phía tả ngạn sông Đà Rằng, phía Bắc
giáp huyện Tuy An, Nam giáp huyện Tây Hòa và Đông Hòa, phía Đông giáp thành phố
Tuy Hòa, Tây giáp huyện Sơn Hòa. Với tổng diện tích đất là 26390,96 ha, huyện Phú Hòa
có 8654,30 ha đất nông nghiệp và 10976,40 ha đất lâm nghiệp
(, 04/09/2013).
Về đặc điểm khí hậu, huyện Phú Hòa mang những đặc điểm chung của khí hậu thuỷ
văn nhiệt đới gió mùa khu vực Nam Trung bộ, hàng năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa kéo
dài từ tháng 9, 10 đến tháng 12, mùa khô mát từ tháng 12 đến tháng 5, mùa nóng ẩm từ
tháng 5 đến tháng 9.
Tiềm năng kinh tế - xã hội: Phú Hòa là một huyện nằm trên vùng châu thổ đồng
bằng sông Đà Rằng, nên người dân nơi đây đã sớm phát triển kinh tế nông nghiệp, khai
thác những lợi thế về đất đai để biến khu vực nay thành một trong những vựa lúa của tỉnh
có năng xuất cao. Lúa được nhân dân canh tác 2 vụ/năm, được sử dụng hệ thống đập
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 5 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
O. sativa có bộ gen lưỡng bội (2n = 24) nhỏ (430.10
6
bp). Đây là bộ gen nhỏ nhất
trong các loại cây trồng (Chang, 2002).
2.2.2. Đặc điểm hình thái và sinh thái
Lúa là cây thân cỏ hàng năm. Đặc điểm chung của lúa là cây mọc thành cụm, thân
thẳng đứng, phiến là dài và phẳng. Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa, phân
nhánh cong hay rủ xuống, hạt lúa được bao bọc trong một vỏ trấu dài 5–12 mm.
Rễ lúa có cấu tạo sơ cấp, gồm: biểu bì, nhu mô vỏ rễ và phần trung trụ; giữ nhiệm
vụ giúp cây đứng vững, hút nước và muối khoáng. Rễ phát triển nông hay sâu tùy thuộc
vào tính chất đất. Đất tơi xốp, thoáng khí, nhiều mùn thuận lợi cho bộ rễ phát triển.
Thân lúa gồm nhiều mắt và lóng, được bao bọc bởi bẹ lá trước thời kỳ lúa trổ. Chiều
cao thân phụ thuộc vào đặc tính từng giống. Nhiệm vụ của thân lúa là giữ cho cây đứng
vững và vận chuyển chất dinh dưỡng; ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng thân còn tích lũy
đường bột cung cấp cho bông và hạt.
Lúa là cây đơn tử diệp (1 lá mầm). Lá lúa mọc đối ở 2 bên thân lúa, lá ra sau nằm về
phía đối diện với lá trước đó. Lá trên cùng được gọi lá lá cờ hay lá đòng. Lá lúa gồm
phiến lá (bộ phận quang hợp), cổ lá và bẹ lá.
Bông lúa gồm các phần chính: cổ bông, trục bông, gié chính, gié phụ và trên gié
đính nhiều hoa. Hạt lúa thuộc loại quả dĩnh, màu sắc hạt thay đổi tùy theo giống. Đa số
các hạt lúa đều có màu vàng. Bên trong hạt lúa là hạt gạo do bầu nhụy phát triển thành.
Hạt gạo gồm có vỏ cám, nội nhũ và phôi, trong đó nội nhũ chứa tinh bột. Hàm lượng
amylosepectin trong thành phần tinh bột hạt gạo càng cao tức hàm lượng amylose càng
thấp thì gạo càng dẻo.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến
dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: đạm, lân và kali là những chất cần thiết cho
những quá trình sống diễn ra trong cây lúa. Các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần
với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất (
10/039_vaitrophanbon.htm, 26/07/2013).
Đạm (nitrogen) là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất
diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân
( 26/07/13).
Khác với các cây trồng cạn, cây lúa nước chỉ hấp thu và sử dụng chủ yếu là đạm
ammonium, nhất là trong giai đoạn sinh trưởng ban đầu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Dù
cây lúa hút đạm ammonium nhanh hơn nitrat nhưng lại không tích lũy ammonium trong
tế bào lá, lượng ammonium dư thừa sẽ được kết hợp thành asparagin ở trong lá. Nhưng
cây lúa sẽ tích lũy nhiều nitrat trong tế bào khi nồng độ nitrat trong môi trường cao. Về
mặt năng lượng sinh học, để đồng hóa đạm, trước hết đạm nitrat trước hết phải được khử
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 7 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
thành ammonium, nên việc đồng hóa đạm nitrat cần nhiều năng lượng hơn đạm
ammonium.
Lân (phosphate) là chất tạo năng lượng, là thành phần của những hợp chất quan
trọng cần trong quá trình chuyển hóa của cây lúa như ATP, NADP, Bên cạnh đó, lân
cũng góp phần thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích cây ra
rễ mạnh, hình thành nhiều nốt sần, hạt chắc ( />cau-dinh-duong-cua-cay-lua.html, 26/07/2013). Lân còn là thành phần cấu tạo acid nhân
(acid nucleic), thường tập trung nhiều trong hạt. Độ pH là yếu tố quyết định hàm lượng
lân di động trong dung dịch đất. Ở pH = 4-8, các ion chủ yếu có mặt trong dung dịch đất
là H
2
PO
4
1,527 kJ (365 kcal)
Pantothenic acid (B5)
1,014 mg (20%)
Đường bột
80 g
Vitamin B6
0,164 mg (13%)
- Đường
0,12 g
Calcium
28 mg (3%)
- Chất xơ
1,3 g
Sắt
0,80 mg (6%)
Chất béo
0,66 g
Magnesium
25 mg (7%)
Protein
7,13 g
Manganese
1,088 mg (52%)
Nước
11,61 g
Phosphorus
115 mg (16%)
Thiamine (vit. B1)
0,0701 mg (6%)
Potassium
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 9 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
2.3. Vi khuẩn nội sinh
Vi khuẩn nội sinh được định nghĩa là vi khuẩn được phát hiện bên trong thực vật mà
bề mặt đã được khử trùng hoặc dịch trích thực vật và không có những tác động gây hại
trên thực vật (Mano và Morisaki, 2008). Vi khuẩn nội sinh được biết đến từ hơn một trăm
năm về trước, sự hiện diện của những vi khuẩn này trong mô của thực vật khỏe mạnh lần
đầu tiên được báo cáo vào năm 1926. Thuật ngữ vi sinh vật nội sinh được dùng để chỉ sự
phát triển của vi khuẩn hoặc vi nấm bên trong cây. Vi khuẩn nội sinh được định nghĩa
theo nhiều cách và những định nghĩa này được sửa đổi ngày một hoàn thiện hơn.
Vi khuẩn nội sinh có thể sống bắt buộc trong mô thực vật suốt dòng đời của nó hoặc
không. Những vi khuẩn sống bắt buộc trong thực vật phải phụ thuộc vào cây chủ để sinh
trưởng và phát triển; và chúng có thể truyền qua cây chủ khác theo chiều dọc hoặc thông
qua vector. Ngược lại, những vi khuẩn không sống bắt buộc trong mô thực vật có giai
đoạn trong chu kỳ sống trải qua bên ngoài cây chủ, mà chủ yếu là môi trường đất.
Sự thích nghi của vi khuẩn bên trong thực vật được cho là kết quả của của quá trình
chọn lọc tự nhiên. Vi khuẩn nội sinh có thể thúc đẩy tăng trưởng và năng suất cho cây chủ
và được xem như tác nhân kiểm soát sinh học (Ryan, 2008) vì chúng có khả năng chống
lại mầm bệnh như nấm, vi khuẩn, tuyến trùng,… gây bênh cho cây trồng (Cao Ngọc Điệp,
2010).
2.3.1. Các nhóm vi khuẩn nội sinh
Vi khuẩn nội sinh tồn tại trong cây chủ không bị giới hạn bởi một loài duy nhất mà
bao gồm nhiều chi và loài (Ryan et al., 2008). Mundt và Hinkle (1976) báo cáo rằng có
khoảng 46 loài vi khuẩn nội sinh khác nhau từ 27 loài thực vật.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 10 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
2.3.2. Một số đặc tính của vi khuẩn nội sinh
2.3.2.1. Khả năng cố định đạm
Cố định đạm sinh học là một quá trình được thực hiện bởi vi khuẩn, trong đó,
nitrogen phân tử được biến đổi thành nitrogen nguyên tử, sau đó thành dạng đạm vô cơ
phân tử ammonia, tiếp đó, vi khuẩn sẽ chuyển hóa tiếp một phần thành dạng hữu cơ
amino acid để sử dụng cho bản thân vi khuẩn (Cao Ngọc Điệp, 2011). Trong không khí,
nitrogen rất bền, chiếm 78,6% theo thể tích và 75,5% theo khối lượng. Thông thường,
thực vật không thể trực tiếp sử dụng nitrogen trong không khí. Tuy nhiên, nhờ những vi
khuẩn có khả năng cố định đạm mà cây trồng có thể sử dụng nguồn niitrogen dồi dào này.
Đạm là dưỡng chất chính giới hạn sự phát triển của lúa, lúa cần 1 kg đạm để sản
xuất ra 15-20 kg lúa hạt (Ladha và Reddy, 2003). Để đảm bảo an toàn thực phẩm thông
qua nền nông nghiệp bền vững, nhu cầu cố định đạm sinh học ngày càng được quan tâm
hơn là sử dụng đạm được cố định bằng con đường công nghiệp.
Sự chuyển N
2
thành ammonia được xúc tác bởi nitrogenase. Enzyme này là một
phức hệ metalloenzyme, chứa 2 thành phần protein: protein-Fe và protein Fe-Mo
(Jacobson et al., 1989). Các thành phần cũng hoạt động của nitrogenase được mã hóa và
điều khiển bởi gen nif – được tìm thấy trên bộ nhiễm sắc thể của của vi khuẩn cố định
đạm và vi khuẩn lam, tuy nhiên, chúng thường được tìm thấy trên plasmid của vi khhuẩn
cùng với những gen khác liên quan đến sự cố định đạm (wikipedia.org, 2013).
Theo Cao Ngọc Điệp (2011), phản ứng khử N
2
dưới sự xúc tác của enzyme
nitrogenase được tóm tắt như sau:
N
2
+ 6e
-
+ 12ATP +12H
2.3.2.2. Khả năng hòa tan lân khó tan
Lân hiện diện trong đất được phân loại thành lân tan, lân vô cơ không tan và lân hữu
cơ không tan (Kucey et al., 1989). Cây trồng chỉ có thể sử dụng được lân từ đất dưới dạng
hòa tan trong dung dịch đất. Tỷ lệ lân hòa tan trong dung dịch đất chiếm rất nhỏ do khả
năng phản ứng cao. Lân vô cơ tan trong dung dịch đất tồn tại chủ yếu ở dạng
orthophosphate bậc một hoặc bậc hai tùy thuộc vào pH môi trường và đây cũng là loại lân
mà tế bào hấp thụ nhiều nhất. Tuy nhiên, dạng lân tồn tại phổ biến trong đất lại là lân vô
cơ khó tan như apatite, hydroxyapatite và oxyapatite (Cao Ngọc Điệp, 2011). Tuy nhiên,
những dạng lân không tan này lại là nguồn dự trữ lân cho cây, trong điều kiện thích hợp
chúng có thể chuyển thành dạng hòa tan và trở nên sẵn sàng cung cấp cho thực vật. (Cao
Ngọc Điệp et al., 2012). Phosphate vô cơ có thể được tìm thấy ở dạng kết hợp với sắt,
nhôm, manganese mà chúng cũng khó tan và đồng hóa.
Hầu hết đất nông nghiệp chứa lượng lớn lân, một phần đáng kể trong đó được tích tụ
là kết quả của việc bón phân thường xuyên. Tuy nhiên, một lượng lớn phosphate vô cơ
hòa tan cung cấp cho đất dưới dạng phân bón hóa học thì nhanh chóng bị cố định và trở
thành dạng khó sử dụng với cây. Hiện tượng cố định và kết tủa lân trong đất thường phụ
thuộc lớn vào pH và dạng đất. Về dạng phosphate hữu cơ, do chiếm tỉ lệ thấp trong đất
khoáng nông nghiệp nên vai trò của dạng phosphate này trong đất thường được bỏ qua
(Dalal, 1977). Phosphate hữu cơ trong đất chủ yếu ở dạng inositol phosphate (phytate đất)
(Cao Ngọc Điệp, 2011).
Theo Cao Ngọc Điệp (2011), nhiều loài vi khuẩn có khả năng chuyển hóa dạng lân
khó tan trong đất như calcium monohydrogen phosphate (CaHPO
4
), calcium
monohydrogen dihydrat phosphate (CaHPO
4
.2H
2
O), calcium orthophosphate (Ca
3
Tryptophan => indole-3-pyruvic acid =>indole-3-acetaldehyde => IAA
- Lộ trình tryptamine
Tryptophan => tryptamine => indole-3-acetaldehyde => IAA
- Lộ trình indole-3-acetamine
tryptophan => indole-3-acetamine => IAA
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 14 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học Hình 3. Sơ đồ lộ trình tổng hợp IAA ở Enterobacter cloacae
(*Nguồn: Koga et al., 1991)
IAA được hình thành theo ba con đường: khử amin (deamination), khử carbon
(decarboxylation) và thủy giải (hydrolysis) (Cao Ngọc Điệp, 2011). Những vi khuẩn nội
sinh có khả năng tổng hợp IAA là do chúng chứa những enzyme đặc hiệu thuộc nhóm
dehydrogenase.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 15 Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm và thời gian thực hiện
Thí nghiệm được thực hiện tại phòng Vi sinh vật đất và phòng Vi sinh vật môi
trường thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học (Viện NC&PT CNSH),
trường Đại học Cần Thơ.
Thời gian thực hiện: từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013.
3.2. Phương tiện nghiên cứu
3.2.1. Vật liệu thí nghiệm
Dung dịch nguyên tố vi lượng
(a)
2 ml/l
Dung dịch vitamin
(b)
1 ml/l
Bromothymol blue 0,5% trong KOH 0,2N
2 ml/l
Agar
Môi trường đặc: 18 g/l
Môi trường bán đặc: 1,8 g/l
pH
5,5
(a)
Dung dịch nguyên tố vi lượng gồm: 0,4 g/l CuSO
4
; 0,12 g/l ZnSO
4
.7H
2
O; 1,4 g/l H
3
BO
3
; 1,5 g/l MnSO
4
.H
2
4
0,52
Na
2
SO
4
0,05
CaCl
2
0,2
MgSO
4
.7H
2
O
0,1
FeSO
4
.7H
2
O
0,005
Na
2
MoO
4
.2H
0,2
(NH
4
)
2
SO
4
0,1
pH
7,0
Hóa chất khác:
EDTA (C
10
H
16
N
2
O
8
), phenol (C
2
H
5
OH), sodium nitroprusside (Na
2
[Fe(CN)
5
NO]),