TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BÍ ĐỎ, MƯỚP,
BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT DƯA LEO,
VỤ XUÂN HÈ 2012
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: NÔNG HỌC
PGS. TS. Trần Thị Ba Phạm Thị Hồng Nhung
ThS. Võ Thị Bích Thủy MSSV: 3103518
Lớp: NÔNG HỌC – K36
Cần Thơ, 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
ẢNH HƢỞNG CỦA GỐC GHÉP BÍ ĐỎ, MƢỚP,
BÌNH BÁT DÂY ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT DƢA LEO,
VỤ XUÂN HÈ 2012 S: Phạm Thị Hồng Nhung
Thành viên Hội đồng
Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3 ………………………. ……………………… ………………………
DUYỆT KHOA
iv
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I. Lí lịch sơ lƣợc
05/08/1992
.
Và bà:
.
II. Quá trình học tập
1. Tiểu học
Xin chân thành cảm ơn
Luân,
Thân gửi về
lai!
Phạm Thị Hồng Nhung
vi
Ảnh hƣởng của gốc ghép bí đỏ, mƣớp, bình bát
dây đến sinh trƣởng và năng suất dƣa leo, vụ Xuân Hè 2012
, Khoa
. .
TÓM LƢỢC
, p sinh
và
ba là
, (3)
D 75 m
2
7
7
1.4.3 Bình bát dây 8
8
8
9
10
11
11
CHƢƠNG 2 PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP 13
viii
2.1 13
2 13
13
13
2.2 14
14
14
tiêu theo dõi 17
18
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19
3.1 G 19
3.2 19
19
21
3.2.3 23
3.3.4 Kích 26
3.3 27
27
T Xuân
Hè
21
3.3
nhau
Xuân Hè
22
3.4
HCT, Xuân Hè
23
3.5
(cm)
nhau
24
3.6
(cm)
25
3.7
T (%)
khoa NN &
26
3.8
2
), (%)
31
xi
DANH SÁCH HÌNH
Hình
hình
Trang
2.1
tháng 3-
13
2.3
15
2.4
Qu
16
3.1
26
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
NN &
NSKG: Ngày sau khi gieo
bình bát dây
1
MỞ ĐẦU
Dưa leo (Cucumis sativar L.) là loại rau ăn trái rất được ưa chuộng và được
trồng rộng rãi do có chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng cần thiết cho con
người, dưa leo có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng lại cho giá trị kinh tế khá cao.
Tuy nhiên, việc canh tác liên tục nhiều vụ trên cùng một diện tích, nông dân gặp
phải nhiều khó khăn mà lớn nhất là vấn đề lưu tồn mầm bệnh trong đất, đặc biệt là
bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum. Để ngăn ngừa bệnh này thì người nông
dân thường sử dụng thuốc hóa học vừa làm gia tăng chi phí sản xuất vừa không
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong khi đó, ghép là một giải pháp hiệu quả
để giúp cây trồng chống chịu trước những bất lợi của môi trường. Gần đây các
nghiên cứu ghép gốc đã được áp dụng thành công và mang lại hiệu quả cao trong
việc kháng một số mầm bệnh trong đất như: ghép cà chua lên gốc cà tím để kháng
bệnh héo xanh do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum hay ghép dưa hấu lên gốc
bầu để kháng bệnh chạy dây do nấm Fusarium oxysporum. Tuy nhiên, hiện nay
nay.
1.1.2 Phân loại
Theo Tạ Thu Cúc (2005), thì dưa leo được chia làm 3 loại là dưa leo
thường, dưa leo lưỡng tính và dưa leo hoang dại. Còn Mai Thị Phương Anh
(1996), thì dưa leo được chia làm 3 nhóm là loài phụ Đông Á (ssp. Rigidus Gab.)
loài phụ Tây Á (ssp. Graciolor Gab.) và loài dưa leo hoang dại (ssp. Agrotis Gab.,
var. hardwickii). Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (1999), thì các giống
dưa leo được chia làm 2 nhóm: dưa leo địa phương và dưa leo nhập. Nhưng theo
Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), thì dưa leo được chia làm 2 nhóm là nhóm trồng
giàn, giống trồng trên đất.
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng và công dụng
Dưa leo là loại rau ăn trái chứa hàm lượng dinh dưỡng và năng lượng thấp
nhưng có hàm lượng vitamin và khoáng chất cao. Hàm lượng protein cao nhất (0,7
mg/100 g trọng lượng tươi) trong họ bầu bí (Trần Thế Tục, 2000). Các thành phần
3
có trong 100 g trái tươi gồm 95% nước, 16% calo, 3% gluxit, 0,8% protit, 0,7%
xenlulose, 23 mg calcium, 27 mg phosphorus, 1 mg sắt, 0,03 mg vitamin B1, 5 mg
vitamin C, 0,04 mg vitamin B2 và 1 g caroten (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công
Hoan, 2005). Nhân hạt chứa khoảng 42% dầu béo và 42% protein. Ngoài ra trái
còn chứa enzym là erepsin - enzym thủy phân protein, acid ascorbic oxydaza,
succinic và malic dehydrogen, chất thơm.
Theo các nhà Đông y, dưa leo vị ngọt, tính hàn có tác dụng thanh nhiệt, giải
khát, làm thuốc trong các trường hợp sốt nhẹ, nhiễm độc đau bụng, thống phong,
tạng khớp, bệnh sởi và nhiễm trực khuẩn E.coli. Dùng ngoài để trị ngứa, nấm
ngoài da. Rễ và lá cũng được sử dụng trị sưng đau, chữa ngộ độc. Ngoài ra dưa leo
là một sản phẩm có thể hỗ trợ giảm cân, là mỹ phẩm từ thiên nhiên. Dưa leo là một
loại cây ăn trái có khả năng xuất khẩu dưới dạng dưa muối hoặc ngâm giấm
(Dương Quang Diệu, 1984).
1.1.4 Tình hình sản xuất dưa leo
nhiều tua cuốn để bám khi bò, tua cuốn màu xanh lục nhạt, mảnh, tiết diện gần
tròn, mặt trên có rãnh ở giữa. Thân và tua cuốn có lông cứng màu trắng, có lông
nhiều hay ít tùy thuộc vào giống. Thân chính thường phân nhiều nhánh nhưng
cũng có nhiều giống dưa leo hoàn toàn không phân nhánh, đặc tính phân nhánh
của dưa leo còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ vào ban đêm (Trần Thị Ba và ctv.,
1999). Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập
những rễ bất định (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Theo Nguyễn Văn Thắng và
Trần Khắc Thi (1999), chiều cao thân phụ thuộc chủ yếu vào giống, điều kiện
ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc. Đường kính thân là một trong những chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá tình hình sinh trưởng của cây, đường kính gốc thân lớn có
thể hút nước và dinh dưỡng mạnh, góp phần gia tăng năng suất và phẩm chất trái.
Đối với những giống trung bình và giống muộn đường kính đạt gần 1 cm là cây
sinh trưởng tốt (Tạ Thu Cúc, 2005).
Lá: Hai lá mầm hình trứng, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự đoán
tình hình sinh trưởng của cây (Tạ Thu Cúc, 2005). Dưa leo có lá thật dạng lá đơn,
mọc cách trên thân, lá màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới, lá thật có 5
cánh, có dạng lá tròn hoặc lục giác, rìa lá nguyên hay có răng cưa, trên lá có lông
cứng, ngắn, màu sắc lá thay đổi. Số lá nhiều hay ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
và phát triển của các giống, giúp các giống cho năng suất và phẩm chất trái cao
(Phạm Thị Minh Tâm, 2000). Số lá trên thân chính nhiều hay ít có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình quang hợp tạo vật chất nuôi trái, ảnh hưởng đến năng suất
dưa leo (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Hoa: Đơn tính đồng chu hay biệt chu, đôi khi cũng có hoa lưỡng tính. Hoa
cái mọc ở nách lá thành đôi hay nằm đơn độc, hoa đực mọc thành cụm 5-7 hoa
(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu
noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi nở (Phạm Hồng Cúc và ctv.,
1999). Các giống dưa leo ở Đồng bằng sông Cửu Long thường ra hoa sớm, bắt đầu
ở nách lá thứ 4 và thứ 5 trên dây chính, sau đó hoa sẽ nở liên tục trên thân chính và
nhánh (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Theo Phạm Hồng Cúc và ctv. (2001), trong
điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây có nhiều
nếu kéo dài nhiệt độ 35-40
o
C cây sẽ chết. Ngược lại, dưa leo chịu nhiệt độ thấp rất
kém, nhiệt độ thấp hạt không nảy mầm, cây con kém phát triển và có thể làm chết
cây con do rễ cây không hút được nước từ đất. Ở nhiệt độ thích hợp, cây ra hoa cái
ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm. Nhiệt độ càng thấp, thời gian này càng kéo dài.
Tổng tích ôn từ lúc hạt nảy mầm đến thu trái đầu ở các giống địa phương là 900
o
C,
đến hết thu hoạch là 1650
o
C (Mai Thị Phương Anh, 1996). Dưa leo yêu cầu khí
hậu ấm áp và khô ráo để sản xuất lớn, rất mẫn cảm với sương giá đặc biệt là nhiệt
độ thấp khi có tuyết (Bàn Minh Đoàn, 2005).
1.3.2 Ánh sáng
Dưa leo cũng giống như các cây khác trong họ bầu bí ưa ánh sáng ngày
ngắn. Cây thích hợp cho sinh trưởng và phát dục ở độ dài chiếu sáng là 10-12
giờ/ngày (Mai Thị Phương Anh, 1996; Tạ Thu Cúc, 2005). Cường độ ánh sáng
thích hợp cho dưa leo trong phạm vi 15.000-17.000 lux (Mai Thị Phương Anh,
1996). Ánh sáng nhiều làm trái lớn nhanh, mập, chất lượng tốt, có nhiều lá và sai
trái (Nguyễn Xuân Giao, 2012). Ánh sáng yếu và thiếu sẽ làm cho cây sinh trưởng
phát triển kém, ra hoa muộn, màu sắc hoa nhạt vàng úa, hoa dễ bị rụng (Bàn Minh
Đoàn, 2005). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưa leo dễ dàng ra hoa trái quanh
năm (Trần Thị Ba và ctv,. 1999).
1.3.3 Ẩm độ
Yêu cầu ẩm độ về đất của dưa leo rất lớn 85-95% đứng đầu trong họ bầu bí
nhất là thời kỳ phát triển trái (Trần Thị Ba và ctv,. 1999). Độ ẩm không khí 90-
95%. Cây dưa leo rất yếu chịu hạn. Thiếu nước cây không những sinh trưởng kém
6
hoa đực nhiều, có hoa cái đầu tiên, bộ rể sinh trưởng nhanh hơn thân lá nên xảy ra
hiện tượng lốp (sinh trưởng mất cân đối, thân lá nhiều, hoa cái ít).
Thời kì ra hoa, kết trái: Ra hoa, đậu trái tập trung, thân, lá, rễ phát triển tối
đa. Thân vượt hơn rễ và cho lứa trái đầu, do đó yêu cầu nước và dinh dưỡng nhất
(Trần Thị Ba và ctv., 1999). Bên cạnh đó, thân lá sinh trưởng mạnh, thân chuyển
sang dạng bò, các nhánh cấp 1 cấp 2 và tua cuốn được hình thành liên tục, cây
nhanh chống chiếm diện tích dinh dưỡng (Tạ Thu Cúc, 2005).
7
Thời kì già cổi: Trái tập trung đến cây tàn, sinh trưởng thân lá giảm nhanh;
hoa, trái ít, dị dạng nhiều, năng suất và chất lượng giảm đi rõ rệt (Trần Thị Ba và
ctv., 1999).
1.4 Khái quát về gốc ghép
1.4.1 Bí đỏ
Bí đỏ có tên khoa học là Cucurbita moschata thuộc họ Cucurbitaceae có
nguồn gốc Trung Mỹ, gồm 25 loài (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001). Trong đó, có 5
loài là cây trồng, ở Việt Nam có 3 loài được trồng là: bí đỏ, bí rợ (Cucurbita
maxima Duch. Ex Lamk); bí ngô, bí thơm (C. moschata Duch. Ex Lamk); và một
loài nữa cũng được gọi là bí ngô (C. pepo L) (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004).
Bí đỏ còn có tên gọi khác là bí rợ, là cây thân thảo sống một năm. Thân bò
hoặc leo, dài 4-5 m, có nhiều tua cuốn, phân nhánh mạnh. Các đốt thân có khả
năng ra rễ bất định. Hệ rễ phát triển mạnh, rễ chính ăn sâu và rễ phụ lan rộng nên
khả năng chịu hạn tốt. Lá đơn, mọc nách, cuống dài. Phiến lá rộng, chia thùy, có
nhiều lông cứng nhọn nên mặt lá rất nhám, lá già có màu lóm đốm trắng. Hoa đơn
tính cùng cây, cánh hoa lớn, màu vàng, thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng. Quả tròn
hoặc dài tùy giống, cuống dài (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).
Hạt màu trắng sáng dạng trứng, dài 7-15 mm, rộng 8-9 mm, dày 2 mm (Võ Văn
Chi, 2003). Một trái bí đỏ có rất nhiều hạt, hạt dễ nảy mầm nên khả năng nhân
giống cao. Người ta thường lấy hạt của trái bí già, rửa sạch rồi phơi khô và bảo
quản khi gieo (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004).
vùng cao tới 1500 m, có thể thu hái các bộ phận quanh năm (Võ Văn Chi, 2003).
Bình bát dây là cây có dạng dây leo đa niên, tua cuốn đơn. Rễ khỏe có củ
nên cây sinh trưởng mạnh hơn các cây thuộc họ bầu bí khác. Cây tăng trưởng
nhanh, chiều dài thân chính có thể lên đến vài mét (Csurhes Steve, 2008). Lá hình
5 cạnh, có răng, rộng 5-8 cm, hình tim ở gốc, rất nhẵn, chia 5 thùy hình tam giác,
có mũi nhọn cứng, lá được bố trid xen kẽ dọc theo thân. Hoa đục và hoa cái giống
nhau, mọc đơn đọc hay đôi khi có hai cái mọc ở nách lá,có cuống dài 2 cm, ra hoa
kết trái gần như quanh năm. Trái hình trứng ngược hay thuôn, dài 5 cm, rộng 2,5
cm. khi chín có màu đỏ, thịt trái đỏ và có nhiều hạt.
Lá non và trái của bình bát dây được dùng làm rau ăn (Võ Văn Chi, 2003).
Ở Campuchia người ta dùng dịch chiết từ thân cây để trị bệnh đau giác mạc. Còn ở
Ấn Độ người ta dùng dịch lá và rễ bình bát dây trị bệnh đái đường, cả cây dùng
làm thuốc trị bệnh lậu. Ở Inđônêsia dung làm thuốc trị bệnh đậu mùa, đau dạ dày
và ruột. Theo Lê Trần Đức (1997), thì dùng rễ và củ sắc uống để trị giun sán, lấy
thân dây nấu nước tắm trị ghẻ.
1.5 Khái quát về ghép và một số kết quả nghiên cứu về bầu bí dƣa ghép
1.5.1 Khái niệm về ghép
Ghép là một phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách
đem gắn một phần của cây giống (gọi là cành ghép) sang một cây khác (gọi là gốc
ghép), thông qua việc áp sát mô phân sinh ngang (tượng tầng) để tạo nên một cây
mới (sống cộng sinh) giữ được những đặc tính di truyền của cây giống ban đầu và
những đặc tính chống chịu quý của gốc ghép (Phạm Văn Côn, 2007). Cơ chế của
9
ghép cây có thể được hiểu như sau: đầu tiên là sự kết hợp giữa phần tượng tầng
gốc ghép và ngọn ghép, sự đáp ứng của vết thương, sự thành lập cầu callus và cuối
cùng là sự sửa chữa vết thương (Nguyễn Bảo Toàn, 2007). Sau khi áp sát hai phần
tượng tầng của gốc ghép và ngọn ghép lại với nhau thì trước tiên những tế bào bị
thương tổn thương của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các
tế bào nhu mô dưới lớp ngăn cách này phân chia rất nhanh hình thành mô liên hợp
chất di truyền của cây làm ngọn ghép. Gốc càng khỏe, càng thich nghi với điều
10
kiện khí hậu, đất đai của địa phương thì cây ghép sinh trưởng càng tốt, tuổi thọ
càng dài.
Theo Trần Thế Tục (2000), trong quá trình ghép tượng tầng của gốc ghép
và ngọn ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và tái sinh của tượng tầng mà
gốc ghép và ngọn ghép gắn liền nhau. Sau khi được gắn liền các mô mềm chổ tiếp
xúc giữa gốc ghép và ngọn ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ
thống mạch dẫn, do đó nhựa nguyên và nhựa luyện giữa gốc ghép và ngọn ghép
lưu thông nhau được.
Mối quan hệ giữa gốc ghép và ngọn ghép được thể hiện ở sức tiếp hợp của
chúng. Thông thường sức tiệp hợp giữa gốc ghép và ngọn ghép được đánh giá
bằng tỉ số tiếp hợp T (Phạm Văn Côn, 2007).
T=đường kính gốc ghép/ đường kính ngọn ghép
T=1: Cây sinh trưởng phát triển bình thường do thế sinh trưởng của gốc
ngọn ghép tương đương thế sinh trưởng của gốc ghép.
T>1: Cây ghép có hiện tượng chân voi (gốc lớn hơn thân), cây ghép vẫn
sinh trưởng bình thường, tuy nhiên T càng gần 1 thì tốt hơn là T càng xa 1. T càng
xa 1, thế sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn gốc ghép, biểu hiện là cây ghép hơi
cằn cỏi, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều.
T<1: Cây ghép có hiện tượng chân hương (gốc nhỏ hơn thân). Thế sinh
trưởng của ngọn mạnh hơn gốc. Phần ngọn bị nứt vỏ nhiều hơn phần gốc, cây
ghép sinh trưởng kém dần, tuổi thọ ngắn.
1.5.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp ghép
Ưu điểm: Ghép dưa là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất để có thể trồng
dưa liên tục nhiều năm mà cây con không bị héo rũ do nấm Fusarium sp tấn công
(Phạm Hồng Cúc, 2001). Theo Oda (1995) thì cây dưa leo ghép sẽ giảm tác nhân
gây bệnh từ đất, gia tăng tính chống chịu với nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá,
chống chịu với độ mặn hoặc úng nước, tăng cường sức sống cho cây, tăng năng