Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt nam sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại,
an ninh quốc phòng. Đặc biệt là có sự đổi mới về cơ chế quản lý từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Hơn nữa, Việt
Nam đang từng bước mở cửa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới chung, mang đến
nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp. Trong môi trường đầy cạnh tranh giữa
doanh nghiệp nội và ngoại như vậy, mỗi doanh nghiệp của Việt Nam phải không ngừng
học hỏi, đổi mới, phải luôn giữ được thế chủ động trên thương trường. Doanh nghiệp
phải trả lời được bốn câu hỏi: Biết mình đang ở đâu?, Mình muốn đi tới đâu?, Mình phải
làm gì? Và cần phải làm như thế nào?. Đây chính là một phần mục tiêu mà một bản kế
hoạch của doanh nghiệp hướng tới. Trong đó lập kế hoạch là khâu giữ vị trí quan trọng
hàng đầu trong công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sản
xuất.
Công ty cổ phần 26 là một trong những doanh nghiệp của ngành Quân nhu, là một
doanh nghiệp sản xuất với nhiều ngành hàng như sản phẩm may, sản phẩm giầy, sản
phẩm đồ gỗ và sản phẩm nhựa. Trong suốt 32 năm hoạt động ( 1978- 2010) công ty luôn
khẳng định là một doanh nghiệp quốc phòng phát triển sản xuất có hiệu quả. Để bắt nhịp
với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà, công ty đã và đang thực hiện nhiều
chương trình, kế hoạch và chiến lược mới. Là một doanh nghiệp sản xuất nên công tác
lập kế hoạch sản xuất có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Kế hoạch hóa sản xuất nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất
sẵn có để sản xuất ra sản phẩm, nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo khả năng
hoạt động tốt của hệ thống sản xuất, quản lý tốt các nguồn lực và có các quyết định đầu
tư phù hợp.
Trên cơ sở kiến thức được học và nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập tại công
ty cổ phần 26, em nhận thấy công tác lập kế hoạch sản xuất là phần quan trọng trong
công tác quản lý sản xuất của công ty, em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Hoàn
thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần 26”.
tập thể cán bộ công nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh công ty cổ phần 26 đã tận
tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG
DOANH NGHIỆP
I. TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH HÓA TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm.
Khi tìm hiểu về một thuật ngữ, chắc chắn ta sẽ nhận được nhiều luồng thông tin
không hẳn giống nhau. Vì đơn giản, theo thời gian khái niệm về thuật ngữ ấy sẽ được
nhìn nhận dưới nhiều góc độ hơn. Khái niệm về kế hoạch hóa cũng có nhiều nghĩa
khác nhau và đã từng là chủ đề của nhiều ý kiến trái ngược, cho dù nó liên quan đến
doanh nghiệp hay là nền kinh tế quốc dân.
Hiểu một cách tổng quát nhất, kế hoạch hóa là một phương thức quản lý theo mục
tiêu, nó “ là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật
xã hội và tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vị kinh
tế- kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo những
mục tiêu thống nhất”
(1)
Theo cách hiểu trên, kế hoạch hóa được thực hiện ở nhiều quy mô, phạm vi khác
nhau như: kế hoạch hóa kinh tế quốc dân , kế hoạch hóa theo vùng, theo địa phương,
kế hoạch hóa ngành, lĩnh vực, kế hoạch hóa doanh nghiệp
(2)
. “ Kế hoạch hóa doanh
nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn
về trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện
mong muốn đó”
tính năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp; nền kinh tế bị mất
động lực phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, nhất là trong
logic của kinh tế cầu; hạn chế tính năng động về công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới vì
việc cho ra đời các sản phẩm mới không được gắn chặt với cơ chế khuyến khích và
hiệu quả kinh tế rất thấp.
2.2. Trong nền kinh tế thị trường.
Ngày nay trong cơ chế thị trường, kế hoạch hóa vẫn là cơ chế quản lý cần thiết, hữu
hiệu của các doanh nghiệp. Những vai trò chính được thể hiện cụ thể: Tập trung sự
chú ý các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu. Bản thân thị trường rất linh
hoạt và thường xuyên biến động, kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp các doanh
nghiệp dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra; có kế hoạch và tổ chức
quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lập trước, giúp doanh nghiệp ứng phó
những bất định và thay đổi của thị trường; công tác kế hoạch hóa tạo khả năng tác
nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp. Hình dung rõ hơn nếu đã từng ngắm từng bộ phận
lắp ráp ô tô trong một nhà máy lớn mà lại không có ấn tượng về cách thức và các dây
truyền phụ ghép nối với nhau. Từ hệ thống băng tải chính hình thành thân xe và các bộ
phận khác nhau được hình thành từ các dây truyền khác. Động cơ, bộ truyền lực và
các phụ kiện được đặt vào chỗ một cách chính xác đúng vào thời điểm đã định. Ví dụ
trên cho thấy, quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ thường được chia thành nhiều
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
công đoạn, nhiều chi tiết có liên quan chặt chẽ, mang tính dây truyền với nhau. Quá
trình đó cần phải được phân chia thành các tác nghiệp kinh tế, kỹ thuật chi tiết theo
thời gian và không gian. Công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn
nhận logic các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến
tới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng. Trên nền tảng đó, các nhà quản
lý thực hành các phân công, điều độ, tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo đúng
trình tự, bảo đảm cho sản xuất sẽ không bị rối loạn và ít bị tốn kém.
3. Hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp.
- Kế hoạch tác nghiệp: Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược
thành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổ
các hoạt động của các doanh nghiệp, nhằm thực hiện được các mục tiêu của kế hoạch
chiến lược. Kế hoạch tác nghiệp được thể hiện cụ thể ở những bộ phận kế hoạch
riêng biệt trong tổng thể hoạt động kinh doanh như: kế hoạch sản xuất, kế hoạch
marketing, kế hoạch tài chính, nhân sự của doanh nghiệp.
II. KẾ HOẠCH HÓA SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP.
Kế hoạch hóa được xem như là một quá trình nhiều giai đoạn có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau, đó là: lập kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch, theo dõi kiểm tra,
điều chỉnh kế hoạch và đánh giá kế hoạch. Trong đó, bước lập kế hoạch là khâu đầu
tiên và đóng vai trò quan trọng nhất.
(4)
1. Khái niệm lập kế hoạch.
Là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất chính sách giải
pháp áp dụng. Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch của doanh
nghiệp được hình thành. Bản kế hoạch của doanh nghiệp là hệ thống các phương
hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần
thiết cho việc thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp đặt ra trong thời kỳ kế hoạch
nhất định.
(5)
2. Quy trình lập kế hoạch trong doanh nghiệp.
(4)
ThS. Bùi Đức Tuân ( 2005), Kế hoạch kinh doanh- NXB Lao động Xã hội, tr 48
(5)
ThS. Bùi Đức Tuân ( 2005), Kế hoạch kinh doanh- NXB Lao động Xã hội, tr11
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Hình 1. Các bước soạn lập kế hoạch
tiêu
Chương
trình,
dự án
Đánh giá
và hiệu
chỉnh các
pha của
kế hoạch
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
+ Đánh giá các phương án lựa chọn: sau khi tìm được các phương án có nhiều triển
vọng nhất cần tiến hành đánh giá và xem xét điểm mạnh, yếu của từng phương án
dựa trên cơ sở định lượng các chỉ tiêu của từng phương án.
+ Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược: việc quyết định chọn một trong số
các phương án kế hoạch chiến lược phụ thuộc vào những ưu tiên về mục tiêu cần
thực hiện trong thời kỳ kế hoạch. Trong quá trình lựa chọn phương án cũng cần
phải lưu ý đến những phương án dự phòng và những phương án phụ để sử dụng
trong những phương án cần thiết.
- Bước 4: Xác định các chương trình, dự án. Việc xác định các chương trình gồm:
xác định các mục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành; các nguồn lực cần sử dụng và
các yếu tố khác cần thiết để tiến hành chương trình hành động cho trước; những yêu
cầu về ngân sách cần thiết. Các dự án được xác định gồm: các thông số về tài chính
và kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và sử dụng nguồn lực, hiệu quả
kinh tế tài chính.
- Bước 5: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng và ngân sách. Mục tiêu của
các kế hoạch kinh doanh thường hướng tới là: đáp ứng đòi hỏi của thị trường; nâng
cao hoạt động hiệu quả kinh doanh, quản lý một cách có hiệu quả hơn các nguồn lực;
đảm bảo thực hiện chiến lược kinh doanh đã chọn: thực hiện các mục tiêu chiến
lược, kiểm soát quá trình triển khai chiến lược. Để thực hiện được những mục tiêu
Các nhà
QL cấp cao
Các nhà quản lý
cấp trung
Các nhà quản lý
Lập các kế hoạch tác nghiệp cấp thấp
3.3. Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Kết Hình Tăng Chín Suy
Quả thành trưởng muồi thoái
Kinh
Doanh
Thời gian
Hình 2: Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là: hình thành,
tăng trưởng, chín muồi, suy thoái. Với mỗi chu kỳ thì việc lập kế hoạch là không
giống nhau. Qua các giai đoạn khác nhau thì độ dài và tính cụ thể của các kế hoạch là
khác nhau.
3.4. Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh.
Lập kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình huống không
chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong môi trường nền
kinh tế và môi trường ngành. Môi trường càng bất ổn thì kế hoạch càng mang tính
định hướng và ngắn hạn bấy nhiêu. Công việc của các nhà lập kế hoạch là phải đánh
đạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn kịp thời.
Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin là quan trọng nhất, là cơ sở của công tác
lập kế hoạch. Khi lập kế hoạch nhà saonj lập cần dựa vào thông tin về các nguồn nhân
lực, tài lực, vật lực và mối quan hệ tối ưu giữa chúng, làm cho chúng thích nghi với
sự biến động của môi trường, đảm bảo tạo ra khối lượng sản phẩm lớn nhất bằng chi
phí nhỏ nhất. Đồng thời trong quá trình thực hiện kế hoạch thì chúng ta cần phải dựa
vào các thông tin phản hồi để có những điều chỉnh phù hợp.
3.8. Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho quá trình lập kế hoạch đạt kết quả và hiệu quả.
Trên thực tế, những kế hoạch tốt nhất cũng có thể không được thực hiện như ý
muốn. Lãnh đạo cũng như cấp dưới của họ đều có thể mắc sai lầm và kiểm tra cho
phép chủ động phát hiện, sửa chữa các sai lầm đó trước khi chúng trở nên nghiêm
trọng để mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành theo đúng kế hoạch đã đề ra.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
3.9. Năng lực của chuyên gia lập kế hoạch.
Năng lực các chuyên gia lập kế hoạch có ảnh hưởng lớn đến công tác xây dựng kế
hoạch, các nhà lập kế hoạch phải có kiến thức và trình độ tổng hợp để lập kế hoạch.
3.10. Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hóa của Nhà nước.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kế
hoạch sản xuất phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.
Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước ta đã cho
thấy, càng đi sâu vào cơ chế thị trường thì càng phát sinh thêm nhiều vấn đề mới cần
tiếp tục nghiên cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch hóa của Nhà
nước. Nhà nước cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trong nhiều
năm chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo
được yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước.
4. Quy trình lập kế hoạch sản xuất.
- Doanh nghiệp xác định các căn cứ nhất định để lập kế hoạch sản xuất. Đó là:
Công suất thực tế là công suất mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong khuôn
khổ những điều kiện sản xuất hiện tại.
Có hai biện pháp để đo lường năng lực sản xuất của một hệ thống: mức độ sử dụng
và hiệu suất sử dụng. Mức độ sử dụng là tỷ lệ phần trăm của công suất thiết kế hiện
đang được huy động. Còn hiệu suất là tỷ lệ phần trăm của công suất thực tế hiện đang
được huy động. Trên thực tế, thường hiệu quả hoạt động của thiết bị sản xuất được
đánh giá thông qua hiệu suất sử dụng.
5.1.2. Dự báo nhu cầu sử dụng công suất.
Thông thường việc xác định nhu cầu công suất phải trải qua hai bước: trước hết
doanh nghiệp tiến hành dự báo nhu cầu theo những phương pháp truyền thống, sau
đó những kết quả dự báo này sẽ được sử dụng để xác định nhu cầu công suất. Khi
quy mô công suất đã được dự báo, bước tiếp theo sẽ xác định quy mô gia tăng cận
biên của công suất.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Nếu không dự đoán được nhu cầu về công suất, doanh nghiệp có thể sử dụng các
mô hình xác suất. Một trong những kỹ thuật hay được áp dụng trong điều kiện nhu
cầu không chắc chắn lá lý thuyết ra quyết định, trong đó sử dụng cây ra quyết định.
Theo phương pháp này doanh nghiệp sẽ đưa ra một số phương án trang bị năng lực
sản xuất theo các quy mô khác nhau. Mỗi phương án có kết cục tùy theo cái gọi là
trạng thái tự nhiên của thị trường. Tính toán “ giá trị tiền tệ kỳ vọng”(EMV) của từng
phương án. Nó phụ thuộc vào mỗi trạng thái thị trường, so sánh các EMV với nhau
rồi ra quyết định.
5.2. Kế hoạch sản xuất tổng thể.
Kế hoạch sản xuất tổng thể liên quan đến việc xác định khối lượng và thời gian sản
xuất cho tương lai gần. doanh nghiệp phải căn cứ vào một loạt các ràng buộc: năng
lực sản xuất, kế hoạch bán hàng, các nguồn lực khác( nhân sự, vật liệu…), nếu không
làm hết có thể thuê gia công.
Thị trường Nghiên cứu
Dự trữ
thành phẩm
Nhân sự
Vật liệu
sẵn có
Thuê gia
công
Đơn hàng dự
báo bán hàng
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
mối liên hệ giữa các biến số( chẳng hạn giữa nhu cầu và lao động) trong các quyết
định tương lai.
5.3. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất.
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất trả lời cho câu hỏi: sản xuất cái gì?, bao nhiêu?, khi
nào? Kế hoạch chỉ đạo sản xuất chính là sự thể hiện kế hoạch tổng thể trên chương
trình chỉ đạo sản xuất tương ứng, thích hợp với khả năng sản xuất của các đơn vị
nhằm thỏa mãn tốt nhất các dự báo kế hoạch.
Sau khi đã có kế hoạch chỉ đạo sản xuất, doanh nghiệp sẽ phải dự tính nhu cầu và
năng lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất này. Nhu cầu ở đây sẽ bao
gồm các chi tiết, bán thành phẩm…cần thiết cho việc hoàn thành sản phẩm cuối cùng.
5.4. Kế hoạch nhu cầu sản xuất.
Để cho kế hoạch sản xuất tổng thể được cân đối, kế hoạch chỉ đạo sản xuất có thể
thực hiện được, cần giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu độc lập của khách hàng và
năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Mục đích của kế hoạch nhu cầu là để xác định nhu cầu các phương tiện và các yếu
tố sản xuất( lao động, máy móc thiết bị, diện tích sản xuất…). Phương pháp MRP đòi
hỏi phải phân biệt rõ rang hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ
thuộc.
- Nhu cầu độc lập: là những nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết, linh
bắt đầu sản xuất. Phương pháp này tiết kiệm được khâu lưu kho, nhưng rủi ro cao
vì nếu vướng phải một trục trặc nhỏ sẽ không đảm bảo thời hạn giao hàng.
• Phương pháp biểu đồ GANTT
Phương pháp này nhằm xác định thứ tự và thời hạn sản xuất của các công việc khác
nhau cần thiết cho một chương trình sản xuất nhất định. Để áp dụng phương pháp
này doanh nghiệp cần ấn định một chương trình sản xuất, xác định những công việc
khác nhau cần thực hiện và xác định thời gian cần thiết cho mỗi công việc cũng
như các mối quan hệ giữa chúng.
Ví dụ: Một công ty X vừa trúng gói thầu xây dựng nhà D2 trường ĐH Kinh tế Quốc
dân trong 7 tháng, từ tháng 1/2009. Chủ thầu đã thảo luận với bên tài chính của
trường các bước cơ bản tiến hành như sau:
Bảng 1: Các bước tiến hành dự án xây dựng nhà D2
Thứ tự
CV
Các bước công việc chính cần hoàn
thành
Công việc
trước đó
Thời hạn
hoàn thành
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
công việc
A Phá bỏ nhà E 0,5 tháng
Xây dựng nhà D2
B Mua sắm và chuẩn bị nguyên vật liệu A 1,5 tháng
C Xây dựng công trình thô B 4 tháng
D Mua sắm các trang thiết bị phòng học B 1 tháng
E
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Web : has.com.vn
Giấy phép kinh doanh số: 0103017307 do sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày
15/05/2007
Mã số thuế : 0100108818
Vốn điều lệ: 50 tỷ đồng
Số lượng CBCNV 950 người
Loại hình doanh nghiệp Công ty cổ phần
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Ngày 18/ 7/ 1978 Xưởng Quân dụng 26 Cục Quân nhu- Tổng cục hậu cần được thành
lập
Giai đoạn 1978- 1985 : đây là những năm đầu công ty mới được thành lập, là những
năm công ty vừa xây dựng , vừa sản xuất.
Giai đoạn 1986- 1995: giai đoạn mà nền kinh tế chuyển đổi, tư tưởng mới chưa hình
thành rõ nét, tư tưởng bao cấp còn bị chi phối nặng nề cộng với hàng loạt khó khăn cả về
vốn lẫn kỹ thuật nhưng nhờ biết vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, tích cực
học hỏi, tìm tòi, công ty đã chứng minh thực tế phát triển của mình phù hợp với xu thế
chung của đất nước.
Ngày 17/04/1996 đã kí quyết định số 472/QĐQP về việc thành lập công ty 26 trực
thuộc Tổng cụ hậu cần( cơ sở sát nhập xí nghiệp 26 và xí nghiệp 804).
Giai đoạn 1996- 2003 công ty tiếp tục củng cố, phát triển trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tháng 06/2007 công ty chính thức chuyển sang mô hình công ty cổ phần. Công ty cổ
phần 26 là doanh nghiệp cổ phần trực thuộc Tổng cục Hậu cần- bộ Quốc phòng.
Giai đoạn 2003- 2008 công ty đã đầu tư thêm được nhiều trang thiết bị mới, đáp ứng
yêu cầu phát triển sản xuất trong giai đoạn mới. Công ty đã hoàn thành xuất sắc các
nhiệm vụ khó khăn mà BQP giao cho. Nền kinh tế có nhiều biến động, đất nước hội
nhập sâu vào nền kinh tế chung, là những năm đầu công ty hoạt động theo mô hình công
ty cổ phần, công ty vẫn khẳng định được là một doanh nghiệp vững mạnh góp phần vào
thành tích chung của Ngành Hậu cần Quân đội.
huy sức mạnh tổng hợp của toàn thể các thành viên trong Công ty, nhằm hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
- Đảm bảo chăm lo đời sống cho CB, NV, NLĐ về vật chất cũng như tinh thân
theo đúng Luật Lao động , chế độ chính sách của Nhà nước, quy định của Quân
đội.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
- Thực hiện đầy đủ các khoản thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác theo quy định
Nhà nước và BQP.
- Bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn an ninh trật tự xã hội tại nơi công ty đóng
quân.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu,
kế hoạch tiếp nhận nguồn động viên quốc phòng. Tổ chức xây dựng đơn vị tự vệ;
kế hoạch chiến đấu bảo vệ đơn vị, phòng chống thiên tai, cháy nổ, sẵn sang nhận
và hoàn thành tốt các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất mà TCHC – BQP giao
cho.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
BAN KS
B. GIÁM ĐỐC
P. Tổ chức
Hành chính
P. Kỹ thuật
Công nghệ
P. K/hoạch
SXKD
P. Tài chính
sửa
chữa
Tổ
Ch/
bị
X.
Giầy
da
X.
Giầy
vải
Ban
TCSX
- Kỹ
thuật
Tổ
Hành
chính
Tổ
sửa
chữa
X.
Nội
địa
X.
Xuất
khẩu
Ban
nghiệp
vụ
Các đồng chí Phó TGĐ có trách nhiệm thường xuyên tổ chức thanh tra, tổng
hợp báo cáo tình hình về các vấn đề mình được phân công trước TGĐ công ty.
Trong trường hợp TGĐ công ty đi vắng, TGĐ sẽ chỉ định Phó TGĐ thay thế
để điều hành và giải quyết các công việc của công ty.
- Phòng KHSX-KD: là cơ quan tham mưu tổng hợp cho TGĐ công ty về mọi mặt
trong đó chịu trách nhiệm trực tiếp về các mặt: công tác kế hoạch hóa, tổ chức sản
xuất, quản lý vật tư- hàng hóa, tổ chức lao động- tiền lương, chính sách đối với
người lao động.
- Phòng Kỹ thuật- Công nghệ: Là cơ quan tham mưu cho TGĐ công ty công tác
nghiên cứu quản lý khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm.
Sinh viên thực hiện: Đào Thị Lĩnh Lớp: kế hoạch 48A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Đức Tuân
Nghiên cứu mẫu, chế thử sản phẩm mới, quản lý máy móc thiết bị, bồi dưỡng và đào
tạo công nhân kỹ thuật trong toàn công ty. Tổng hợp sáng kiến cải tiến áp dụng khoa
học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất trong toàn công ty. Tham mưu các biện pháp có
tính chất kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn lao
động, vệ sinh môi trường và một số lĩnh vực hoạt động khác.
- Phòng tài chính kế toán: là cơ quan tham mưu cho TGĐ công ty về các công tác
TC-KT, đảm bảo phản ánh kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong
toàn công ty, là cơ quan sử dụng chức năng giám đốc đồng tiền để kiểm tra giám sát
mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong công ty.
Kế toán trưởng là người do HĐQT bầu ra, giúp TGĐ công ty chỉ đạo về công
tác hạch toán, kế toán trong toàn công ty.
- Phòng tổ chức hành chính: là cơ quan tham mưu cho TGĐ về các mặt: tổ chức
lao động- tiền lương, chính sách đối với người lao động. Là cơ quan đảm nhiệm công
tác Đảng, công tác chính trị ở công ty. Cơ quan này thực hiện các mặt công tác quản
lý hành chính, văn thư bảo mật, bảo đảm an toàn trật tự nội vụ, công tác bảo đảm hậu
cần đời sống, công tác quản lý doanh trại đầu tư XDCB, quản lý phương tiện vận tải,
công tác phục vụ nơi làm việc của chỉ huy và khối cơ quan công ty.