LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh
tranh. Hoạt động lập kế hoạch trong doanh nghiệp tuy chỉ là một mắt xích
trong hệ thống kế hoạch hoá doanh nghiệp, nhưng hoạt động này chi phối
những hoạt động khác, quyết định đến chất lượng của hoạt động sản xuất.
Hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp kinh doanh nên cung vượt quá cầu, để
đảm bảo kinh doanh tốt phải chú ý đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ.Sảm
phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp càng được thị trường
chấp nhận; hoạt động sản xuất là hoạt động duy nhất tạo ra sản phẩm, có sản
xuất thì mới có sản phẩm (loại trừ những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực dịch vụ), hoạt động sản xuất có tốt thì mới kích thích được tiêu thụ; tiêu
thụ tạo ra doanh thu cho công ty, nhưng sản xuất lại tiêu tốn nguồn lực của
công ty, lợi nhuận thu được càng cao khi sản phẩm tiêu thụ càng nhiều, chi
phí sản xuất càng thấp. Như vậy họat động sản xuất là một trong những nhân
tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Công tác lập kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp quyết định đến chi
phí sản xuất, đến chất lượng sản phẩm, đến khả năng đáp ứng nhu cầu thị
trường của một doanh nghiệp. Do vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn
thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Châu” cho chuyên đề tốt nghiệp. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức
quan trọng; thứ nhất qua nghiên cứu thực trạng lập kế hoạch của công ty giúp
tôi hiểu biết thêm thực tế, đồng thời tôi có thể phần nào ứng dụng chuyên
ngành mình học vào thực tế; Thứ hai tìm hiểu thực tế công tác lập kế hoạch
tại công ty để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, những sai sót của công
ty làm bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời mạnh dạn đưa ra một số
giải pháp để khắc phục.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Lý thuyết chung về lập kế hoạch sản xuất của doanh
nghiệp
Chương II: Thực trạng công tác lập kế hoạch tại công ty cổ phần
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Kế hoạch hóa doanh nghiệp (DN) là phương thức quản lý DN theo mục
tiêu. Nó thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển phải đạt được
trong một khoảng thời gian nhất định của DN, những giải pháp, chính sách
nhằm đạt được mục tiêu đặt ra với hiệu quả cao nhất. Đồng thời tổ chức, thực
hiện và theo dõi, đánh giá kết quả. Hiểu theo một cách tổng quát nhất “Kế
hoạch hoá DN được hiểu là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng
một hình ảnh mong muốn của DN trong tương lai và quá trình tổ chức triển
khai thực hiện mong muốn đó”
2
Công tác kế hoạch hoá nói chung và kế hoạch hoá DN nói riêng đều bao
gồm các hoạt động: lập kế hoạch và công tác tổ chức thực hiện kế hoạch,
kiểm tra, điều chỉnh và đánh gía kế hoạch. Lập kế hoạch được coi là khâu giữ
vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kế hóa DN. Kết quả của hoạt động
soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch DN ra đời, bản kế hoạch này sẽ xác
định các mục tiêu, các chỉ tiêu mà DN muốn đạt được trong thời gian tới,
đồng thời đề xuất những chính sách cùng những giải pháp để đạt đựơc chúng.
Việc đưa ra các mục tiêu, các chỉ tiêu cùng những biện pháp đó không phải là
dựa trên tham vọng đơn thuần hay ý muốn sở thích của nhà quản lý hay cán
bộ lập kế hoạch, mà chúng được xây dựng dựa trên tiềm lực của công ty, điều
kiện thị trường và đối thủ cạnh tranh…Người cán bộ kế hoạch sẽ phải phân
tích một loạt những thông tin về môi trường bên trong ( tình hình tài chính
của DN, công nghệ DN đang nắm giữ so với đối thủ cạnh tranh ra sao, lực
lượng lao động của công ty ra sao…), thông tin về môi trường bên ngoài (tình
hình kinh tế trong nước và thế giới có xu hướng ảnh hưởng như thế nào tới
DN, đối thủ cạnh tranh đang hành động ra sao, môi trường văn hoá xã hội…).
Từ đó DN trả lời cho mình đựơc câu hỏi: mình đang đứng ở đâu; mình muốn
đi tới đâu và liệu có thể đạt đựơc mục tiêu không?; để đi tới đích thì nên chọn
con đường nào, con đường nào ngắn nhất, nhanh nhất và thuận lợi nhất;
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thành tựu kỹ thuật mới, hiệu quả kinh tế thấp… Điều này không có nghĩa là
kế hoạch hoá nói chung và kế hoạch hoá DN không còn có tác dụng trong nền
kinh tế thị trường. Kế hoạch hoá vẫn là cơ chế quản lý cần thiết hữu hiệu của
nhà nước, của các ngành, các bộ, của DN chỉ có điều hình thức và vai trò của
nó đã khác:
Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp tập trung sự chú ý của các hoạt động
trong DN vào các mục tiêu. Kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch trong cơ chế
thị trường vốn rất linh hoạt và thường xuyên biến động giúp các DN dự kiến
được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra để quyết định nên làm cái gì, làm
như thế nào, khi nào làm và ai làm để đạt được mục tiêu đã xây dựng.
Công tác kế hoạch hóa với việc ứng phó những bất định và đổi thay
của thị trường. Lập kế hoạch hoá trong DN là dự kiến những vấn đề của
tương lai, DN sẽ lường trước được các vấn đề, các tác động bên ngoài có thể
xảy ra trong thời gian tới (năm kế hoạch). Để ứng phó với những tác động đó,
DN đưa ra các quyết định nên làm như thế nào, các giải pháp dự phòng... Khi
xảy ra những điều bất thường và những tình huống đã dự báo trước, họ chỉ tập
trung vào giải quyết vấn để bất thường. Nhờ vậy DN xử lý một cách chủ
động, nhanh chóng và hiệu quả hơn những tác động bất thường đó.
Công tác kế hoạch hóa với việc tạo ra khả năng tác nghiệp kinh tế cao
trong DN. Kế hoạch hóa cho phép nhìn nhận logic các nội dung hoạt động có
liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản
phẩm, dịch vụ cuối cùng. Trên cơ sở đó, nhà quản lý thực hiện các phân công,
tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo trình tự, bảo đảm cho sản xuất
không bị rối loạn và ít tốn kém.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Như vậy kế hoạch hóa thay thế sự hoạt động manh mún, không được
phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng, thay thế luồng hoạt động thất thường
bởi một luồng đều đặn, thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết
định đã được cân nhắc kỹ lưỡng.
II. Kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
gia công bên ngoài.
- Sử dụng các yếu tố sản xuất: máy móc, nhà xưởng. Cần dùng những
loại loại máy móc, thiết bị nào, công suất bao nhiêu, lấy thiết bị từ nguồn nào,
cần nhà xưởng rộng bao nhiêu, bố trí như thế nào, kế hoạch khấu hao nhà
xưởng thiết bị… Thường thì việc xác định các yếu tố này được lập cho kế
hoạch sản xuất dài hạn. Kế hoạch sản xuất hàng năm xác định công suất của
hệ thống máy móc, thiết bị
- Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm. Nhu cầu sử dụng và tồn
kho nguyên vật liệu, chất lượng và số lượng nguyên vật liệu, nguyên vật liệu
thay thế là gì, phương thức cung cấp… Các yêu cầu đối với nguồn nhân lực:
số lượng lao động, trình độ tay nghề, giới tính, tuổi tác…
- Các kế hoạch thuê ngoài nếu cần thiết
Và những mục tiêu này được xác định trên cơ sở thỏa mãn các ràng buộc
về mặt kỹ thuật, các mục tiêu của DN, các nguồn lực của các bộ phận khác.
2. Vai trò kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
KHSX nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất. DN có thể sản
xuất nhiều loại sản phẩm (ví dụ công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu chủng
loại các mặt hàng rất đa dạng: bột canh, các loại kẹo, sôcôla, các loại bánh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xốp), cũng có thể chỉ sản xuất một loại sản phẩm nhưng để hoàn thiện sản
phẩm đó có thể còn phải trải qua nhiều công đoạn. Ví dụ, để sản xuất một
chiếc máy tính DN cần phải sản xuất hoặc thuê gia công bên ngoài sản xuất
các bộ phận: màn hình, cây, ổ đĩa, bàn phím, con chuột, và một số bộ phận
khác, trong mỗi bộ phận đó lại được cấu tạo bởi các linh kiện nhỏ hơn. Khi có
đủ các bộ phận, để được một chiếc máy hoàn chỉnh phải tiến hành công đoạn
lắp ráp, công đoạn này lại bao gồm nhiều công đoạn nhỏ hơn, mỗi công đoạn
lại yêu cầu trình độ tay nghề kỹ thuật nhất định. Do đó, một phân xưởng hay
một nhóm thợ không thể đảm nhiệm tất cả các công việc, các dây chuyền sản
xuất cũng chỉ sử dụng được với một số công đoạn sản xuất hay với từng loại
sản phẩm nhất định. Kế hoạch sản xuất sẽ xác định rõ từng loại mặt hàng,
3.Quy trình lập kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
Kế hoạch sản xuất giúp doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: “sản xuất bao
nhiêu”, “sản xuất cái gì”, “sản xuất ở đâu”, “khi nào thì sản xuất” dựa trên các
ràng buộc về nhân sự, về cung ứng, về nhu cầu, về khả năng lưu kho, luồng
tiền, ta sẽ có quy trình lập kế hoạch sản xuất được xây dựng như sau:
Đầu tiên, cán bộ kế hoạch xác định các căn cứ nhất định để lập kế hoạch
sản xuất. Xuất phát từ các căn cứ này để các cán bộ kế hoạch xây dựng các kế
hoạch bộ phận trong kế hoạch sản xuất chung. Một trong các căn cứ quan
trọng được xác định:
Chiến lược kinh doanh trong dài hạn
Phân tích tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩn trong năm trước, kỳ
trước
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Dự báo nhu cầu thị trường
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Cân đối quan hệ cung cầu
Sau khi xác định các căn cứ lập kế hoạch sản xuất, cán bộ kế hoạch bắt
tay vào lập kế hoạch sản xuất. Một bản kế hoạch sản xuất chung bao gồm các
kế hoạch bộ phận: kế hoạch năng lực sản xuất, kế hoạch sản xuất tổng thể, kế
hoạch chỉ đạo sản xuất, kế hoạch nhu cầu sản xuất, kế hoạch tiến độ sản xuất.
Trong mỗi kế hoạch bộ phận sẽ xây dựng các chỉ tiêu riêng, các chỉ tiêu này
được xây dựng dựa vào kế hoạch trước đó và các mối ràng buộc (ràng buộc
về mặt nhân sự, cung ứng, nhu cầu, khả năng lưu kho, luồng tiền).
Sơ đồ 1.1: Quy trình lập kế hoạch sản xuất
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
4. Nội dung và phương pháp cơ bản của một kế hoạch sản xuất
4.1 Kế hoạch năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp là một trong những căn cứ quan
trọng mà bất cứ một doanh nghiệp nào khi lập kế hoạch không thể bỏ qua.
Bởi năng lực sản xuất thay đổi hàng năm, sự thay đổi này do có sự thay đổi về
4.1.1 Xác định công suất
Công suất thiết kế là mức sản lượng sản xuất tối đa của một hệ thống sản
xuất trong một thời kỳ nhất định. Thường đối với các DN sản xuất, công suất
được đo trực tiếp bằng sản lượng tối đa trong một khoảng thời gian và họ
thường sử dụng các thiết bị của mình ở mức thấp hơn công suất lý thuyết để
các nguồn lực của DN không bị căng ra tới mức giới hạn. Do đó họ không sử
dụng công suất lý thuyết làm cơ sở cho việc hoạch định năng lực sản xuất
thay vào đó họ dùng “công suất thực tế”
Công suất thực tế là công suất mà DN mong muốn đạt được trong khuôn
khổ những điều kiện sản xuất hiện tại. Những điều kiện này bao gồm: cách bố
trí hệ thống, điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, nguồn nguyên vật liệu sử dụng,
phương pháp sản xuất, trình độ của người lao động...Công suất lý thuyết
thường thấp hơn công suất thực tế.
4.1.2 Dự báo nhu cầu sử dụng công suất
Chủ động dự báo trước mức độ sử dụng công suất của mình trong kỳ kế
hoạch cho phép DN chủ động trong việc tìm nguồn cung cấp nguyên vật liệu,
vật liệu, nguồn cung cấp năng lượng dự phòng phục vụ cho hoạt động sản
xuất.
Phương pháp xác định năng lực sản xuất
Trong phần này tôi chỉ xin đề cập đến phương pháp xác định năng lực sản
xuất đối với các DN sản xuất nhiều loại sản phẩm trên các dây chuyền khác
nhau. Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu sản xuất theo hình thức này (sản
xuất nhiều loại sản phẩm trên các dây chuyền khác nhau).
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đối với các DN sản xuất nhiều loại sản phẩm trên các dây chuyền khác
nhau ta có thể tính theo từng mặt hàng, sản phẩm hoặc có thể sử dụng
phương pháp tính năng lực sản xuất của một đơn vị máy móc, thiết bị.
Phương pháp này được thực hiện chủ yếu qua các bước sau:
Bước 1: Thu thập số liệu thống kê về năng suất giờ (hoặc năng suất ca
máy nếu không có số liệu thực tế về năng suất giờ máy) từ 1 đến 3 tháng sản
N
bq2
/8 (tấn/ giờ)
Cân đối năng lực sản xuất.
Sau khi xác định được năng suất của nhà máy, ta xem xét năng lực của
từng phân xưởng hoặc từng bộ phận trên dây truyền để xác định năng lực thừa
hay thiếu so với kế hoạch. Những công việc này được thực hiện thông qua các
bước:
Bước 1: Vẽ sơ đồ khối dây truyền sản xuất của nhà máy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bước 2: Xác định năng lực của các bộ phận hay phân xưởng trên dây
truyền theo bán thành phẩm
Bước 3: Tính đổi năng lực của các bộ phận hoặc phân xưởng ra sản
phẩm cuối cùng theo công thức
N
is
= N
i
/ a
is
Trong đó: N
is
là năng lực của bộ phận i tính theo sản phẩm cuối cùng S
N
i
là năng lực của bộ phận i tính theo bán thành phẩm
a
is
hệ số tiêu hao bán thành phẩm i cho 1 đơn vị sản phẩm
cuối cùng S
kiểm soát khác.
Có nhiều phương pháp để xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể, nhưng
thông thường DN hay sử dụng phương pháp đồ thị. Phương pháp này có
nhiều ưu điểm: dễ hiểu, dễ sử dụng, không yêu cầu cần có nhiều số liệu, sử
dụng ít biến số, cho phép so sánh được nhu cầu dự báo và công suất hiện tại.
Phương pháp này được tiến hành theo các bước sau
Xác định nhu cầu cho mỗi kỳ
Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội và thuê gia công cho mỗi kỳ
Xác định chi phí lao động, thuê gia công và chi phí lưu kho
Tính đến chính sách của DN với lao động hoặc mức lưu kho
Khảo sát các kế hoạch và ước lượng chi phí
Số lượng nhân công được tính theo công thức:
SL x D
T
Trong đó: SL là sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong một ngày
trong kỳ
D là định mức giờ công / sản phẩm
T là thời gian sản xuất trong một ngày
Mức sản xuất trung bình được xác định theo công thức:
NC
tb
=
SL
DK
T
Trong đó: NC
tb
mức sản xuất trung bình theo thời gian
SL
DK
T
có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường, vừa giảm được lượng tồn kho không
cần thiết và giảm sự phụ thuộc của mình vào bên ngoài.
Với 3 sự lựa chọn này, cán bộ lập kế hoạch phải xác định tổng chi phí
cho từng phương án, họ thường lựa chọn phương án nào có chi phí thấp nhất
kết hợp với đặc điểm sản xuất, thế mạnh của công ty mình. Với những công
ty sản xuất sản phẩm giá trị lớn, cồng kềnh, khối lượng lớn trên một dây
truyền sản xuất liên tục như: sản xuất xi măng, sản xuất than… thì không thể
chọn cách chỉ sản xuất ở mức thấp nhất còn lại thuê ngoài. Bởi khi đó, họ
phải đối mặt với rủi ro sản phẩm chất lượng kém làm mất uy tín trên thị
trường, thậm chí gây lỗ.
Sau khi đã so sánh giữa các phương án sản xuất trong những điều kiện
sản xuất nhất định, công ty phải chọn cho mình phương án sản xuất tối ưu
nhất để đưa vào kế hoạch sản xuất tổng thể.
4.3 Kế hoạch chỉ đạo sản xuất tìm phương pháp lập
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định chi tiết số lượng mỗi sản phẩm trong
một thời gian nhất định để đáp ứng nhu cầu của kế hoạch sản xuất tổng thể.
Kế hoạch sản xuất tổng thể lập dưới dạng tổng quát cho nhóm sản phẩm,
nó liên quan đến việc xác định những thông tin: cần hoàn thành bao nhiêu tấn
sản phẩm và khi nào phải hoàn thành, những thông tin này chỉ mang tính định
hướng. Bộ phân sản xuất chỉ biết là đến một thời điểm xác định t nào đó họ
phải hoàn thành được một khối lượng sản phẩm là bao nhiêu (một số A chẳng
hạn). Họ chưa thể định hình được cần sản xuất cụ thể những mặt hàng cụ thể
nào, số lượng từng mặt hàng đó, sản xuất theo lô hay đơn chiếc... Thông qua
kế hoạch chỉ đạo sản xuất, các phân xưởng (xí nghiệp) biết rõ được trong từng
quý, từng tháng phải hoàn thành bao nhêu sản phẩm, bao nhiêu bán thành
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phẩm, cho chúng ta biết cần chuẩn bị những gì để thoả mãn nhu cầu và đáp
ứng kế hoạch sản xuất tổng thể.
Như vậy kế hoạch chỉ đạo sản xuất là sự cụ thể hóa kế hoạch sản xuất
sản xuất... phục vụ cho hoạt động sản xuất.
Phương pháp rất hay được sử dụng trong công tác lập kế hoạch nhu cầu
sản xuất là phương pháp MRP (phương pháp tính nhu cầu phụ thuộc). Trước
tiên, phương pháp này đòi hỏi người làm kế hoạch phải xác định được nhu
cầu độc lập, nhu cầu phụ thuộc.
Nhu cầu độc lập là những nhu cầu về sản phẩm cuối cùng, các chi tiết,
phụ tùng, linh kiện... nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng (nhu cầu bên ngoài).
Nhu cầu này không phụ thuộc vào kế hoạch tính toán của DN mà phụ thuộc
vào khách hàng và thị trường.
Nhu cầu phụ thuộc là nhu cầu phát sinh từ nhu cầu độc lập. Điều đó có
nghĩa nhu cầu phụ thuộc được tính toán từ nhu cầu độc lập thông qua việc
phân tích sản phẩm thành các bộ phận, các cụm chi tiết, các cụm linh kiện, vật
tư, nguyên vật liệu. Một phương pháp phổ biến rất hay được sử dụng để tính
toán nhu cầu phụ thuộc là phương pháp MRP.
Phương pháp tính toán nhu cầu sản xuất MRP dựa theo định mức: để
sản xuất sản phẩm A, B, C trước hết cần phải xác định nhu cầu cấp I (bộ phận
A
1
), rồi xác định nhu cầu cấp II ( ví dụ cụm linh kiện D
i
), nhu cầu cấp III (linh
kiện rời F
1
)…Các cấp nhu cầu này được xác định thông qua việc phân tích kết
cấu sản phẩm.
Trình tự lắp ráp sản phẩm (A, B, C) được thể hiện theo sơ đồ:
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ trình tự lắp ráp sản phẩm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để phục vụ cho việc tính toán, các nhu cầu cấp I, cấp II, cấp III được
tổng hợp theo kiểu một ma trận. Đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ lập kế
Cụm linh
kiện (E
i
)
2
Nhu cầu sản
xuất trong tháng
(A, B, C)
(4)
Nhu cầu cấp III
(7)
(7) = (3) x (6)
Nhu cầu cấp II
(6)
(6) = (2) x (5)
Nhu cầu cấp I
(5)
(5) = (1) x (4)
ưu máy móc thiết bị, nhân công. Song nhược điểm lớn nhất của phương pháp
này khiến cho lượng tồn đọng sản phẩm lớn, làm tăng chi phí lưu kho
Phương pháp điều kiện muộn. Bắt đầu nhiệm vụ sản xuất muộn nhất khi
có thể (bằng cách lấy thời hạn đơn hàng trừ bù thời gian chu kỳ sản xuất).
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp trước nó
nhưng khi sử dụng phương pháp này cũng đem lại rủi ro lớn, nếu có tình
huống bất thường diễn ra gây chậm trễ ở khâu nào đó thì có thể sẽ không
hoàn thành sản phẩm đúng thời hạn.
Hai phương pháp trên, mức độ chính xác dựa vào số lượng của đơn
hàng, bản chất của công việc, mức độ phức tạp của công việc và bốn tiêu
chuẩn sau đây: giảm thiểu thời gian hoàn thành, tối đa mức sử dụng công
suất, giảm thiểu tồn kho sản phẩm dở, giảm thiểu thời gian chờ đợi của khách.
Nhìn vào sơ đồ ta có thể biết được tổng số thời gian cần thiết để hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất là 12 tháng, công việc B&D chỉ được thực hiện sau
khi A đã hoàn thành, C chỉ được thực hiện sau khi B&D hoàn thành. Và để
rút ngắn thời gian hoạt động, thì ta nên rút ngắn thời gian hoàn thành các công
việc A, D, và C, rút ngắn thời gian công việc B không có tác dụng rút ngắn
thời gian hoàn thành công việc vì C chỉ được thực hiện sau khi B&D (B&D
được bắt tay vào làm sau khi A kết thúc) hoàn thành, mà thời gian để hoàn
thành công việc D nhiều hơn thời gian hoàn thành công việc B.
Vấn đề “Sản xuất cái gì?”, “sản xuất bao nhiêu?” phải xuất phát từ vấn
đề “Sản xuất cho ai?”, từ nhu cầu thị trường, trong khi nhu cầu về các sản
phẩm trong nền kinh tế thị trường luôn luôn biến đổi. Do đó doanh nghiệp
phải có một kế hoạch chính xác, chặt chẽ và khoa học để có thể ứng phó được
với mọi biến đổi bất thường, đáp ứng được nhu cầu thị trường bất cứ khi nào.
Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp sản xuất với khối lượng lớn, giá trị
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cao…trên một dây truyền sản xuất liên tục thì việc xác định khi nào sẽ sản
xuất, sản xuất bao nhiêu liên quan chặt chẽ tới kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hiện nay, việc lập kế hoạch sản xuất tại đa số các doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Việt Nam, trong đó có công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu vẫn còn
nhiều hạn chế. Do đó, hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất là vấn đề vô
cùng cần thiết mà tất cả các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần bánh
kẹo Hải Châu nói riêng cần thực sự quan tâm trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay.
III. Đặc điểm của ngành sản xuất bánh kẹo và ảnh hưởng của nó tới kế
hoạch sản xuất
1. Đặc điểm của ngành bánh kẹo
Thứ nhất, trên thị trường bánh kẹo sản phẩm cực kỳ nhạy cảm về giá,
nếu chất lượng sản phẩm tương đương nhau nhưng chỉ cần một sự chênh lệch
nhỏ về giá cũng làm thay đổi cơ cấu thị phần của công ty, công ty nào có gía
dụng điều kiện sản xuất sớm để chiếm ưu thế trên thị trường.
Bảng 1.2: Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo mùa năm 2005 – 2006
Mùa
Sản lượng tiêu thụ
Tháng 2005 % 2006 %
Mùa lạnh
1 102534 17,7 112398 17,61
2 592234 10,2 68144 10,68
3 415346 7,2 432212 6,77
Mùa nóng
4 424255 7,3 549541 8,61
5 392532 6,8 465246 7,29
6 31724 5,5 32035 5,02
7 396512 6,9 405375 6,35
8 383257 6,6 421582 6,6
9 327153 5,7 339167 5,31
Mùa lạnh
10 315456 5,5 358462 5,62
11 483267 8,3 490125 7,68
12 715364 12,4 795735 12,46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368